Buổi thảo luận thuộc khuôn khổ tọa đàm Sử dụng năng lượng tiết kiệm do báo Tuổi Trẻ tổ chức, cùng tham gia có đại diện Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC), Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) cùng nhiều chuyên gia ngành điện.
Câu chuyện sử và tiết kiệm điện, đặc biệt trong các giai đoạn cao điểm, không chỉ là vấn đề của riêng ngành điện, mà còn gắn liền với thói quen tiêu dùng của mỗi hộ gia đình, cũng như chiến lược vận hành của từng doanh nghiệp.
Chia sẻ về công tác vận động tiết kiệm điện, sử dụng điện hiệu quả trên địa bàn, ông Bùi Trung Kiên – Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC),cho hay vấn đề tiết kiệm điện không chỉ trong năm nay, nhưng đã được thực hiện xuyên suốt trong nhiều năm trước đây.
Theo ông Kiên, các Chỉ thị 9, Chỉ thị 10 của Thủ tướng Chính Phủ đều cụ thể hơn, chỉ đạo triệt để hơn trong công tác tiết kiệm điện trong toàn xã hội.
Trong đó, Chỉ thị 10 đặt ra yêu cầu tiết kiệm điện 3%, yêu cầu cao hơn so với mức trước đây là 2%, nhất là trong cao điểm nắng nóng từ tháng 4 đến tháng 7 kéo dài từ miền Nam ra miền Bắc.
Ngoài tiết kiệm, việc sử dụng điện hiệu quả, hợp lý chia phụ tải cũng được nhấn mạnh, với việc cung – cầu điện cần được quản lý chặt chẽ hơn, quản lý phụ tải và điều chỉnh việc sử dụng các thiết bị có công suất lớn ra khỏi giờ cao điểm. Các nguồn điện tại chỗ và dự phòng cũng được yêu cầu huy động tối đa, các doanh nghiệp sẽ cần có máy móc hoặc nguồn phát dự phòng trong trường hợp nguồn cung bị gián đoạn bất khả kháng.
Bên cạnh đó, để tăng tỉ lệ năng lượng tái tạo và giảm nhu cầu điện từ lưới, khu vực dân sinh, sản xuất và khu vực công cũng được khuyến khích, yêu cầu lắp đặt điện mặt trời mái nhà.
Theo ông Kiên, với khí hậu nắng nóng khó lường và kéo dài, việc sử dụng điện được chỉ đạo tiết kiệm triệt để hơn trong năm nay, như việc các hệ thống chiếu sáng quảng cáo không chỉ được yêu cầu giảm giờ chiếu sáng, nhưng có thể sẽ phải tắt toàn bộ hệ thống quảng cáo, bảng hiệu. “Tiết kiệm điện là tiết kiệm cho bản thân, gia đình và xã hội”, ông Kiên nhấn mạnh.
Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao vào mùa nắng nóng, các doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn, đặc biệt khối FDI trong lĩnh vực xuất khẩu, đang đứng trước sức ép kép: vừa bảo đảm tiến độ đơn hàng quốc tế, vừa đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về sử dụng năng lượng.
Ông Phan Tấn Học – Giám đốc kỹ thuật Công ty cổ phần TKG TaeKwang Vina cho biết với đặc thù là doanh nghiệp gia công giày xuất khẩu, bài toán điện năng hiện không chỉ dừng ở chi phí vận hành mà đã trở thành một chỉ số cạnh tranh trực tiếp. Quy mô sản xuất lớn, mức tiêu thụ điện “khổng lồ”, “áp lực xanh” từ đối tác quốc tế.
Theo ông Học, sức ép hiện nay không chỉ đến từ tiến độ đơn hàng mà còn đến từ hệ thống đánh giá nhà máy của đối tác quốc tế.
Các đối tác lớn như Nike không chỉ dựa trên báo cáo giấy tờ mà tiến hành kiểm tra, đo đạc thực tế ngay tại nhà máy. Điều này buộc doanh nghiệp phải triển khai các giải pháp tiết kiệm điện một cách thực chất, liên tục và có thể kiểm chứng.
