Phái đoàn Mỹ và Iran ngày 11/4 bắt đầu đàm phán trực tiếp tại thủ đô Islamabad của Pakistan, lần đầu tiên kể từ năm 1979, nhằm chấm dứt cuộc xung đột bùng phát từ cuối tháng 2. Sự kiện kết thúc rạng sáng 12/4, nhưng các bên không đạt được thỏa thuận nào sau 21 giờ thương lượng.
“Chúng tôi đã đàm phán với thiện chí”, Phó tổng thống Mỹ JD Vance nói. “Chúng tôi rời khỏi đây với một đề xuất rất đơn giản, đó là đề nghị cuối cùng và tốt nhất của Mỹ. Hãy chờ xem liệu Iran có chấp nhận nó hay không”.
Giới chức Iran xác nhận cuộc đàm phán với Mỹ kết thúc mà không đạt được thỏa thuận, cho rằng “những yêu cầu quá đáng của Washington” đã gây cản trở nỗ lực này.
Diễn biến làm dấy lên lo ngại Mỹ và Iran trở lại thế đối đầu, tiếp tục cuộc xung đột đã khiến hàng nghìn người thiệt mạng, tác động tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu.
Nguy cơ xung đột leo thang trở lại
Một trong những yếu tố được chú ý nhiều nhất lúc này là các động thái tiếp theo của Tổng thống Donald Trump, người từng dọa “xóa sổ một nền văn minh” ngay trước khi Washington và Tehran đạt lệnh ngừng bắn hai tuần hôm 8/4.
Lệnh ngừng bắn đến nay vẫn được duy trì, nhưng ông chủ Nhà Trắng đã có những tuyên bố cứng rắn. Ngay sau khi đàm phán kết thúc, Tổng thống Trump tuyên bố hải quân Mỹ sẽ phong tỏa eo biển Hormuz, khẳng định mục đích là để gỡ bỏ toàn bộ thủy lôi và mở cửa hoàn toàn eo biển, thêm rằng Iran không được phép thu lợi từ kiểm soát tuyến hàng hải này.
Truyền thông Mỹ dẫn các nguồn thạo tin cho biết ông Trump cùng cố vấn còn cân nhắc tiến hành các cuộc tấn công mang tính hạn chế nhằm vào Iran nhằm phá vỡ thế bế tắc trên bàn đàm phán.
Ông Trump cũng không loại trừ việc nối lại chiến dịch ném bom toàn diện nhằm vào Iran, song các quan chức cho rằng điều này ít có khả năng xảy ra hơn do nguy cơ khiến khu vực trở nên bất ổn hơn nữa, Tổng thống Mỹ cũng không muốn các cuộc xung đột kéo dài.
Trong khi đó, Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) tuyên bố vẫn kiểm soát eo biển Hormuz và cảnh báo “đối phương sẽ mắc kẹt trong vòng xoáy chết chóc nếu có tính toán sai lầm”.
Những phát biểu này cho thấy Mỹ vẫn sẵn sàng tiếp tục biện pháp quân sự, còn Iran không coi những thiệt hại họ hứng chịu là lý do để điều chỉnh lập trường, mà tiếp tục nhấn mạnh yếu tố chủ quyền và lợi ích quốc gia.
“Vấn đề không phải ở chiến thuật thương lượng, mà là khác biệt về lợi ích. Mỹ tìm cách áp đặt các giới hạn đối với chương trình hạt nhân của Iran, giảm leo thang trong khu vực và bảo đảm an toàn hàng hải, coi đây là các nhu cầu an ninh”, Fatemeh Aman, chuyên gia về Iran – Pakistan, nhà nghiên cứu tại viện chính sách Hội đồng Đại Tây Dương, nói với DW.
“Iran yêu cầu dỡ bỏ trừng phạt, được công nhận và được bảo đảm an ninh, tức là đàm phán về vị thế chứ không chỉ về các giới hạn. Mục tiêu cốt lõi của hai bên không tương thích”, bà Aman tiếp tục.
Farwa Aamer, nhà nghiên cứu tại viện chính sách Asia Society, Mỹ, cho rằng Washington muốn có nhượng bộ trước, trong khi Tehran muốn được nới lỏng trước. Với mức độ tin cậy thấp và đòn bẩy cạnh tranh lẫn nhau, không bên nào sẵn sàng nhượng bộ.
