Gia đình ông Leon Chen (họ Trần) đang khiến cộng đồng mạng phát sốt từ câu chuyện hiếm có. Bảy thành viên trong nhà gồm bố mẹ và 5 người con đều là bác sỹ chuyên ngành nha khoa.
3 năm trước, khi Niq – một người con trong nhà đăng tải đoạn clip lên trang cá nhân, hé lộ cuộc sống của một gia đình gốc Á ở Mỹ có 7 nha sỹ cùng ngồi chung bàn ăn – những video đều thu hút hàng triệu lượt xem.
Được biết, bác sỹ nha khoa Leon Chen – người tiên phong trong lĩnh vực cấy ghép nha khoa cùng vợ – bác sỹ Jennifer Cha là người đồng sáng lập chuỗi phòng khám quốc tế ở Mỹ.
Năm người con của họ gồm Nina, Audree, Niq, Aleq và Nasdaq đều theo đuổi nghề nghiệp này của bố mẹ.
Trong một video giới thiệu về gia đình hồi tháng 1 năm nay đăng tải trên Instagram, video thu hút hơn 92 triệu lượt xem cùng lượng tương tác cao bất ngờ. Không chỉ gây chú ý bởi nghề nghiệp, ngoại hình của các thành viên trong nhà cũng khiến nhiều người trầm trồ.
Tuy nhiên phía sau sự nổi tiếng đó là câu chuyện về nỗ lực bền bỉ và cách giáo dục đặc biệt.
Ông Leon Chen sinh năm 1966 tại Chương Hóa (Đài Loan, Trung Quốc) trong gia đình có truyền thống y khoa. Từ nhỏ, ông được gửi sang Mỹ sống ở Saginaw (bang Michigan).
Trong hồi ký xuất bản năm 2012 tại Đài Loan, ông kể từng trốn vào cánh đồng ngô để khóc vì cảm giác cô đơn.
Chính sự cô lập này đã thúc đẩy ông nỗ lực vượt bậc. Ông đã hoàn thành 4 năm đại học chỉ trong 1 năm, đạt điểm cao nhất kỳ thi đầu vào nha khoa trong 10 năm và được nhận vào Trường Nha khoa Harvard (là cơ sở đào tạo nha khoa danh tiếng thuộc Viện Đại học Harvard, Mỹ) khi còn rất trẻ với học bổng toàn phần.
Năm 1995, trong quá trình đào tạo tại Đại học Northwestern (Chicago), ông phát minh kỹ thuật nâng xoang bằng áp lực nước, giúp đơn giản hóa quy trình phẫu thuật phức tạp. Hai năm sau, ông tiếp tục phát triển kỹ thuật dịch chuyển theo chiều dọc, mang lại hiệu quả cao hơn với mức xâm lấn thấp.
Vợ ông – bà Jennifer Cha – sinh tại Hàn Quốc và lớn lên ở Mỹ. Khi gặp Leon vào năm 1995, bà đã là bác sỹ nha khoa. Họ gặp nhau ở Đại học Northwestern. Sau đó, bà mời ông về Las Vegas làm việc.
“Một sự khởi đầu không tệ với một người sếp nữ xinh đẹp”, ông Leon hóm hỉnh kể lại.
Sau đó, hai người cùng xây dựng Viện Cấy ghép Nha khoa năm 1998 và hệ thống chuỗi phòng khám quốc tế đều đặt tại Las Vegas.
Tuy nhiên, thành tựu lớn nhất của họ là nuôi dạy 5 người con và chứng kiến tất cả đều chọn theo ngành nha khoa giống bố mẹ. Đặc biệt, mỗi người con chỉ sinh cách nhau khoảng một năm.
5 người con tài năng, ngoại hình nổi bật
Thay vì đi theo lộ trình truyền thống tại Mỹ, ông bà Leon Chen đã gợi ý các con sang châu Âu học nha khoa ngay sau khi kết thúc quãng thời gian học trung học.
Được biết, gia đình bén duyên với Tây Ban Nha từ chuyến du lịch năm 2014. Ngoài yếu tố văn hóa, hệ thống giáo dục tại đây cho phép học nha khoa trực tiếp sau phổ thông, giúp rút ngắn 4 năm so với Mỹ. Bởi vậy, họ đưa ra quyết định này.
Cả 5 người con đều theo học tại Đại học Châu Âu Madrid (Tây Ban Nha). Sau đó họ tiếp tục đào tạo nâng cao tại Mỹ.
Người con cả Nina theo đuổi chương trình sau đại học tại Đại học New York, chuyên ngành về nha chu và cấy ghép. Con thứ 2 Audree học tại Đại học Tufts (Massachusetts), lấy bằng sau đại học và thạc sĩ kỹ thuật phục hình răng.