“Đây không còn là câu chuyện tiết giảm chi phí nội bộ, mà gắn trực tiếp với năng lực cạnh tranh và khả năng giữ đơn hàng”, ông Học nhấn mạnh.
Trước các áp lực đó, trong 5 năm gần đây, doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái nhằm bổ sung nguồn điện phục vụ sản xuất và giảm phụ thuộc vào lưới điện trong giờ cao điểm. Song song đó, nhiều giải pháp tiết kiệm điện được triển khai đồng bộ trong toàn hệ thống nhà máy.
Toàn bộ hệ thống chiếu sáng đã được thay thế bằng đèn LED từ nhiều năm trước. Thiết kế nhà xưởng cũng được tối ưu để tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên, qua đó giảm mức tiêu thụ điện cho chiếu sáng ban ngày.
Bên cạnh đầu tư công nghệ, ông Học đặc biệt nhấn mạnh vai trò của ý thức người lao động trong bài toán tiết kiệm năng lượng. Việc xây dựng văn hóa tiết kiệm điện được xem là nền tảng để các giải pháp kỹ thuật phát huy hiệu quả.
Ở cấp độ vận hành, việc điều chỉnh thời gian sản xuất, chuyển một phần hoạt động sang giờ thấp điểm nhằm giảm tải cho hệ thống điện quốc gia là rất quan trọng. Ngoài ra, việc tối ưu bố trí dây chuyền sản xuất cũng góp phần giảm tình trạng vận hành không tải, từ đó tiết kiệm điện năng đáng kể.
Ông Lê Đình Kính, Công ty cổ phần thương mại dịch vụ giấy Thuận An chia sẻ đối với doanh nghiệp sản xuất thì đơn vị nhận thức rõ áp lực chi phí mua điện để phục vụ sản xuất.
Để tiết kiệm điện và chi phí doanh nghiệp đã áp dụng hai nhóm giải pháp chính: Giải pháp vận hành và nhân sự, nhà máy đã áp dụng dịch chuyển phụ tải (DR), chuyển các công đoạn tiêu thụ điện năng lớn sang khung giờ thấp điểm (từ 22h đêm đến 4h sáng) để tận dụng giá điện rẻ.
Điều tiết sản xuất giờ cao điểm, trong các khung giờ cao điểm, nhà máy giảm công suất vận hành tối đa, chuyển sang làm các khâu phụ trợ ít tiêu tốn điện hoặc thực hiện bảo trì, bảo dưỡng máy móc.
Đối với giải pháp kỹ thuật và thiết bị, chúng tôi lắp đặt hệ thống biến tần giúp động cơ khởi động êm hơn, tránh tình trạng dòng điện tăng vọt gây quá tải cục bộ. Cải thiện hệ thống chiếu sáng bằng cách thay thế toàn bộ bằng đèn LED tiết kiệm năng lượng.
Tối ưu hệ thống làm mát qua việc sử dụng thông gió tự nhiên và các quạt hút năng lượng gió để thoát hơi nóng trong nhà xưởng mà không tốn điện. “Việc triển khai của chúng tôi cũng gặp phải những khó khăn và thách thức về nhân sự và chi phí. Việc chuyển ca làm việc sang ban đêm gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt của công nhân. Để khắc phục, nhà máy đã có các chính sách tăng phụ cấp ca đêm để khuyến khích người lao động.
Về chi phí đầu tư ban đầu cho các thiết bị hiện đại như hệ thống biến tần rất lớn. Tuy nhiên, doanh nghiệp xác định đây là khoản đầu tư cần thiết cho mục tiêu tiết kiệm lâu dài và giảm phát thải”, ông Kính đánh giá.
Dưới góc độ người tiêu dùng hộ gia đình, chị Trần Thị Thùy Vân (ngụ phường Phú Thọ Hoà) cho biết hóa đơn điện của gia đình vào khoảng 1 triệu đồng/tháng, với 4 người sử dụng. Chị cho biết mỗi thành viên luôn có ý thức tự tiết kiệm bằng việc tắt các thiết bị điện khi không có nhu cầu sử dụng và sử dụng các thiết bị có tiêu chuẩn tiết kiệm điện. Tuy vậy, dù tiết kiệm, vào cao điểm nắng nóng như hiện nay, hóa đơn điện nhà chị vẫn tăng 20%.
