Ba người đàn ông đeo ba lô dã chiến, mang theo súng trường và súng ngắn ngày 7/4 tới khu vực Besiktas của thành phố Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, nơi có mật độ dân cư cao và tập trung nhiều doanh nghiệp quốc tế. Khu vực này còn có lãnh sự quán Israel trên tầng 7 của một tòa nhà trong khu phức hợp Yapi Kredi Plaza ở phố Buyukdere.
Video do nhân chứng ghi lại cho thấy nhóm người này sau khi xuống xe đã lên đạn, tiến nhanh về phía tòa nhà nơi có lãnh sự quán Israel và được đông đảo cảnh sát vũ trang Thổ Nhĩ Kỳ bảo vệ. Các cảnh sát nhanh chóng phát hiện nhóm nghi phạm và cuộc đấu súng nổ ra.
Hình ảnh được người dân gần đó quay cho thấy một cảnh sát mang súng lục đối đầu với nghi phạm trang bị súng trường tự động cùng súng ngắn. Hai người đứng ở hai đầu một dãy ôtô, liên tục thay đổi vị trí ẩn nấp và khai hỏa.
Viên cảnh sát sau đó nằm rạp xuống đất, ngắn qua gầm ôtô, bắn vào chân của nghi phạm, khiến người này không thể di chuyển bình thường. Loạt tiếng súng vang lên, nghi phạm trúng đạn đổ gục xuống đất. Hai nghi phạm tiếp theo lần lượt bị cảnh sát bắn hạ trong khoảng 15-20 phút sau đó.
Bộ trưởng Nội vụ Thổ Nhĩ Kỳ Mustafa Ciftci cho biết ba “kẻ khủng bố” đã bị vô hiệu hóa sau cuộc đấu súng, hai sĩ quan cảnh sát bị thương nhẹ. Nhóm tay súng được xác định tìm cách tấn công lực lượng cảnh sát gần đó.
Ông Ciftci cho hay nhóm nghi phạm đã thuê xe đi từ thành phố Izmit đến Istanbul để gây án, thêm rằng một nghi phạm có liên hệ với “một tổ chức lợi dụng tôn giáo”, nhưng không nêu cụ thể, dường như ám chỉ tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng.
Các điều tra viên chưa đưa ra thông cáo về động cơ của nhóm tay súng có thể là lãnh sự quán Israel hay không. Theo thông tin từ hiện trường, không có nhà ngoại giao Israel làm việc trong tòa nhà ở Besiktas và phần lớn nhân viên tại các cơ quan ngoại giao Israel tại Thổ Nhĩ Kỳ là người địa phương.
Cả Israel và Thổ Nhĩ Kỳ đều nhanh chóng lên án sự việc và coi đây là một vụ tấn công khủng bố. Bộ Ngoại giao Israel đánh giá cao phản ứng nhanh của lực lượng an ninh Thổ Nhĩ Kỳ.
Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan gọi đây là “vụ tấn công hèn hạ”, đồng thời cho biết nước này sẽ tiếp tục chống lại mọi hình thức khủng bố và không để các hành động khiêu khích làm tổn hại môi trường an ninh.
"Một khi chiến dịch phong tỏa các cảng vẫn diễn ra, eo biển Hormuz sẽ không còn mở cửa nữa", Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf tuyên bố hôm nay, thêm rằng hoạt động đi lại qua tuyến đường biển này sẽ phụ thuộc vào sự cho phép từ Tehran.
Ông Ghalibaf thêm rằng eo biển Hormuz mở hay đóng, cũng như các quy định liên quan, sẽ "được quyết định trên thực địa chứ không phải mạng xã hội".
Chủ tịch Quốc hội Iran cũng chỉ trích Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đưa ra "7 tuyên bố trong vòng một giờ và tất cả đều sai sự thật", nhưng không nêu cụ thể đó là những phát biểu nào. "Họ đã không thắng được cuộc chiến bằng những lời dối trá này và chắc chắn cũng sẽ không đạt được gì trong các cuộc đàm phán", ông nói.
Tổng thống Trump trước đó nói rằng lệnh phong tỏa các cảng biển Iran do Mỹ thực hiện sẽ chấm dứt một khi "thỏa thuận được ký kết". Ông cũng bày tỏ tin tưởng rằng hai bên sắp đạt được thỏa thuận.
Ngoại trưởng Abbas Araghchi ngày 17/4 thông báo Iran sẽ "mở hoàn toàn" eo biển Hormuz để hưởng ứng lệnh ngừng bắn 10 ngày giữa Israel và nhóm Hezbollah ở Lebanon. Ông khuyến cáo tàu thuyền di chuyển theo lộ trình mà Cục Cảng biển và Hàng hải Iran công bố. Đây là lộ trình thay thế cho tàu thuyền để giúp tránh nguy cơ trúng thủy lôi tại luồng chính của tuyến hàng hải này.
Tổng thống Mỹ đã hoan nghênh động thái của Iran, nhưng khẳng định lệnh phong tỏa các cảng Iran vẫn còn hiệu lực cho đến khi thỏa thuận hai nước "hoàn thành 100%". Ông còn nói rằng Iran đã đồng ý sẽ "không bao giờ đóng cửa eo biển Hormuz nữa".
Eo biển Hormuz là huyết mạch lưu thông của khoảng 20% nguồn cung dầu khí, cùng với 1/3 nguyên liệu sản xuất phân bón cho ngành nông nghiệp toàn cầu. Sau khi Mỹ và Israel phát động chiến dịch tấn công Iran hôm 28/2, Tehran đã gần như phong tỏa hoàn toàn eo biển, khiến giá năng lượng toàn cầu tăng vọt.