“Các cuộc đàm phán kéo dài đã mở ra đối thoại, nhưng để đạt được sự đồng thuận có thể cần một tiến trình dài hơi hơn”, theo bà Aamer.
Khi rời Islamabad, ông Vance không nêu rõ điều gì sẽ xảy ra sau khi lệnh ngừng bắn hết hạn vào ngày 22/4, hoặc liệu thỏa thuận này có được gia hạn hay không. Các nhà phân tích lạc quan thận trọng rằng lệnh ngừng bắn sẽ được duy trì và các cuộc không kích sẽ không tái diễn.
Tuy nhiên, nguy cơ lệnh ngừng bắn đổ vỡ vẫn tồn tại. Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu ngày 13/4 tuyên bố lệnh ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có thể chấm dứt bất cứ lúc nào. “Thỏa thuận ngừng bắn quy định Mỹ ngừng ném bom, còn Iran sẽ lập tức mở lại eo biển Hormuz, nhưng họ đã không làm vậy. Phía Mỹ sẽ không chấp nhận điều đó”, ông Netanyahu nói.
Chuyên gia Aamer cho rằng nguy cơ lớn nhất nằm ở những sự cố, tính toán sai lầm, hoặc hành động từ các lực lượng đồng minh có thể thử thách giới hạn kiềm chế của Mỹ hoặc Iran.
“Điều quan trọng là lệnh ngừng bắn được duy trì, các kênh trung gian vẫn hoạt động và cả hai bên tiếp tục tiến trình ngoại giao”, bà Aamer nói. “Nếu không có một tiến trình ngoại giao tiếp nối, lệnh ngừng bắn vẫn rất dễ sụp đổ. Nó có thể trụ vững trong ngắn hạn, nhưng thiếu nền tảng ổn định lâu dài”.
Trở lại bàn đàm phán
Mỹ và Iran cũng có thể trở lại bàn đàm phán, vì cả hai bên vẫn có động lực mạnh để nối lại thương lượng. Iran đã phát tín hiệu sẵn sàng tiếp tục đối thoại. Ngoại trưởng Pakistan Ishaq Dar kêu gọi tất cả các bên duy trì lệnh ngừng bắn mong manh, đồng thời cho biết họ sẽ tiếp tục nỗ lực thúc đẩy đối thoại.
Nhưng Tổng thống Trump đã nói rõ rằng ông không muốn sa lầy vào các cuộc đàm phán kéo dài. Phó tổng thống Vance cũng cảnh báo Washington sẽ không chấp nhận nếu Tehran tìm cách “qua mặt” họ.
“Không bên nào muốn bị xem là nhượng bộ sau vòng đàm phán thất bại. Nhiều khả năng sẽ có một khoảng lặng để cả hai đánh giá lại vị thế và đòn bẩy của mình”, bà Aman nói. “Nếu đàm phán được nối lại, họ cũng sẽ không bắt đầu từ những vấn đề khó nhất, mà có thể đi từ các bước kỹ thuật, phạm vi hẹp, nhằm giảm rủi ro mà không đòi hỏi nhượng bộ lớn”.
Với Aamer, các kênh ngoại giao hậu trường vẫn có thể tiếp tục được duy trì để tạo điều kiện cho các vòng đàm phán sau. “Tuy nhiên, điều đó sẽ phụ thuộc vào cách Mỹ và Iran xác định các bước đi tiếp theo trong ngắn hạn”, bà kết luận.
Ali Vaez, giám đốc Dự án Iran tại Nhóm Khủng hoảng Toàn cầu, cho rằng các cuộc đàm phán tại Islamabad cho thấy khác biệt giữa hai bên vẫn rất lớn, nhưng ông không cho rằng nỗ lực ngoại giao sẽ sụp đổ ngay lập tức.
Nếu nhìn vào tiền lệ, lần gần nhất Iran đạt được thỏa thuận hạt nhân với Mỹ và các cường quốc vào năm 2015 đã mất tới 18 tháng, với nhiều lần đột phá xen kẽ đổ vỡ.
“Kịch bản có khả năng xảy ra hơn không phải là xung đột tiếp diễn ngay lập tức, mà là một giai đoạn đầy biến động với các tín hiệu răn đe và nỗ lực phút chót nhằm ngăn chặn một cuộc xung đột rộng lớn hơn”, ông Vaez nói. “Lối đi phía trước, nếu có, nằm ở một thỏa thuận hạn chế, có đi có lại, giúp các bên có thêm thời gian để hạ nhiệt căng thẳng”.