Niq được đào tạo tại Đại học Columbia (New York), cũng chuyên về nha chu. Trong khi đó, Aleq theo học Tuft, theo đuổi chuyên ngành kỹ thuật phục hình răng. Cậu em út Nasdaq học tại Đại học New York, lấy bằng tiến sĩ về cấy ghép.
Điều bất ngờ là cha mẹ họ không hề ép buộc con cái theo đuổi ngành nghề của gia đình.
“Mọi người nghĩ bố mẹ tôi hẳn rất nghiêm khắc trong chuyện học hành của các con, nhưng thực tế họ giống bạn bè hơn”, Audree (28 tuổi) nói.
Niq (27 tuổi) cho rằng, người nghiêm khắc nhất trong nhà lại là bà bảo mẫu Emilia Calderon gốc Peru. Do bố mẹ thường xuyên bận rộn với công việc, bà bảo mẫu Emilia lo toan mọi việc, thường kể cho 5 anh em về tuổi thơ nghèo khó của bà. Từ những câu chuyện này, họ biết cách trân trọng mọi cơ hội.
“Chúng tôi theo đuổi nghề bác sỹ nha khoa không phải do bố mẹ định hướng. Có lẽ, tôi chọn nghề này chỉ vì muốn gần gũi với gia đình hơn”, bác sỹ Nina chia sẻ.
Mặc dù bận rộn với công việc riêng, nhưng gia đình vẫn duy trì sự gắn kết chặt chẽ từ chuyện học tập tới du lịch khắp châu Âu. Họ cùng nhau đặt chân tới Morocco, Đức, Italia, Thụy Sĩ để trải nghiệm cuộc sống.
Chính sự thân thiết này, 5 anh em nhà bác sỹ thừa nhận, họ ít bạn bè bên ngoài. Mối quan hệ khăng khít này cũng khiến họ mong muốn gia đình sẽ đông con cháu trong tương lai. Dù vậy, họ khẳng định không ép buộc thế hệ sau tiếp tục nối nghiệp.
Phía sau công việc chính, mỗi người hiện đều theo đuổi đam mê riêng. Niq thích làm phim, Nina yêu làm bánh, Audree mê âm nhạc và Nasdaq có thể mở nhà hàng trong tương lai.
“Dù có làm nha khoa hay không, chúng tôi vẫn hạnh phúc vì có nhau. Suy cho cùng, tôi hạnh phúc vì được sinh ra trong nhà và có sẵn 4 người bạn thân thiết nhất cũng là anh chị em ruột”, Niq nói.
Bài viết "Càng lớn tuổi, càng có địa vị trong xã hội vợ chồng càng khó chia sẻ, nói chuyện với nhau?" trên Tuổi Trẻ Online nhận được nhiều ý kiến của bạn đọc. Các ý kiến phân tích nguyên nhân khó nói chuyện của những người "bạn cùng nhà" dưới nhiều góc nhìn khác nhau.
Người ta thường tin rằng càng sống lâu với nhau, càng trải qua nhiều biến cố, vợ chồng sẽ tự khắc hiểu nhau, chẳng cần nói nhiều. Nhưng thực tế càng thành công, nhiều cặp đôi lại nói chuyện với cả thế giới trơn tru hơn là với chính người đầu gối tay ấp.
Như bạn đọc Na nhận xét: “Nhiều cặp vợ chồng hiện đại đang giỏi giao tiếp với cả thế giới nhưng lại vụng về với chính người bên cạnh mình”.
Bạn đọc Lam nói thẳng: “Đáng sợ nhất không phải là cãi nhau, mà là im lặng”.
Cũng theo bạn đọc này, cãi nhau ít nhất còn cho thấy hai người còn muốn tương tác, còn im lặng kéo dài chỉ đơn giản là không còn gì để nói.
Nhiều người vin vào một niềm tin rất phổ biến: sống lâu thì tự hiểu nhau. Nhưng bạn đọc Mai phản biện: “Càng lâu lại càng phải nói, nếu không khoảng cách sẽ lớn dần. Bởi con người không đứng yên. Mỗi giai đoạn cuộc đời, mỗi áp lực công việc, mỗi trải nghiệm mới đều thay đổi cách suy nghĩ. Nếu không cập nhật cho nhau bằng những cuộc trò chuyện thì việc tự hiểu chỉ là ảo tưởng”.
Bạn đọc Yến Anh cho rằng nếu muốn thì sẽ tìm cách, không muốn thì tìm lý do.
“Công việc có thể chiếm nhiều thời gian, nhưng không thể chiếm luôn cả nhu cầu kết nối. Khi người ta thật sự muốn giữ một mối quan hệ, họ sẽ tìm được cách, dù là một bữa cơm tối, một cuộc trò chuyện ngắn, hay đơn giản là vài phút hỏi han tử tế”, bạn đọc Yến Anh bình luận thêm.
