Bảo hiểm xã hội Việt Nam (Bộ Tài chính) vừa có phản hồi thắc mắc của nhiều bạn trẻ liên quan đến bảo hiểm y tế. Cụ thể, có sinh viên đi làm thêm (part-time) 6 tiếng/ngày, đã mua bảo hiểm y tế tại trường nhưng vẫn bị công ty yêu cầu truy thu tiền bảo hiểm xã hội, kèm dọa “không đóng sẽ không trả lương”.
Theo Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2024 quy định người tham gia bảo hiểm y tế là lao động làm việc theo hợp đồng từ 1 tháng trở lên, kể cả trường hợp thỏa thuận tên gọi khác. Nội dung làm việc gắn với trả công, tiền lương và dưới sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên.
Thỏa thuận giữa người lao động và chủ sử dụng lao động có thể là làm việc không trọn thời gian (part-time), có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất theo quy định.
Như vậy, sinh viên đi làm thêm theo hợp đồng từ 1 tháng trở lên, nếu mức lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương tối thiểu dùng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì thuộc diện tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc.
Cạnh đó, Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2024 cũng nêu một người thuộc nhiều đối tượng tham gia khác nhau thì đóng theo đối tượng đầu tiên mà người đó được xác định theo thứ tự.
Thứ tự tham gia bảo hiểm y tế gồm: (1) Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, (2) nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng, (3) nhóm do ngân sách nhà nước đóng, (4) nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng (bao gồm sinh viên) và (5) nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình.
Chiếu theo thứ tự, nhóm người lao động (1) xếp trên nhóm sinh viên (4). Do vậy sinh viên ký hợp đồng lao động đủ điều kiện thì bắt buộc phải đóng bảo hiểm y tế theo đối tượng người lao động tại doanh nghiệp.
Hiện nay mức đóng bảo hiểm y tế bắt buộc bằng 4,5% tiền lương tháng hoặc 4,5% lương cơ sở, trong đó người sử dụng lao động đóng 3% và người lao động đóng 1,5%. Lương cơ sở hiện hành là 2,34 triệu đồng/tháng.
Như vậy, mức đóng bảo hiểm y tế cho một học sinh, sinh viên trong một năm là: 4,5% × 2,34 triệu đồng × 12 tháng = 1.263.600 đồng/năm.
Nếu đơn vị sử dụng lao động chưa trừ phần tiền đóng bảo hiểm y tế của người lao động trong quá trình làm việc thì người lao động có trách nhiệm đóng phần của mình cho đơn vị, tức 1,5%.
Cơ quan bảo hiểm xã hội cho hay Bộ luật Lao động năm 2019 quy định chủ sử dụng lao động không được dùng việc trả lương để cưỡng ép người lao động thực hiện các nghĩa vụ khác không có trong hợp đồng hoặc trái pháp luật.
Tiền lương là quyền lợi hợp pháp của người lao động tương ứng với công sức đã bỏ ra và phải được thanh toán đầy đủ, đúng hạn.
Khi chấm dứt hợp đồng, doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ tiền lương cho sinh viên. Phần nợ bảo hiểm y tế (nếu có) phải được giải quyết theo quy định truy thu của pháp luật.
Để tránh vướng mắc, Bảo hiểm xã hội Việt Nam lưu ý sinh viên khi đi làm thêm cần kiểm tra kỹ nội dung hợp đồng, đặc biệt là các điều khoản liên quan đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Ví dụ, mình thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm y tế nào, cách theo dõi việc trích nộp bảo hiểm hằng tháng, chủ động trao đổi với đơn vị sử dụng lao động khi có phát sinh chưa rõ ràng. Khi quyền lợi bị ảnh hưởng, bạn trẻ có thể phản ánh tới cơ quan chức năng hoặc tổ chức Công đoàn để được hỗ trợ.
Đau lưng dưới hay đau thắt lưng là tình trạng đau xuất hiện ở vùng từ dưới bờ xương sườn đến mông. Triệu chứng có thể từ nhẹ đến nặng, diễn ra trong thời gian ngắn (cấp tính), trung bình (bán cấp) hoặc kéo dài (mạn tính) và có thể ảnh hưởng đến bất kỳ ai. Dưới đây là một số nguyên nhân thường gặp gây đau lưng dưới.
Gãy xương
Gãy xương thường xảy ra do té ngã, tai nạn, chấn thương hoặc vận động lặp đi lặp lại. Một số bệnh như tiêu xương hoặc nứt đốt sống (spondylolysis) làm tăng nguy cơ gãy xương.
Viêm khớp
Viêm khớp, đặc biệt do thoái hóa, thường gặp ở người trên 50 tuổi. Thoái hóa khớp là một nguyên nhân điển hình gây đau lưng dưới. Viêm khớp cột sống có thể gây hẹp ống sống, làm chèn ép tủy sống cũng là nguyên nhân gây ra cơn đau.