Bí thư Tỉnh ủy Hà Bắc Nghê Nhạc Phong ngày 14/4 tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đi khảo sát thực địa, giới thiệu bản đồ quy hoạch tổng thể khu khởi động và trao đổi kinh nghiệm xây dựng Khu mới Hùng An, theo TTXVN.
Khu mới Hùng An được thành lập vào ngày 1/4/2017, thuộc địa phận tỉnh Hà Bắc. Nằm cách Bắc Kinh 100 km về phía tây nam, với diện tích 1.770 km2, khu vực này có nhiệm vụ chính là "giảm tải" cho thủ đô, đồng thời thúc đẩy phát triển vùng Bắc Kinh - Thiên Tân - Hà Bắc.
China Daily cho biết sau 9 năm phát triển, Khu mới Hùng An đã dần phát triển thành một thành phố năng động, sẵn sàng thu hút thêm nhiều dân cư. Dân số của thành phố theo số liệu đến năm 2025 là khoảng 1,4 triệu người.
Trung Quốc coi đây là lựa chọn chiến lược quan trọng mang tính lịch sử của Trung ương Đảng, là khu mới có ý nghĩa toàn quốc tiếp sau Đặc khu Thâm Quyến, Quảng Đông và Khu mới Phố Đông, Thượng Hải.
Việc thành lập Khu mới Hùng An nhằm tạo ra một trung tâm phát triển cho tam giác kinh tế Bắc Kinh - Thiên Tân - Hà Bắc, là khu kiểu mẫu về sáng tạo phát triển với các chức năng: Khu đô thị mới sinh thái và xanh, khu tiên phong về lấy sáng tạo thúc đẩy phát triển, khu kiểu mẫu về phát triển hài hòa, khu đi đầu về mở cửa, phát triển.
Khu mới Hùng An đến nay đã chuyển từ giai đoạn "xây dựng cơ bản" sang "xây dựng chất lượng cao". Hơn 400 chi nhánh của các tập đoàn nhà nước đã chuyển trụ sở đến Hùng An, 4 trường đại học đã bắt đầu đi vào vận hành các cơ sở mới tại đây.
Một số bệnh viện đã đi vào hoạt động, cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cao. Tính đến cuối năm 2025, đã có 169.000 người dân được chuyển đến khu mới tại Hùng An.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đang thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc ngày 14-17/4. Đây là hoạt động đối ngoại song phương quan trọng nhất giữa hai Đảng, hai nước trong năm 2026.
Ngoài Khu mới Hùng An, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước dự kiến khảo sát, tìm hiểu mô hình thí điểm hệ thống hạ tầng và công nghiệp đường sắt, cơ sở nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo ở cả Bắc Kinh, Hà Bắc và Quảng Tây, theo Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Phạm Thanh Bình.
Các chuyến khảo sát thực tế sẽ góp phần thúc đẩy hợp tác cụ thể giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp hai nước, từng bước cụ thể hóa các nhận thức chung cấp cao, các thỏa thuận đã ký kết thành các dự án và chương trình hợp tác cụ thể, Đại sứ Phạm Thanh Bình cho biết.
Trung Quốc là nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 18/1/1950. Hai nước thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện vào năm 2008. Năm 2023, hai nước ra tuyên bố chung về nâng tầm quan hệ Đối tác hợp tác Chiến lược Toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược.
Năm 2025, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, còn Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN và là đối tác thương mại thứ tư của nước này trên thế giới theo tiêu chí quốc gia.
Trong bài viết đăng trên Nhân dân Nhật báo trước chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu 4 trọng tâm hợp tác trong giai đoạn mới, gồm củng cố nền tảng chính trị của quan hệ song phương, hợp tác chuyển mạnh từ "tăng quy mô" sang "nâng chất lượng", làm sâu sắc hơn nữa nền tảng xã hội của quan hệ Việt - Trung, nhất là trong thế hệ trẻ. Hai nước cũng cần tiếp tục giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, kiểm soát tốt bất đồng và xử lý thỏa đáng những vấn đề còn tồn tại.
Tổng thư ký NATO Mark Rutte ngày 8/4 tới Washington họp kín với Tổng thống Mỹ Donald Trump để thảo luận về những vấn đề gai góc nhất trong mối quan hệ song phương, đặc biệt là về cuộc chiến Iran, cuộc xung đột hoàn toàn không liên quan đến liên minh quân sự lớn nhất thế giới này.