Bạn đọc Anh ví von rất đúng: “Bận cỡ nào cũng nên quan tâm nhau, giống như bếp lâu quá không nấu thì củi lửa sẽ nguội lạnh”.
Ở một góc thực tế, bạn đọc Quang kể câu chuyện của mình: “Vợ tôi đi công tác suốt, về chỉ nói dăm ba câu rồi mạnh ai nấy ngủ. Một hình ảnh tưởng chừng bình thường, nhưng lại là chân dung của rất nhiều cuộc hôn nhân hiện đại”.
Và khi đã có “địa vị”, một yếu tố khác bắt đầu chen vào đó chính là cái tôi. Bạn đọc Giang chỉ ra: “Ai cũng có cái tôi của mình, ai cũng muốn thể diện, không chịu hạ mình dù là chuyện nhỏ. Phần vì công việc căng thẳng, cứ cho qua rồi tới một ngày nào đó khó hàn gắn”.
Không phải mọi cuộc hôn nhân nguội dần đều bắt đầu từ sự thay đổi tính cách hay địa vị. Nhiều bạn đọc cho rằng gốc rễ của sự xa cách đôi khi nằm ở chính nhịp sống hiện đại.
Bạn đọc Minh Tâm nhìn nhận: “Không phải ai có địa vị cũng khó chia sẻ. Vấn đề nằm ở nền tảng giáo dục gia đình và quan điểm về hạnh phúc của mỗi người”.
Trong khi đó, bạn đọc Lan lại chỉ ra một thực tế: “Không phải do hết yêu, mà là do con người ta dồn hết năng lượng cho công việc, đến lúc về nhà thì cạn năng lượng, không còn gì để chia sẻ nữa”.
Bạn đọc NhatTin phân tích: “Vợ chồng còn trẻ quan tâm tình cảm, có con thì lo con, lớn nữa thì lo tiền bạc, bệnh tật… có chức vụ thì ôm cả núi việc, mang về nhà làm tới khuya, người rã rời, chỉ muốn ngủ”.
Một góc nhìn khác đến từ bạn đọc Khang, khi nhắc đến vai trò của con cái:
“Những đứa con là mối gắn kết của vợ chồng. Nhưng khi con lớn, có thế giới riêng thì cha mẹ cũng ngày càng xa cách. Con cái giống như cầu nối tạm thời. Khi cây cầu đó rút đi, hai người nếu không có nền tảng kết nối riêng sẽ bỗng nhiên thấy lạc nhau ngay trong chính ngôi nhà”.
Người khuyết tật ở Việt Nam vẫn thường bị nhìn nhận theo những khuôn mẫu quen thuộc như đối tượng đáng thương, gánh nặng của gia đình, và cả được xem là hình mẫu "vượt khó"… Tuy nhiên, một xã hội văn minh không thể chỉ dừng ở lòng thương hại hay động viên mang tính cảm xúc, mà cần chuyển sang cách tiếp cận dựa trên sự tôn trọng, bình đẳng của quyền con người.
Một trong những nhận thức chưa đúng phổ biến nhất là xem khuyết tật như một bi kịch. Nhiều bối cảnh vẫn gắn người khiếm khuyết với số phận, nghiệp chướng hoặc điều gì đó cần che giấu. Cách nhìn này không chỉ tạo ra áp lực tâm lý mà còn khiến gia đình họ dễ rơi vào mặc cảm, né tránh giao tiếp.
Từ sự thương hại đó, người khuyết tật thường bị đồng nhất với "đối tượng từ thiện". Xã hội có thể sẵn sàng quyên góp, tặng quà, hỗ trợ ngắn hạn, nhưng lại chưa thật sự thay đổi môi trường sống để họ có thể tiếp cận giáo dục, việc làm, giao thông, thông tin hay các dịch vụ công như người thường.
Từ thiện có thể cần thiết trong một số trường hợp, nhưng nếu xã hội chỉ dừng ở cho đi bằng lòng thương mà không thay đổi cấu trúc xã hội, chính sách và môi trường tiếp cận, thì chưa phải là hòa nhập thực chất.
Khi còn bị hạn chế cùng lúc ở nơi công cộng, trong trường học hay việc làm, họ có nguy cơ nghèo đói cao hơn, chi phí sống lớn hơn và cơ hội phát triển thấp hơn. Như vậy, kỳ thị xã hội không chỉ gây tổn thương tinh thần mà còn tái sản xuất bất bình đẳng trong đời sống của người khuyết tật.
Một xã hội tiến bộ không nên chỉ hỏi "đã giúp được gì", mà phải hỏi "đã tạo ra điều kiện công bằng đến đâu".
Định kiến xã hội cho rằng người khuyết tật không thể học hành đầy đủ, không thể làm việc hiệu quả, không thể kết hôn, nuôi con hay sống độc lập - là kiểu định kiến nguy hiểm vì âm thầm tạo ra rào cản trong giáo dục, tuyển dụng và các mối quan hệ xã hội.