Cùng là hộ gia đình 4 người, anh Lê Hoàng Minh (phường Nhiêu Lộc) cho biết tiền điện của gia đình trước tháng nóng cao điểm khoảng từ 1,6 triệu đồng/tháng, nhưng thời điểm này tăng mạnh, vượt 2,3 triệu đồng. Gia đình anh tiết kiệm triệt để bằng cách rút hẳn các phích cắm đối với các thiết bị không sử dụng. Gia đình cũng tận dụng thêm ánh sáng tự nhiên, tắt bớt đèn đóm.
Theo anh Minh, gia đình có lượng tiêu thụ điện lớn, nên đã đầu tư lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái hệ 3kWh, với lượng tiêu thụ từ hệ thống này từ 12-15kWh mỗi ngày, giúp tiết kiệm gần 1 nửa tiền điện hằng tháng.
“Tôi thấy đây là mức tiết kiệm đáng kể. Các ban, ngành có thể vận động người dân lắp đặt thêm hệ thống điện mặt trời áp mái”, anh Minh nêu.
Ông Phạm Viết Thạch, Phó Trưởng ban Môi trường và phát triển bền vững, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết đang tập trung nâng cao độ sẵn sàng của các nhà máy điện thuộc tập đoàn và các tổng công ty. Quán triệt các đơn vị phát điện tuyệt đối không để xảy ra tình trạng thiếu nhiên liệu (đặc biệt là than, dầu, khí) phục vụ sản xuất điện trong các tháng cao điểm mùa khô.
Kết quả quý 1, EVN và các đơn vị đã khởi công 46 công trình và đóng điện 36 công trình lưới điện (từ 110kV đến 500kV). Các dự án tiêu biểu như nâng công suất trạm biến áp 500kV Nho Quan, đường dây 220kV Dốc Sỏi – Dung Quất (đoạn đấu nối), trạm biến áp 500kV Vĩnh Yên.
Về tháo gỡ vướng mắc, EVN đã có nhiều văn bản kiến nghị các bộ, ngành và địa phương hỗ trợ tháo gỡ khó khăn về cơ chế chính sách, thủ tục đầu tư và giải phóng mặt bằng cho các dự án nguồn điện. Đồng thời cũng đề nghị các bộ ngành có giải pháp đảm bảo cung ứng nhiên liệu ổn định không chỉ cho EVN mà cho cả các đơn vị phát điện ngoài tập đoàn.
Về công tác phối hợp với khách hàng sử dụng điện, EVN mong muốn nhận được sự phối hợp của khách hàng, đặc biệt là các khách hàng lớn, trong việc điều chỉnh phụ tải điện. Ngành điện cũng khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả để giảm áp lực cho hệ thống điện quốc gia trong các khung giờ cao điểm.
Trao đổi về bài toán sử dụng điện trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ ngày càng gia tăng, ông Ngô Trọng Hiền, Trưởng ban Kinh doanh Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), đánh giá đây không chỉ là thách thức đối với công tác vận hành hệ thống điện mà còn là cơ hội để tái định hình thói quen tiêu dùng năng lượng của toàn xã hội theo hướng bền vững hơn.
“Từ góc độ quản lý, chủ trương tiết kiệm điện đã được quán triệt từ trung ương đến các địa phương. Các chương trình hành động đang được triển khai đồng bộ, hướng tới mục tiêu chung là giảm áp lực lên hệ thống điện quốc gia, đặc biệt trong những thời điểm cao điểm phụ tải”, ông Hiền cho hay.
Đại diện Tổng Công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) cho biết xác định tháng 4 – 7 là thời điểm nắng nóng. Đơn vị đã chủ động lên phương án và làm việc với các địa phương từ cuối năm 2025 để đảm bảo cân đối cung cầu và quản lý cung ứng điện.
