Mục Lục
ToggleNgày 15/4, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm hoạt động của tổ chức quân sự địa phương khi thực hiện hệ thống chính quyền địa phương 2 cấp.
Dự hội nghị có Thiếu tướng Võ Tiến Nghị, Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng; ông Nguyễn Hồng Thanh, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Tây Ninh, cùng đại diện các cơ quan chức năng, địa phương khu vực biên giới.
Sau khi sáp nhập từ lực lượng của hai tỉnh Long An và Tây Ninh, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh quản lý 19 xã biên giới với chiều dài gần 369km. Đây là địa bàn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp như tội phạm ma túy, buôn lậu, gian lận thương mại, xuất nhập cảnh trái phép.
Trước yêu cầu nhiệm vụ, đơn vị đã nhanh chóng kiện toàn tổ chức, vận hành hiệu quả cơ chế chỉ huy, điều hành; đồng thời rà soát, bổ sung các phương án, kế hoạch sát thực tế địa bàn.
Từ ngày 1/7/2025 đến nay, lực lượng đã xác lập, phá thành công 5 chuyên án, xử lý 4.757 vụ với 5.544 đối tượng vi phạm. Tang vật thu giữ gồm: 6,2kg ma túy, gần 800kg pháo nổ, hơn 64.000 bao thuốc lá ngoại cùng nhiều tài sản có giá trị.
Ngoài ra, đơn vị đã khởi tố 31 vụ, xử phạt hành chính hơn 4.700 vụ, nộp ngân sách trên 13 tỷ đồng; tiếp nhận hơn 1.000 công dân do phía Campuchia bàn giao.
Công tác quản lý cửa khẩu, kiểm soát xuất nhập cảnh và đối ngoại biên phòng được duy trì chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao thương.
Bên cạnh đó, Bộ đội Biên phòng tỉnh còn phối hợp với các địa phương triển khai nhiều hoạt động an sinh xã hội, hỗ trợ người dân khu vực biên giới phát triển kinh tế, ổn định đời sống.
Phát biểu chỉ đạo, lãnh đạo UBND tỉnh Tây Ninh và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng ghi nhận nỗ lực của đơn vị trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; đồng thời nhấn mạnh vai trò nòng cốt, chủ trì, phối hợp với các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Thiếu tướng Võ Tiến Nghị yêu cầu đơn vị tiếp tục hoàn thiện quy chế, quy trình công tác; tăng cường phối hợp với các lực lượng, địa phương để quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, không để xảy ra bị động, bất ngờ.
Tin Gốc: Dân Trí

Đài khí tượng thủy văn Nam Bộ cho biết trong tháng 4, nhiệt độ tại miền Nam có xu hướng tăng thêm, nắng nóng lan rộng nhiều nơi.
Nhiệt độ trung bình tháng 4 tăng so với tháng 3, phổ biến xấp xỉ đến cao hơn trung bình nhiều năm. Nhiệt độ cao nhất từ 32-35 độ C, miền Đông Nam Bộ có nơi 36-39 độ C.
Tuy vậy trong tháng 4 mưa cũng có xu hướng tăng hơn, khi dần tiến vào giai đoạn chuyển mùa (đầu tháng 5).
Tổng lượng mưa tháng 4 tăng so với tháng 3. Số ngày mưa khoảng 6-12 ngày, riêng khu vực Lâm Đồng 10-15 ngày.
Thời tiết nắng nóng và mưa bất chợt tạo sự xáo trộn mạnh trong khí quyển. Cảnh báo khả năng xuất hiện các hiện tượng thời tiết nguy hiểm và khả năng tác động đến môi trường, điều kiện sống, cơ sở hạ tầng, các hoạt động kinh tế, xã hội.
Trong giai đoạn đầu tháng 4, nắng nóng tiếp tục xảy ra diện rộng ở khu vực miền Đông, có nơi nắng nóng gay gắt, miền Tây nắng nóng.
Nhiệt độ cao nhất phổ biến 35-37 độ C, có nơi trên 37 độ C. Dự báo nắng nóng trên khu vực Nam Bộ tiếp tục kéo dài trong nhiều ngày tới. Cấp độ rủi ro thiên tai do nắng nóng ở cấp 1.
Do ảnh hưởng của nắng nóng, độ ẩm không khí thấp nên có nguy cơ xảy ra cháy nổ, hỏa hoạn ở khu vực dân cư và cháy rừng. Ngoài ra, nắng nóng còn có thể gây mất nước, kiệt sức, đột quỵ do sốc nhiệt đối với cơ thể người khi tiếp xúc lâu với nhiệt độ cao.
Nguồn: https://tuoitre.vn/nang-nong-nam-bo-cham-nguong-39-do-c-trong-thang-4-20260404123909019.htm
Thời Sự
Đồng bào các dân tộc gìn giữ và lan tỏa những giá trị văn hóa tốt đẹp