Nhiều người sử dụng lao động từ chối tuyển người khuyết tật không phải vì họ thiếu năng lực, mà vì đã mang sẵn một niềm tin sai lầm về giới hạn của họ. Trong khi đó, thực tế cho thấy khi có công nghệ hỗ trợ phù hợp, sự điều chỉnh hợp lý và một môi trường bao trùm, người khuyết tật hoàn toàn có thể lao động hiệu quả, tự chủ kinh tế và xây dựng cuộc sống có phẩm giá như mọi công dân khác.
Một nhận thức sai khác là cộng đồng thường chỉ thừa nhận khuyết tật khi nó biểu hiện rõ ra bên ngoài.
Thực tế có nhiều dạng khuyết tật không dễ nhận thấy bằng mắt thường nhưng vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến giao tiếp, học tập, trí nhớ, tự chăm sóc hoặc khả năng tham gia xã hội. Khi xã hội chỉ công nhận những dạng khuyết tật "nhìn thấy được", nhiều người sẽ bị phủ nhận nhu cầu hỗ trợ chính đáng và phải liên tục chứng minh khó khăn của mình.
Thay đổi nhận thức xã hội không thể chỉ dừng ở các khẩu hiệu chung chung.
Trước hết, cần bắt đầu từ ngôn ngữ. Những cụm từ như "người bất hạnh", "gánh nặng gia đình" hay các cách diễn đạt mang màu sắc thương hại tưởng như tích cực nhưng thực chất lại hạ thấp vị thế của người khuyết tật. Ngôn ngữ không chỉ phản ánh nhận thức mà còn góp phần tạo ra nhận thức. Vì vậy, báo chí, nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan công quyền cần sử dụng ngôn ngữ tôn trọng, chính xác và bình đẳng hơn khi nói về người khuyết tật.
Thay đổi trong thiết kế xã hội. Tăng sự hiện diện của người khuyết tật trong đời sống công cộng. Họ cần được nhìn nhận như những con người bình thường với nghề nghiệp, chuyên môn, vai trò xã hội và tiếng nói riêng, chứ không phải chỉ như nhân vật truyền cảm hứng hoặc biểu tượng vượt khó.
Khi người khuyết tật xuất hiện nhiều hơn với tư cách là giáo viên, chuyên gia, nhân viên, phụ huynh, nhà quản lý hay người sáng tạo nội dung, xã hội sẽ dần thay đổi cách nhìn: bớt tò mò, bớt thương hại và bình thường hóa sự khác biệt.
Cuối cùng, thay đổi nhận thức không phải là việc riêng của ngành lao động - xã hội hay các tổ chức thiện nguyện. Đây phải là trách nhiệm của toàn xã hội.
Trường học cần giáo dục về sự đa dạng và hòa nhập. Báo chí cần tránh lối kể chuyện chỉ xoáy vào nước mắt hoặc sự phi thường hóa người khuyết tật.
Doanh nghiệp cần giảm thiên kiến trong tuyển dụng và xây dựng môi trường làm việc bao trùm. Các cơ quan nhà nước, hệ thống y tế, giao thông và dịch vụ công cần coi khả năng tiếp cận là tiêu chuẩn bình thường chứ không phải đặc ân.
Căn bệnh viêm đa rễ thần kinh khiến tay chân Lan Anh bị teo cơ, việc đi đứng, cầm nắm cũng gặp nhiều khó khăn. Dẫu vậy, cô gái không than trách số phận mà luôn tích cực học hỏi.
Từ quê nhà Vĩnh Phúc, cô khăn gói vào TP.HCM nhập học năm 2020. Gần như mọi việc cô đều trông cậy vào những người bạn khi sống xa gia đình, di chuyển mỗi ngày bằng xe ôm công nghệ.
Thấm thoát đã sáu năm, nữ sinh viên khoa tâm lý học ngày ấy tốt nghiệp đại học loại giỏi và giờ đã trở thành chuyên viên tư vấn tuyển sinh chương trình học công nghệ tại một công ty ở TP.HCM. Đồng thời cô cũng là gương mặt tích cực trong các hoạt động dành cho người khuyết tật.
Lan Anh kể hồi 3 tuổi, các cơ vận động bắt đầu yếu dần, đi đứng hay ngã, vào cấp II thì hầu như việc di chuyển phải nhờ người khác hỗ trợ.
"Cảm giác tự ti lúc bé vơi dần và hoàn toàn biến mất. Tôi có gia đình yêu thương, có công việc ổn định, có những người bạn, đồng nghiệp đáng yêu. Tôi mong có thể kết nối những người khuyết tật với nhau, giúp nhau tự tin hơn", Lan Anh chia sẻ.