Cụ thể, EVNSPC đã đạt được thỏa thuận với hơn 7.675 khách hàng có sản lượng sử dụng lớn từ 50.000kWh trở lên về các phương án tiết giảm khi khó khăn. Hiện có 4.572 khách hàng đang phối hợp rất tốt trong việc dịch chuyển phụ tải, giúp biểu đồ phụ tải công nghiệp duy trì ổn định.
Cùng đó, EVNSPC xác định có sự thay đổi về khung giờ cao điểm, bên cạnh khung giờ 14 – 16h30, gần đây xuất hiện thêm đỉnh phụ tải mới vào khoảng 9h30 – 10h30 sáng do nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt tăng cao trong mùa nắng nóng.
Tại tọa đàm, đại diện Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cam kết tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển điện mặt trời mái nhà, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và tuân thủ các quy định pháp luật.
Mọi quy trình, hồ sơ đấu nối và thủ tục lắp đặt công tơ hai chiều hiện được công khai minh bạch trên website solar.evn.com.vn, để khách hàng dễ dàng tra cứu. Đây được xác định là nguồn điện phân tán tại chỗ quan trọng, giúp giảm chi phí cho người dùng và hỗ trợ hệ thống trong những thời điểm bức xạ tốt.
EVN đặc biệt khuyến khích mô hình “tự sản tự tiêu” cho các cơ quan công sở, cơ sở sản xuất và hộ gia đình, nhất là khi kết hợp với hệ thống lưu trữ năng lượng.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, các đơn vị điện lực chủ động phối hợp với địa phương để ban hành chỉ tiêu cụ thể.
Hôm 8/4, Quốc hội phê chuẩn ông Ngô Văn Tuấn giữ chức Bộ trưởng Tài chính nhiệm kỳ 2026-2030. Ông Tuấn nhận nhiệm vụ khi Việt Nam đang ở bước ngoặt với mục tiêu đột phá, duy trì tăng trưởng trên 10% mỗi năm trong 5 năm tới để trở thành nước phát triển vào 2045.
"Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao đặt ra yêu cầu rất lớn với ngành tài chính", ông Tuấn nói khi nhậm chức và cho rằng bối cảnh hiện nay, ngoài quản lý thu - chi, Bộ còn giữ vai trò tham mưu chiến lược điều hành kinh tế vĩ mô.
Ông nói thêm "thu ngân sách, điều hành chi tiêu đến huy động vốn đầu tư phát triển sẽ phải được nâng tầm, bảo đảm chủ động, linh hoạt và hiệu quả".
Thực tế, bức tranh tài khóa 5 năm qua với nhiều gam màu sáng là nền tảng cho nhà điều hành. Tổng thu ngân sách 2021-2025 ước đạt 9,75 triệu tỷ đồng, vượt mục tiêu đề ra nhờ cải cách quản lý thuế và số hóa. Chi thường xuyên được siết chặt, giúp bội chi ngân sách neo ở mức thấp 3,1-3,2% GDP. Đặc biệt, nợ công giảm từ 42,7% GDP năm 2021 xuống quanh 36-37% GDP vào 2025, thấp hơn nhiều mức trần Quốc hội cho phép.
TS Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho rằng dư địa tài chính này cho phép "Chính phủ mạnh dạn huy động vốn cho các dự án hạ tầng quy mô lớn mà vẫn đảm bảo an toàn tài chính quốc gia".
Cơ cấu thu ngân sách cũng đang chuyển dịch theo hướng bền vững hơn khi các nguồn thu chủ lực (trừ từ dầu thô) đều tăng. Năm ngoái, tỷ trọng thu nội địa chiếm hơn 86% tổng thu ngân sách nhà nước. Thu từ xuất nhập khẩu cũng tăng gần 18% so với cùng kỳ năm 2024 nhờ tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ghi nhận mức kỷ lục hơn 920 tỷ USD.
Riêng khoản thu từ dầu thô giảm 18% so với cùng kỳ 2024. Việc ngân sách không còn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên, như dầu thô, mà dựa vào nội lực của nền kinh tế cho thấy "sức khỏe" tài chính công ngày càng vững chắc hơn trước các cú sốc từ bên ngoài.
