Ngày 13/4, đại diện CDC Cà Mau cũng xác nhận trường hợp nghi ngờ thứ ba có kết quả xét nghiệm âm tính với não mô cầu.
Bệnh nhân dương tính đầu tiên vào Bệnh viện Đa khoa Cà Mau chiều 7/4 trong tình trạng lơ mơ, nôn nhiều, cổ gượng và xuất huyết dưới da. Bác sĩ chẩn đoán người này sốt chưa rõ nguyên nhân, theo dõi viêm não – màng não kèm sốc nhiễm khuẩn, đang tiếp tục điều trị.
Tối 8/4, ca dương tính thứ hai nhập viện với biểu hiện sốt cao, lơ mơ, thở nhanh rồi nhanh chóng rơi vào hôn mê sâu. Người bệnh mang nhiều bệnh lý nền, trải qua cơn sốc nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và không qua khỏi sáng hôm sau.
Bệnh nhân có kết quả âm tính vào viện ngày 9/4 sau nhiều ngày sốt cao, ho, đau cơ, tụt huyết áp, tràn dịch màng phổi và xuất huyết dưới da. Tuyến y tế cơ sở ban đầu chẩn đoán người bệnh nhiễm trùng huyết, sốt xuất huyết Dengue, viêm phổi nên tiếp tục theo dõi sát sao. Như vậy, ca này được loại trừ bệnh não mô cầu.
Điều tra dịch tễ cho thấy ba người trên cùng trú tại ấp 6, xã Khánh An, từng tiếp xúc với một ca tử vong hồi giữa tháng 3. Bệnh nhân tử vong này cũng có biểu hiện sốt cao, xuất huyết dưới da, tụt huyết áp nhưng bác sĩ chưa kịp lấy mẫu xét nghiệm não mô cầu.
Ngành y tế tỉnh ngay lập tức điều tra dịch tễ, khoanh vùng và xử lý ổ dịch. Lực lượng chức năng yêu cầu những người tiếp xúc gần theo dõi sức khỏe trong 10 ngày, đồng thời khử khuẩn môi trường khu vực có yếu tố dịch tễ. Hiện địa phương chưa ghi nhận thêm ca mắc mới.
Hai ca não mô cầu tại Cà Mau trong số 24 người mắc bệnh này, 4 ca tử vong, tính từ đầu năm đến nay trên cả nước. Bộ Y tế ghi nhận số ca não mô cầu đang cao bất thường so với cùng kỳ năm ngoái (nhiều hơn 14 ca), cảnh báo nguy cơ dịch và khuyến cáo người dân áp dụng các biện pháp phòng bệnh.
Vi khuẩn não mô cầu gây bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, tiến triển rất nhanh. Bệnh nhân đối mặt nguy cơ tử vong cao hoặc chịu nhiều di chứng nặng nề nếu bác sĩ không phát hiện và can thiệp kịp thời. Bệnh xuất hiện quanh năm tại Việt Nam, thường gia tăng vào các mùa thu, đông và xuân.
Phòng bệnh bằng cách giữ vệ sinh cá nhân và môi trường, đeo khẩu trang. Khi có các dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh như sốt cao, đau đầu, buồn nôn, cổ cứng, nổi ban xuất huyết, cần đến cơ sở y tế điều trị kịp thời.
Do đó, người mắc tiểu đường không chỉ cần kiểm tra đường huyết mà còn cả chức năng thận định kỳ. Tần suất kiểm tra không cố định mà điều chỉnh theo từng người, dựa trên nguy cơ và kết quả xét nghiệm trước đó, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Đối với người tiểu đường chưa có dấu hiệu tổn thương thận, khuyến nghị chung là nên kiểm tra thận ít nhất 1 lần/năm. Cụ thể, với tiểu đường loại 2, kiểm tra nên bắt đầu ngay từ khi được chẩn đoán. Còn với tiểu đường loại 1, thường bắt đầu kiểm tra sau khoảng 5 năm mắc bệnh.