Kể từ khi phát động cuộc chiến, ông Trump đã chế giễu các đồng minh châu Âu là "những kẻ hèn nhát", chỉ trích NATO là "hổ giấy" vì đã phớt lờ lời kêu gọi hỗ trợ của ông khi Iran gần như phong tỏa eo biển Hormuz, tuyến hàng hải huyết mạch với ngành năng lượng thế giới.
Ông Trump ngày 1/4 tuyên bố "chắc chắn sẽ xem xét" khả năng rút Mỹ khỏi NATO, liên minh quân sự mà ông cho rằng không mang lại nhiều lợi ích cho Mỹ. Đến ngày 6/4, Tổng thống Mỹ tiếp tục nhắc lại lời đe dọa này.
Những tuyên bố cứng rắn của ông Trump đã làm sứt mẻ nghiêm trọng mối quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh Mỹ trong NATO. Tuy nhiên, các lãnh đạo châu Âu phải tìm cách ngăn ông rút khỏi NATO, ngay cả khi những quốc gia này đang chật vật gánh chịu những tổn thất kinh tế từ cuộc chiến của Mỹ - Israel với Iran. Điều đó khiến ông Rutte đối mặt với một "sứ mệnh giải cứu" đầy khó khăn trong chuyến đi tới Washington, theo bình luận viên Lorne Cook của AP.
Câu hỏi đầu tiên mà các phóng viên đặt ra cho Tổng thư ký NATO sau khi ông kết thúc cuộc họp kín với Tổng thống Mỹ là ông Trump có tuyên bố rút Mỹ khỏi liên minh hay không. Ông Rutte tránh trả lời trực tiếp vào câu hỏi, mô tả cuộc gặp là "cuộc trò chuyện thực sự giữa những người bạn".
Ông Trump, trong một bài viết trên mạng xã hội ngày 9/4, cho rằng NATO "thật đáng thất vọng" và không hiểu bất cứ điều gì "trừ khi bị gây áp lực". Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ không nhắc lại lời đe dọa rút khỏi NATO.
"Đôi khi chúng tôi vẫn phải lo liệu các vấn đề chính trị trong nước", ông Rutte phát biểu tại Viện Ronald Reagan ở Washington hôm 9/4, một lời nhắc nhở khéo léo rằng cuộc chiến tại Iran vốn không được lòng dân tại châu Âu. "Tất nhiên NATO tồn tại để bảo vệ châu Âu, nhưng cũng là để bảo vệ Mỹ".
Ông chỉ rõ rằng quân đội Mỹ vẫn được hưởng lợi rất lớn từ hệ thống căn cứ tại châu Âu khi đã sử dụng những nơi này làm hậu cứ cho các chiến dịch tại Iran, bất chấp căng thẳng đang diễn ra.
Tuy nhiên, những rạn nứt ngày càng lớn cho thấy dù Mỹ - Iran có thể đạt thỏa thuận chấm dứt chiến sự trong cuộc đàm phán ở Pakistan vào cuối tuần này, những tổn thương trong mối quan hệ đồng minh Mỹ - NATO khó có thể xóa nhòa trong một sớm một chiều, theo bình luận viên Cook.
Cuộc chiến Iran "đã trở thành một bài kiểm tra sức bền đối với mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương", Thủ tướng Đức Friedrich Merz nói, đồng thời thừa nhận đất nước ông đang chịu tổn thất nặng nề do thị trường năng lượng bị gián đoạn vì xung đột.
"Chúng tôi không muốn và cá nhân tôi cũng không muốn thấy NATO bị chia rẽ", ông cho hay.
Ông Trump đã tỏ thái độ không hài lòng với NATO từ nhiều năm trước, xuất phát từ quan điểm cho rằng các nước châu Âu bấy lâu nay chỉ hưởng lợi nhờ chiếc ô an ninh của Mỹ. Cơn thịnh nộ mới nhất bắt nguồn từ việc các đồng minh không ủng hộ việc Mỹ cùng Israel tấn công Iran, trong đó Anh và Tây Ban Nha thậm chí còn hạn chế chiến đấu cơ Mỹ sử dụng căn cứ quân sự trên lãnh thổ của họ.