Tuy nhiên, ông Việt lưu ý "điểm tựa" này có thể lung lay nếu nguồn thu tiếp tục phụ thuộc vào các khoản mang tính chu kỳ, như đất đai. Giới chuyên môn từng dẫn thống kê từ năm 2005 đến nay cho thấy tỷ lệ thu ngân sách từ đất, gồm tiền sử dụng đất là lớn nhất, chiếm 13,1-16% tổng thu nội địa. Dòng tiền này lại phụ thuộc vào biến động thị trường bất động sản.
TS Việt cho rằng, thu ngân sách hiện có dấu hiệu chững lại do hiệu ứng nền cao từ các năm trước và khó khăn nội tại của nền kinh tế. Điều này đặt ra rủi ro hụt thu trong thời gian tới.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Tiếp đến là áp lực tháo gỡ điểm nghẽn giải ngân đầu tư công. Giai đoạn 2021-2025, dù giá trị giải ngân năm sau luôn cao hơn năm trước, tình trạng chậm tiến độ vẫn chưa được khắc phục dứt điểm. Hạn chế mang tính chu kỳ của giải ngân vốn công là thường xuyên bị "dồn toa" vào quý cuối năm. Đơn cử năm ngoái, theo dữ liệu của Bộ Tài chính đến cuối tháng 11 còn hơn 360.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 40% kế hoạch) vẫn chưa thể giải ngân.
Chậm giải ngân ảnh hưởng đáng kể tới sức bật của nền kinh tế, bởi đầu tư công vẫn được xem là động lực tăng trưởng quan trọng. Theo tính toán trong giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ giải ngân vốn công tăng 1%, GDP có thêm 0,058 điểm phần trăm.
"Nhà điều hành cần cải cách thể chế để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, giúp khu vực tư nhân hấp thụ vốn hiệu quả hơn", ông Việt nêu quan điểm. Cùng với đó, mô hình đối tác công - tư (PPP) cần minh bạch hơn để kích hoạt dòng vốn tư nhân và nước ngoài vào các lĩnh vực hạ tầng xanh, công nghệ cao.
Ngoài thể chế, TS Lê Xuân Trường (Học viện Tài chính) lưu ý ngành tài chính cũng cần gắn việc phân bổ ngân sách với các chỉ số KPI đo lường được. "Cần kiên quyết cắt giảm các khoản chi kém hiệu quả để dồn lực cho hạ tầng trọng điểm, không dàn trải", ông nói thêm.
Tìm "điểm tựa" vốn ngoài ngân sách cũng là thách thức với tân Bộ trưởng Tài chính ở nhiệm kỳ này. Để giữ nhịp tăng trưởng liên tục trên 10% mỗi năm trong 5 năm tới, nền kinh tế cần "bơm" khoảng 8,22 triệu tỷ đồng vốn đầu tư công - gấp gần 3 lần giai đoạn trước. Dòng vốn này, theo Chính phủ, sẽ được ưu tiên tối đa cho các dự án mang tính đột phá, chuyển đổi và xoay chuyển tình thế như dự án trọng điểm, chiến lược quốc gia.
Bài toán này đặt ra áp lực điều hành khi chính sách tài khóa phải đảm bảo chính sách tài khóa linh hoạt, được "mở van" đúng lúc, hỗ trợ tăng trưởng. Đồng thời, kỷ luật ngân sách cũng cần được siết chặt để không tạo áp lực trả nợ quá lớn cho giai đoạn sau.
Trong khi vốn ngân sách có hạn, các kênh huy động vốn dài hạn như thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp chưa phát triển tương xứng. Điều này khiến tín dụng ngân hàng trở thành kênh dẫn vốn chủ lực. TS Việt cho rằng lúc này tân Bộ trưởng Tài chính cần có các quyết sách mạnh mẽ để vực dậy thị trường trái phiếu doanh nghiệp - mạch máu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế, qua đó giảm áp lực nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.