Nếu kết quả xét nghiệm bình thường và các yếu tố nguy cơ được kiểm soát tốt, kiểm tra hằng năm là đủ. Tuy nhiên, nếu người bệnh có huyết áp cao, kiểm soát đường huyết kém hoặc đã mắc bệnh lâu năm, bác sĩ có thể chỉ định kiểm tra thường xuyên hơn.
Trong trường hợp đã xuất hiện dấu hiệu tổn thương thận, tần suất kiểm tra cần tăng lên để theo dõi sát tiến triển của bệnh. Nếu tổn thương mức độ nhẹ, chẳng hạn khi bắt đầu có albumin trong nước tiểu, người bệnh thường cần kiểm tra thận khoảng 2 lần/năm. Mục tiêu là theo dõi xem tình trạng có ổn định hay đang tiến triển.
Nếu bệnh nặng hơn, tức là vừa có albumin niệu vừa có suy giảm chức năng lọc rõ rệt, tần suất có thể tăng lên 3 - 4 lần/năm. Trong những trường hợp nguy cơ cao hoặc bệnh tiến triển nhanh, bác sĩ có thể yêu cầu kiểm tra 1 - 3 tháng/lần.
Ngoài ra, một điều quan trọng là không nên kết luận bệnh thận chỉ dựa trên 1 lần xét nghiệm bất thường. Một số yếu tố tạm thời như nhiễm trùng, mất nước hoặc vận động mạnh cũng có thể làm kết quả sai lệch.
Vì vậy, nếu phát hiện albumin trong nước tiểu, bác sĩ thường yêu cầu xét nghiệm lại 2 - 3 lần trong vòng vài tháng để xác nhận. Cách tiếp cận này giúp tránh chẩn đoán sai và đảm bảo quyết định điều trị được đưa ra dựa trên dữ liệu chính xác.
Kiểm tra thận định kỳ quan trọng vì nếu không phát hiện kịp thời, tổn thương thận có thể tiến triển âm thầm đến giai đoạn nặng. Khi đó, điều trị trở nên khó khăn hơn và có thể phải phụ thuộc vào lọc máu. Ngoài ra, bệnh thận do tiểu đường còn làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và tử vong, theo Medical News Today.
Tiến sĩ Aravind Badiger, Giám đốc kỹ thuật của Công ty Dược Phẩm BDR Pharmaceuticals (Ấn Độ), cho biết: Trái cây có thể được xem là một lựa chọn tuyệt vời để duy trì sức khỏe tốt, vì nó chứa nhiều chất dinh dưỡng, bao gồm cả chất chống oxy hóa. Nhưng nước ép của chúng có thể gây tác động đáng lo ngại đến việc điều chỉnh lượng đường trong máu.
Nghiên cứu quy mô lớn tại Mỹ, kéo dài hơn 20 năm, được công bố trên các tạp chí y khoa JAMA Pediatrics, The Journal of Nutrition và The Lancet, đã khẳng định thói quen uống nước ép thay vì ăn trái cây nguyên quả từ nhỏ có thể để lại hệ lụy sức khỏe lâu dài cho trẻ em khi trưởng thành.
Nghiên cứu do các nhà khoa học tại Đại học Y Harvard (Mỹ), dẫn đầu, bao gồm 2.128 phụ nữ mang thai và hơn 1.000 trẻ em được sinh ra từ các bà mẹ này. Các đối tượng được theo dõi từ khi còn trong bụng mẹ, qua các giai đoạn sơ sinh, nhi đồng và cho đến độ tuổi thanh thiếu niên (17 - 20 tuổi).
Kết quả đã phát hiện: Tiêu thụ thường xuyên nước ép trái cây và đồ uống có đường trong suốt thời thơ ấu làm tăng nguy cơ tiểu đường ở tuổi thiếu niên.