Reuters và AP ngày 13/4 dẫn nguồn quan chức, nhà ngoại giao Mỹ, cho biết phái đoàn nước này và Iran có thể "tiến tới vòng đàm phán thứ hai" trong ngày 16/4. Theo nguồn tin, dù các cuộc đàm phán lần đầu tại Islamabad, Pakistan đã kết thúc mà không đạt được thỏa thuận, phía Mỹ và Iran vẫn đang làm việc với nhau.
Hai quan chức Pakistan cùng ngày cũng cho biết nước này đã đề xuất tổ chức vòng đàm phán thứ hai giữa Mỹ và Iran trong những ngày tới, trước khi lệnh ngừng bắn hai tuần kết thúc. Thỏa thuận hiện tại có hiệu lực từ ngày 8/4.
Một quan chức Mỹ cho biết Geneva cũng có thể được lựa chọn làm nơi tổ chức đàm phán.
Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian ngày 12/4 nói rằng sẵn sàng chấp nhận "một thỏa thuận cân bằng và công bằng" nhằm đảm bảo hòa bình cũng như an ninh lâu dài trên toàn khu vực.
Ông nói trở ngại chủ chốt hiện nay trong nỗ lực đàm phán là "tiêu chuẩn kép" từ phía Mỹ, đồng thời nhấn mạnh một thỏa thuận chỉ có thể đạt được nếu Washington "tuân thủ các khuôn khổ pháp lý quốc tế".
Phó tổng thống Mỹ JD Vance trong khi đó tuyên bố rằng việc có tiếp tục đàm phán trực tiếp hay không là tùy thuộc vào Iran.
"Chúng ta cần họ cam kết dứt khoát không phát triển vũ khí hạt nhân. Nếu Iran sẵn sàng đáp ứng yêu cầu đó, đây có thể là một thỏa thuận rất tốt cho cả hai nước. Nếu họ không sẵn sàng đáp ứng, mọi chuyện tùy ở họ", ông Vance nói.
Phó tổng thống Mỹ cho biết trong cuộc thảo luận cuối tuần trước ở Pakistan, Washington và Tehran đã có cuộc trao đổi tích cực. Mỹ đã nêu rõ những điều khoản nào với họ là bắt buộc, cũng như những điểm có thể nhượng bộ hay linh hoạt.
Ông thêm rằng phái đoàn Mỹ rời bàn đàm phán sau khi xác định rằng các đại diện từ Iran không có đủ thẩm quyền để chốt một thỏa thuận mà cần quay về Tehran xin ý kiến từ cấp cao hơn.
Mỹ và Iran đã đàm phán khoảng 21 giờ tại thủ đô Islamabad của Pakistan, với sự tham gia của nước chủ nhà. Dẫn đầu phía Mỹ là Phó tổng thống Vance, còn trưởng phái đoàn đàm phán của Iran là Chủ tịch Quốc hội Mohammad Bagher Ghalibaf. Hai bên cuối cùng không đạt được đồng thuận về các vấn đề then chốt, trong đó có quyền kiểm soát eo biển Hormuz và việc Iran có được tiếp tục làm giàu uranium hay không.
Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Hà Nội. Trước Việt Nam, Qatar là nước đầu tiên phê chuẩn.
Theo Bộ Ngoại giao, việc nhanh chóng phê chuẩn Công ước thể hiện cam kết mạnh mẽ và nhất quán của Việt Nam trong việc đề cao luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc và chủ nghĩa đa phương. Với tư cách thành viên chính thức, Việt Nam có thể đóng góp thực chất hơn vào tiến trình xây dựng và phát triển khuôn khổ pháp lý quốc tế trên không gian mạng.
Công ước Hà Nội là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng để Việt Nam tăng cường hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm mạng, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Đây cũng là động lực quan trọng cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, bảo đảm sự tương thích với các tiêu chuẩn và nghĩa vụ quốc tế, đồng thời nâng cao năng lực thể chế, kỹ thuật và nguồn nhân lực trong phòng, chống tội phạm mạng.
Việc một công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc lần đầu được đặt tên theo một địa danh của Việt Nam là dấu mốc lịch sử trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước, cho thấy năng lực và vị thế của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.
Công ước Hà Nội được mở ký lần đầu tiên tại Hà Nội vào tháng 10/2025 và đến nay đã có 75 quốc gia ký kết. Công ước sẽ có hiệu lực sau khi có 40 nước trở thành thành viên.
Công ước gồm 9 Chương, 68 điều khoản, thiết lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện về hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm mạng.
Công ước có nhiều nội dung quan trọng như: xác định các hành vi được coi là tội phạm mạng, từ truy cập bất hợp pháp, can thiệp hệ thống đến lạm dụng trẻ em trực tuyến, rửa tiền có được từ các hoạt động phạm tội; xác định thẩm quyền và các biện pháp điều tra, cho phép các nước có thể thu thập chứng cứ và truy tố hiệu quả các vụ án liên quan đến tội phạm mạng; các biện pháp thủ tục và thực thi pháp luật; hợp tác quốc tế trong điều tra, truy tố các đối tượng phạm tội mạng; các biện pháp phòng ngừa, trong đó nhấn mạnh việc xây dựng năng lực và nâng cao nhận thức về an ninh mạng; hỗ trợ kỹ thuật và trao đổi thông tin.