Ông đề xuất cần thiết lập cơ chế đặc thù (sandbox thể chế) để xử lý dứt điểm nợ xấu, khơi thông các dự án "đắp chiếu" trong lĩnh vực bất động sản, năng lượng. "Việc này giúp giảm áp lực vốn cho hệ thống ngân hàng, tạo dư địa tài khóa mà Nhà nước không phải bơm thêm tiền trực tiếp", ông Việt bình luận.
Cùng quan điểm, TS Lê Xuân Trường (Học viện Tài chính) cho rằng nhà chức trách cần hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường chứng khoán, cũng như đẩy nhanh hoàn thiện các trung tâm tài chính tại Đà Nẵng, TP HCM theo chuẩn quốc tế.
Dù vậy, yếu tố quyết định thành công của chính sách tài khóa vẫn là con người. TS Trường cho rằng đội ngũ công chức ngành tài chính cần đáp ứng tốt nhất yêu cầu về tư duy - kỹ năng số, đồng thời phải có nhiệt huyết và liêm chính.
"Thực tế, một số cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương thực thi không đúng chủ trương tạo điểm nghẽn trong điều hành. Do đó, cần xử lý vấn đề này để tăng hiệu quả chính sách", ông nói thêm.
Hàng loạt cơ sở Thuế thuộc các tỉnh đã ban hành Thông báo về việc ngừng sử dụng hóa đơn điện tử đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống, theo quy định tại Nghị định số 68/2026 và các văn bản hướng dẫn liên quan.
Theo thông báo, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng trở xuống không thuộc đối tượng sử dụng hóa đơn điện tử. Việc xác định doanh thu được căn cứ theo dữ liệu năm trước và doanh thu lũy kế trong năm hiện hành.
Cụ thể, trường hợp đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử từ trước năm 2025, nếu doanh thu năm 2025 nhỏ hơn hoặc bằng 500 triệu đồng và doanh thu lũy kế từ đầu năm 2026 đến thời điểm xác định cũng không vượt quá 500 triệu đồng thì phải ngừng sử dụng hóa đơn. Với các trường hợp mới đăng ký kinh doanh trong năm 2026, nếu doanh thu lũy kế không vượt ngưỡng này cũng thuộc diện phải dừng.
Các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc diện nêu trên phải ngừng sử dụng hóa đơn điện tử kể từ thời điểm cơ quan thuế thông báo và không được tiếp tục xuất hóa đơn trong thời gian không thuộc đối tượng sử dụng. Trường hợp vẫn tiếp tục sử dụng hóa đơn sẽ bị xác định là hành vi sử dụng hóa đơn không hợp pháp và bị xử phạt theo quy định pháp luật.
Sau khi ngừng sử dụng hóa đơn, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh phải thực hiện ghi chép đầy đủ doanh thu phát sinh vào Sổ doanh thu theo mẫu làm căn cứ kê khai thuế.
Chiều ngược lại, cơ quan thuế cho biết hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh sẽ được tiếp tục sử dụng hóa đơn điện tử khi doanh thu lũy kế từ đầu năm 2026 vượt trên 500 triệu đồng. Khi đó, người kinh doanh có nhu cầu sử dụng hóa đơn điện tử phải thực hiện đăng ký theo quy định hiện hành.
Trong trường hợp doanh thu quý I đã vượt 500 triệu đồng, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh vẫn được tiếp tục sử dụng hóa đơn điện tử, đồng thời phải thực hiện nộp tờ khai thuế quý I chậm nhất vào ngày 4/5.
Các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đang sử dụng hóa đơn điện tử nhưng có doanh thu dưới 500 triệu đồng cần liên hệ trực tiếp với cơ quan thuế để được hướng dẫn thủ tục tạm ngừng theo quy định. Đồng thời, người nộp thuế được khuyến nghị cài đặt ứng dụng eTax Mobile để nhận cảnh báo và thực hiện các thủ tục thuế điện tử.
Thông tin từ Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam - ACV cho biết công ty đã lên phương án và gửi đề xuất đến cơ quan chức năng liên quan về phương án phân chia khai thác giữa Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất và Cảng hàng không quốc tế Long Thành.