Ngày 17.4, tại Khu tưởng niệm cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt (xã Trung Thành, tỉnh Vĩnh Long), Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Vĩnh Long long trọng tổ chức ngày hội văn hóa các dân tộc tỉnh Vĩnh Long năm 2026.
Tham dự sự kiện có Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân; các đại biểu Trung ương, địa phương và hơn 150 đại diện tiêu biểu cho cộng đồng các dân tộc trên địa bàn tỉnh.
Phát biểu khai mạc, ông Kim Ngọc Thái, Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Vĩnh Long, nhấn mạnh ngày hội là dịp để các dân tộc giao lưu, học hỏi, thắt chặt tình đoàn kết, đồng thời khơi dậy niềm tự hào, ý thức gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống hiện đại.
Tại Vĩnh Long, đồng bào dân tộc thiểu số hiện có hơn 373.000 người, chiếm 11,03%. Mỗi dân tộc đều có đặc trưng, vai trò, vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của tỉnh. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào không ngừng được cải thiện; các chính sách an sinh xã hội được triển khai hiệu quả.
Diện mạo nông thôn, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc ngày càng khởi sắc. Lĩnh vực giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe có nhiều chuyển biến rõ nét; bản sắc văn hóa truyền thống được gìn giữ, phát huy gắn với các hoạt động cộng đồng phong phú.
Phát biểu tại ngày hội, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân khẳng định ý nghĩa quan trọng của sự kiện trong việc tôn vinh, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời nhấn mạnh việc tổ chức ngày hội ngay sau dịp Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer càng làm tăng thêm ý nghĩa, góp phần lan tỏa tinh thần gắn bó, sẻ chia giữa các dân tộc.
Phó chủ tịch nước cho biết, Vĩnh Long hôm nay là không gian phát triển mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất 3 tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh - những vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, cách mạng; giàu tinh thần yêu nước, nhân nghĩa, hiếu học, cần cù và sáng tạo.
Sự hòa quyện giữa chiều sâu lịch sử, bản sắc văn hóa và khát vọng phát triển của 3 địa phương đã tạo nên nền tảng quan trọng để Vĩnh Long vươn lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Phó chủ tịch nước tin tưởng đồng bào các dân tộc trong tỉnh Vĩnh Long sẽ tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, nghĩa tình, gìn giữ và lan tỏa những giá trị văn hóa tốt đẹp; gìn giữ tiếng nói, chữ viết, phong tục, tập quán phù hợp của mỗi dân tộc; chủ động tiếp thu những giá trị tiến bộ, xây dựng đời sống văn hóa mới; tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, cùng với cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị chung sức xây dựng Vĩnh Long ngày càng phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc.
Tại ngày hội, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đã trao tặng 10 căn nhà đại đoàn kết cho Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Vĩnh Long với tổng kinh phí 800 triệu đồng; trao 174 phần quà cho đại diện đồng bào các dân tộc tiêu biểu trên địa bàn tỉnh.
Trước đó, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân cùng đoàn công tác đã đến dâng hoa, dâng hương tưởng nhớ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt tại khu lưu niệm của ông tại xã Trung Thành, Vĩnh Long.
Tin Gốc: Thanh Niên

Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
"Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa", ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói "mười năm chín hạn" (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: "Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm".
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là "Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải". Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
"Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh", ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. "Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá", ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
"Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới", ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
"Mong ước đó không biết có viển vông quá không?", ông Sử tự hỏi.
Gia Chính - Mộc Miên
Tin Gốc: https://vnexpress.net/bac-hung-hai-tu-dai-thuy-nong-den-dong-song-chet-5050257.html

