Tại thời điểm điều chỉnh giá mới nhất vào 11 giờ 01, giá mỗi lượng vàng miếng SJC được Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết mua vào và bán ra ở mức 172 – 175,5 triệu đồng, giảm 2 triệu đồng chiều mua vào và 1,5 triệu đồng chiều bán ra so với giá đầu giờ sáng.
Tuy nhiên, so với giá chốt ngày 7.4, giá mỗi lượng vàng miếng SJC hiện vẫn cao hơn lần lượt là 2,5 – 3 triệu đồng.
So với mức giá cao nhất từ đầu tháng 3 tới nay được ghi nhận vào ngày 2.3 (mua vào 187,9 triệu đồng/lượng và bán ra 190,9 triệu đồng/lượng), giá mua bán mỗi lượng vàng miếng SJC đã giảm 15,9 – 15,4 triệu đồng.
Thị trường bạc lại diễn biến trái chiều thị trường vàng, khi giá bạc tiếp tục tăng. Lúc 11 giờ 10, Công ty cổ phần kim loại quý Ancarat Việt Nam niêm yết giá mua vào và bán ra bạc 1 kg là 76,4 – 78,773 triệu đồng, tăng gần 400.000 đồng so với đầu giờ sáng nay; tăng 4,24 – 4,37 triệu đồng so với chốt ngày 7.4.
Tại thời điểm 11 giờ 02, Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý niêm yết mua vào và bán ra bạc 1 kg là 76,559 – 78,993 triệu đồng, tăng khoảng 300.000 đồng so với đầu giờ sáng nay; tăng 4,37 – 4,56 triệu đồng so với chốt ngày hôm qua.
Từ tháng 3 tới nay, giá bạc ghi nhận cao nhất ngày 2.3 với mức bán ra gần 99 triệu đồng/kg. So với vùng giá trên, hiện giá mỗi kg bạc đã giảm gần 20 triệu đồng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay tại thời điểm 11 giờ 34 (giờ Việt Nam) hôm nay ở mức 4.802,3 USD/ounce, tăng 97,1 USD/ounce (tương đương 2,06%); giá bạc giao ngay ở mức 76,5 USD/ounce, tăng 3,63 USD/ounce (tương đương 4,99%) so với giá chốt phiên hôm qua.
Trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, ông Vũ Khánh Toàn - một hộ kinh doanh gửi câu hỏi nêu: hộ kinh doanh đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu từ tháng 7.2025. Trong năm 2025, doanh thu của hộ kinh doanh vượt 3 tỉ đồng. Tuy nhiên, sang năm 2026, hộ ước tính doanh thu sẽ dưới 3 tỉ đồng. Vậy hộ kinh doanh có thể tiếp tục được áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ % trên doanh thu hay bắt buộc phải chuyển sang phương pháp tính theo thu nhập tính thuế (doanh thu trừ chi phí) nhân (x) thuế suất?
Trả lời vấn đề này, Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai cho biết căn cứ vào một số quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, trong đó gồm Điều 2 về thuế giá trị gia tăng; Điều 4 về thuế thu nhập cá nhân; Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế áp dụng đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 7 luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 3 tỉ đồng hoặc có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thì thực hiện ổn định phương pháp tính thuế trong 2 năm liên tục kể từ năm đầu tiên áp dụng. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế, nếu hết năm xác định doanh thu thực tế năm trên 3 tỉ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất...
Căn cứ quy định nêu trên và trình bày của hộ kinh doanh, Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai cho rằng, trường hợp hộ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán hoặc phương pháp kê khai trong năm 2025 có mức doanh thu trên 500 triệu đồng thì thực hiện kê khai, nộp thuế của năm 2026 theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Nếu hộ kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm 2026 từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng thì được lựa chọn áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP. Hộ kinh doanh khai, nộp thuế thu nhập cá nhân theo quý cùng thời hạn khai, nộp thuế giá trị gia tăng; Trường hợp hết năm 2026 hộ kinh doanh xác định doanh thu thực tế năm 2026 trên 3 tỈ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất quy định tại điểm d khoản 5 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) giảm lãi suất huy động 0,5%/năm kể từ ngày 13.4. Cụ thể, lãi suất đối với kỳ hạn có lãi suất huy động cao nhất (kỳ hạn 24 tháng) được điều chỉnh giảm 0,5%/năm xuống mức 6%/năm; các kỳ hạn khác sẽ được tiếp tục rà soát để điều chỉnh phù hợp. Với điều chỉnh này, lãi suất huy động tại tất cả các kỳ hạn của Vietcombank đều không vượt quá mức 6%/năm. Theo Vietcombank, giảm lãi suất huy động sẽ giúp các ngân hàng từng bước tối ưu chi phí vốn đầu vào, gia tăng dư địa cho việc giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ cá nhân và doanh nghiệp phát triển sản xuất - kinh doanh.
Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) giảm lãi suất huy động với mức giảm từ 0,3% đến 0,5% bắt đầu từ ngày 11.4 tùy theo kỳ hạn. Theo đó, lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng giảm 0,3%/năm, còn 6,45 - 6,65%/năm; kỳ hạn từ 15 tháng đến 36 tháng giảm mạnh 0,5%/năm, còn 6,45%/năm.
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) giảm lãi suất ở nhiều kỳ hạn 6 - 36 tháng với mức giảm từ 0,3 - 0,5%/năm. Cụ thể, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 - 9 tháng giảm 0,5%/năm, xuống còn 6,1%/năm; kỳ hạn 10 - 24 tháng giảm 0,3%/năm, còn 6,3%/năm. Riêng kỳ hạn 36 tháng được điều chỉnh giảm 0,5%/năm, xuống mức 5,6%/năm kể từ hôm nay.
Động thái giảm lãi suất của các ngân hàng sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chiều 9.4. Theo định hướng của NHNN, các ngân hàng thương mại đồng thuận cao việc giảm mặt bằng lãi suất huy động nhằm tạo dư địa hạ chi phí vốn cho vay cho nền kinh tế, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp và người dân.
Trước đây, các dòng xe thi sát hạch chủ yếu là xe xăng (số sàn hoặc số tự động). Theo quy định mới, xe sát hạch hạng A1, A sử dụng loại ly hợp điều khiển tự động hoặc loại ly hợp điều khiển bằng tay; xe sát hạch hạng B sử dụng loại chuyển số tự động (bao gồm cả ô tô điện) hoặc chuyển số cơ khí (số sàn); xe sát hạch hạng C1, C, D1, D2, D, BE, C1E, CE, D1E, D2E và DE sử dụng loại chuyển số cơ khí (số sàn).
Việc dùng xe điện đi thi được đánh giá có thể giúp thí sinh "dễ thở" hơn ở một số bài thi sa hình nhờ loại bỏ hoàn toàn rủi ro bị trừ điểm do chết máy giữa bài thi. Cùng với đó, động cơ điện có độ vọt tức thời nhưng lại cực kỳ êm ái, giúp người lái dễ kiểm soát tốc độ chậm khi qua các bài "Vệt bánh xe" hay "Đường vòng quanh co".
Nhiều dòng xe điện hiện nay có hệ thống camera và cảm biến rất sắc nét, hỗ trợ tốt hơn cho việc căn chỉnh vị trí.
Bên cạnh đổi mới về phương tiện, Nghị định 94 cũng yêu cầu các cơ sở đào tạo và trung tâm sát hạch lái ô tô phải trang bị hệ thống định danh và xác thực điện tử, trong đó có thiết bị nhận diện khuôn mặt học viên.
Cụ thể, cơ sở đào tạo lái ô tô phải có hệ thống thiết bị và phần mềm định danh, xác thực điện tử, kết nối qua API với các nền tảng số quốc gia, nhằm bảo đảm việc nhận diện, xác thực và cung cấp giấy tờ điện tử của học viên từ khi đăng ký đào tạo đến khi đăng ký sát hạch.
Đối với trung tâm sát hạch, yêu cầu phải triển khai hệ thống định danh và xác thực điện tử tương tự, bảo đảm nhận diện và xác thực học viên khi tham dự kỳ sát hạch, hoàn thành trước ngày 1.1.2027.
Theo Cục Đường bộ Việt Nam, hiện nay thủ tục đăng ký học và thi sát hạch vẫn sử dụng nhiều loại giấy tờ, dễ xảy ra sai sót khi kê khai. Quy định mới nhằm bảo đảm việc nhận diện, xác thực chính xác học viên xuyên suốt từ khâu đăng ký học đến khi sát hạch, cấp giấy phép lái xe.