Kế hoạch được xây dựng theo hướng chuyển dịch từng phần, tiến tới toàn bộ các chuyến bay quốc tế thường lệ sang Long Thành.
Cụ thể, từ thời điểm sân bay Long Thành đưa vào khai thác thương mại đến hết lịch bay mùa đông 2026, tức từ ngày 1-12-2026 đến 27-3-2027, ACV đề xuất chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế đường dài, bao gồm cả vận tải hàng hóa, từ Tân Sơn Nhất sang Long Thành.
Theo tính toán, giai đoạn này sẽ chiếm khoảng 19% sản lượng khách quốc tế tại khu vực TP.HCM.
Bước sang giai đoạn từ lịch bay mùa hè 2027 đến hết năm 2030, ACV đề xuất tiếp tục chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế còn lại sang Long Thành, ngoại trừ các đường bay ngắn dưới 1.000km do các hãng hàng không Việt Nam khai thác.
Nếu phương án này được thông qua, ngay trong năm 2027, sân bay Long Thành có thể tiếp nhận hơn 90% lượng khách quốc tế của khu vực TP.HCM.
Sau năm 2030, ACV đề xuất chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế thường lệ sang khai thác tại Long Thành. Khi đó, Tân Sơn Nhất sẽ chủ yếu phục vụ các chuyến bay nội địa, các chuyến bay quốc tế không thường lệ và các chuyến bay thuê chuyến.
ACV cho biết đang tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đưa sân bay Long Thành vào khai thác, từ bộ máy tổ chức, nhân sự đến phương án vận hành và thử nghiệm thực tế.
Doanh nghiệp đã thành lập Chi nhánh cấp I - Cảng hàng không quốc tế Long Thành để quản lý, vận hành sân bay.
Cùng với đó là Chi nhánh Dịch vụ hàng hóa hàng không Long Thành và Chi nhánh Dịch vụ nhiên liệu hàng không Long Thành nhằm đảm bảo khai thác đồng bộ các hạng mục liên quan.
Ngoài ra, ACV đã ký hợp đồng tư vấn với liên danh Incheon Airport, gồm Incheon International Airport Corporation và Công ty PIF, để triển khai công tác quản lý, khai thác và chuyển giao vận hành sân bay Long Thành.
Đến nay, ACV cho biết đã hoàn thành hai giai đoạn đầu gồm xây dựng khái niệm khai thác, quy trình cốt lõi; xây dựng chính sách thương mại, phương án kinh doanh và chiến lược tài chính.
Hiện doanh nghiệp đang triển khai giai đoạn thứ ba là thử nghiệm vận hành và chuyển giao khai thác, dự kiến tổ chức ba đợt thử nghiệm vào các tháng 9, 10 và 11-2026.
Sau khi phương án phân chia khai thác giữa Long Thành và Tân Sơn Nhất được cấp có thẩm quyền phê duyệt, ACV sẽ phối hợp với các bên liên quan để triển khai đồng bộ, bảo đảm quá trình chuyển đổi diễn ra thông suốt.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online ngày 20-4, đại diện một số hãng hàng không nội địa cho biết kế hoạch chuyển đổi các đường bay quốc tế sang Long Thành đã được đặt ra, và doanh nghiệp đang xây dựng nhiều phương án khai thác phù hợp.
Theo các hãng bay, trong giai đoạn đầu, ACV cần xem xét giảm giá một số dịch vụ để hỗ trợ hãng hàng không cơ cấu chi phí, từ đó mạnh dạn chuyển đổi hoạt động sang sân bay mới trong bối cảnh thị trường ban đầu có thể gặp khó vì hành khách chưa quen.
Một trong những vấn đề các hãng bày tỏ lo ngại là khả năng kết nối giữa các chuyến bay nội địa tại Tân Sơn Nhất với các chuyến quốc tế tại Long Thành.
Áp lực di chuyển trên tuyến cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây, vốn thường xuyên ùn tắc, được xem là thách thức lớn nếu hành khách phải nối chuyến giữa hai sân bay.