Cụ thể, mỗi khẩu phần đồ uống có đường hằng ngày trong thời thơ ấu làm tăng 34% tình trạng kháng insulin. Đồng thời, tăng đường huyết lúc đói lên 5,6 mg/dL lượng và tăng chỉ số đường huyết trung bình HbA1c lên 0,12% ở giai đoạn cuối tuổi vị thành niên, theo tờ Times Of India.
Một nghiên cứu khác cho thấy rằng việc thay thế nước ép trái cây bằng 3 phần trái cây nguyên quả mỗi tuần sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường đến 7%.
Tiến sĩ Aravind Badiger giải thích: Mối lo ngại thực sự không phải là bản thân nước ép, mà là thiếu chất xơ. Trong nước ép trái cây, hầu hết chất xơ của trái cây đã bị loại bỏ. Chất xơ rất cần thiết để làm chậm quá trình hấp thụ đường vào máu. Không có chất xơ, đường trong nước ép trái cây được hấp thụ nhanh chóng, do đó lượng đường trong máu tăng lên nhanh hơn.
Việc thiếu chất xơ và việc dễ dàng tiêu thụ nhiều nước ép trái cây gây ra tải lượng đường huyết cao, ảnh hưởng trực tiếp hơn đến lượng đường trong máu. Đây là lý do tại sao các nhà nghiên cứu thường khuyên nên ăn trái cây nguyên quả thay vì uống nước ép, theo Times Of India.
Những người mắc tiểu đường, tiền tiểu đường hoặc các rối loạn chuyển hóa như kháng insulin cần đặc biệt thận trọng trong việc kiểm soát chế độ ăn uống. Ở nhóm này, tình trạng đường huyết tăng cao kéo dài có thể gây nhiều tác động bất lợi đến sức khỏe.
Ngày 7-4, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội chia sẻ vừa mổ lấy thai thành công cho sản phụ 56 tuổi mang song thai.
Ở tuổi 56, khi nhiều người đã an yên bên con cháu, bà T.O. (Hà Nội) lại bắt đầu hành trình làm mẹ thêm một lần nữa.
Trực tiếp theo dõi thai kỳ cho sản phụ, bác sĩ Hà Cẩm Thương, Phó khoa sản khoa tự nguyện, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, cho hay sản phụ mang song thai nhờ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) có tiền sử mổ đẻ cũ và mắc đái tháo đường thai kỳ, phải theo chỉ định của bác sĩ dùng thuốc insulin hằng ngày.
Quá trình mang thai, từng chỉ số đều được kiểm soát, từng nỗi lo đều được lắng nghe, để niềm tin dần lớn lên theo từng nhịp phát triển của hai con.
Chiều 6-4, khi thai kỳ bước sang tuần 38, sản phụ chuyển dạ và được chỉ định nhập viện mổ lấy thai.
Dù ca mổ tiềm ẩn nhiều nguy cơ, đặc biệt khó khăn trong gây tê, nhưng với kinh nghiệm và sự phối hợp nhịp nhàng, ê kíp đã đón hai bé chào đời an toàn.
Một bé trai 2,9kg, một bé gái 2,4kg, đều khỏe mạnh, phản xạ tốt. Sau ca mổ, sức khỏe sản phụ ổn định, hai bé được chăm sóc chu đáo.
Các bác sĩ khuyến cáo mang thai ở tuổi trên 50 có thể đối mặt với nhiều rủi ro cho cả mẹ và bé. Tuy nhiên việc sinh con và làm mẹ là quyền và thiên chức của mỗi người phụ nữ.
Do đó nếu bản thân mang thai khi đã lớn tuổi, người phụ nữ cần được chăm sóc tốt hơn, cần có được thông tin cụ thể về những biến chứng thường gặp khi mang thai để phòng tránh và giải quyết những rủi ro gặp phải.
Đồng thời phải theo dõi, quản lý thai chặt chẽ tại cơ sở y tế chuyên khoa có đội ngũ bác sĩ có kinh nghiệm để đảm an toàn cho cả mẹ và con.