Tổng thống Trump gia tăng lời đe dọa nhắm vào NATO dù đang hướng tới việc kết thúc cuộc chiến. Trước khi phát động chiến dịch tấn công, ông thậm chí còn không muốn xây dựng một liên minh với các nước châu Âu.
Tuần trước, ông nói với báo Telegraph rằng mình có thể sẽ rút Mỹ hoàn toàn khỏi liên minh. Trong cuộc họp báo hồi đầu tuần, một ngày trước lệnh ngừng bắn, Tổng thống còn nhắc lại việc vẫn muốn giành quyền kiểm soát Greenland, vùng lãnh thổ tự trị của Đan Mạch ở Bắc Đại Tây Dương.
Ông Trump nói rằng Mỹ muốn có Greenland nhưng NATO không chịu giao hòn đảo, coi đó là lý do hàng đầu khiến ông muốn rút khỏi liên minh. Việc Tổng thống Trump quay trở lại tập trung vào vấn đề Greenland gây bất ngờ bởi hồi tháng 1, ông từng tuyên bố mình và ông Rutte đã thiết lập được khuôn khổ "tuyệt vời" cho thỏa thuận tương lai về hòn đảo.
Các cuộc đàm phán ba bên giữa giới chức Greenland, Đan Mạch và Mỹ vẫn tiếp diễn từ đó đến nay. Dù chưa có dấu hiệu nào cho thấy những cuộc thảo luận sẽ giúp Washington giành được quyền kiểm soát Greenland, một quan chức Nhà Trắng cho biết chính quyền vẫn rất lạc quan về tiến trình đàm phán.
Trước đây, nhiều đồng minh của ông Trump tại Washington từng tìm cách kiềm chế Tổng thống công kích NATO, cố gắng nhắc nhở ông về sức mạnh mà Mỹ nhận được khi có thể đồn trú quân đội và chiến đấu cơ tại châu Âu. Tuy nhiên, trong những tuần qua, nhiều người ủng hộ cuộc chiến tại Iran đã quay sang hậu thuẫn ông Trump gây áp lực lên NATO, nhất là khi Tổng thống đang giận dữ trước việc Iran kiểm soát eo biển Hormuz.
Sean Hannity, người dẫn chương trình Fox News, đã phát biểu trong chương trình tối 8/4 rằng châu Âu là "một lục địa đang chết dần", đồng thời đặt câu hỏi rằng "liệu có đáng để tiếp tục duy trì NATO trong tương lai hay không".
Jack Keane, tướng quân đội về hưu từng được ông Trump trao tặng Huân chương Tự do Tổng thống vào năm 2020, nói ông không nghĩ Tổng thống sẽ rút khỏi NATO vì liên minh này vẫn còn giá trị, nhưng ông tin rằng chắc chắn sẽ có những hệ lụy đi kèm.
"Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu chúng ta quyết định rút bớt quân khỏi các nước Tây Âu để chuyển sang các quốc gia Đông Âu", tướng Keane cho biết.
Wall Street Journal hôm 8/4 đưa tin Tổng thống Trump đang cân nhắc chuyển quân đội Mỹ đồn trú tại châu Âu từ những quốc gia bị coi là không hỗ trợ chiến dịch ở Iran sang những nước có thái độ ủng hộ như Ba Lan và Romania. Nhà Trắng không bình luận về thông tin này, nhưng một quan chức quân sự cấp cao Mỹ tại châu Âu tiết lộ các phương án đang được xem xét.
Tổng thư ký NATO từ chối xác nhận thông tin này. "Tôi hoàn toàn hiểu rằng theo thời gian, Mỹ ngày càng muốn xoay trục sang khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương", ông Rutte nói.
Ông cũng ca ngợi ông Trump vì đã buộc các đồng minh phải chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng. Tổng thư ký NATO chúc mừng Tổng thống Mỹ về cuộc chiến Iran và kiềm chế chỉ trích lời cảnh báo của ông Trump rằng "cả một nền văn minh sẽ lụi tàn" nếu Iran không chịu mở lại eo biển.
"Tại đây, cho phép tôi được tán dương Tổng thống Trump vì tầm nhìn và sự lãnh đạo táo bạo của ông", ông Rutte nói trong bài phát biểu hôm 9/4 về vai trò của Mỹ trong NATO. Tổng thư ký NATO cũng "trách khéo" một số đồng minh vì "hơi chậm trễ" trong việc hỗ trợ Mỹ giải quyết vấn đề Iran.