Vấn đề về đĩa đệm
Đĩa đệm đóng vai trò như lớp đệm giữa các đốt sống. Khi đĩa đệm bị rách (thoát vị) hoặc phồng lên, chúng có thể chèn ép dây thần kinh và gây đau lưng dưới dai dẳng.
Đôi khi đau lưng có thể là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng hơn, liên quan đến bệnh thận, chẳng hạn như sỏi thận. Đau lưng do bệnh thận, trái ngược với đau cơ hoặc khớp thông thường, thường nằm ở vùng đau sâu, âm ỉ, ở phần trên lưng ngay dưới khung xương sườn ở cả hai bên cột sống.
Một điểm khác biệt là loại đau lưng này thường không thay đổi theo tư thế, trong khi đau cơ xương khớp thường giảm hoặc trở nên khó chịu hơn khi thay đổi tư thế hoặc hoạt động thể chất.
Ung thư
Trong một số trường hợp ít gặp, đây có thể là dấu hiệu của ung thư. Các bệnh như ung thư bàng quang, ung thư cột sống hoặc ung thư phổi đều có thể gây đau lưng. Điều đáng lo ngại là khi cơn đau kéo dài, có xu hướng tăng dần hoặc đi kèm triệu chứng bất thường khác.
Đau lưng do ung thư thường xuất hiện muộn (như ung thư bàng quang) hoặc có thể là dấu hiệu sớm (như ung thư cột sống). Khi đau không rõ nguyên nhân hoặc ngày càng nặng, người bệnh cần đi khám để được chẩn đoán kịp thời.
Đau lưng có thể xảy ra ở mọi người, kể cả trẻ em, thanh thiếu niên và trở nên phổ biến hơn khi tuổi tác tăng lên. Các yếu tố nguy cơ bao gồm ít vận động, thừa cân, bệnh lý nền, nâng vật sai cách và các vấn đề tâm lý như trầm cảm, lo âu. Hút thuốc lá cũng có thể làm tình trạng đau lưng nặng hơn.
Để giảm đau lưng dưới, bạn có thể nghỉ ngơi hợp lý, tập các động tác yoga như tư thế em bé, kết hợp chườm nóng - lạnh. Ngoài ra, vật lý trị liệu, thuốc giảm đau, massage hoặc nắn chỉnh cột sống cũng có thể giúp cải thiện triệu chứng.
Bệnh có thể phòng ngừa và kiểm soát bằng cách tập thể dục thường xuyên, duy trì cân nặng hợp lý và giữ tư thế đúng. Nếu triệu chứng trở nên nghiêm trọng hoặc kéo dài, cần can thiệp y tế kịp thời vì trì hoãn điều trị có thể khiến tình trạng xấu đi.
ThS.BS Hồ Văn Hùng, Viện Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết chóng mặt thực chất là một rối loạn đa giác quan, liên quan đến sự phối hợp giữa hệ tiền đình, thị giác và cảm giác bản thể. Thống kê cho thấy cứ 10 người trên 60 tuổi thì có 3 người bị chóng mặt, tỷ lệ này tăng lên khoảng 50% ở nhóm trên 85 tuổi.
Bệnh nhân đến khám vì chóng mặt thường mô tả triệu chứng rất khác nhau. Người thấy mọi vật quay cuồng, đảo lộn; người có cảm giác bồng bềnh như đi trên mây; người lại chỉ đơn thuần là choáng váng, "xây xẩm mặt mày".
Chóng mặt là bệnh phổ biến phổ biến song không hề "đơn giản". Nguyên nhân có thể trải dài từ các rối loạn lành tính ở tai trong đến những tổn thương não bộ nguy hiểm. Việc phân loại nguyên nhân là yếu tố then chốt giúp xử trí đúng và kịp thời.
Nhóm nguyên nhân ngoại biên (thường lành tính nhưng gây khó chịu): Phổ biến nhất là sỏi tai (BPPV), khi các tinh thể nhỏ trong tai trong di chuyển bất thường, khiến người bệnh chóng mặt dữ dội khi thay đổi tư thế. Ngoài ra còn có bệnh Menière (kèm ù tai, giảm thính lực) và viêm dây thần kinh tiền đình sau nhiễm virus.
Nhóm nguyên nhân trung ương (cảnh báo nguy hiểm): Bao gồm các bệnh lý liên quan đến não như đột quỵ, thiếu máu não cục bộ, u não. Đáng lưu ý là migraine tiền đình - nguyên nhân gây chóng mặt kéo dài, thường gặp ở phụ nữ trung niên.
Bên cạnh đó, còn nhiều nguyên nhân dễ bị bỏ sót như rối loạn tuyến giáp, tác dụng phụ của thuốc ở người cao tuổi hoặc chóng mặt chức năng do căng thẳng, lo âu kéo dài.
PGS.TS Võ Hồng Khôi, Viện trưởng Viện Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai, cảnh báo tình trạng lạm dụng thuốc "hoạt huyết", thuốc tuần hoàn não khi chưa rõ nguyên nhân. Nhiều người cứ chóng mặt là tự ý dùng thuốc. Điều này rất nguy hiểm vì có thể làm lu mờ triệu chứng của đột quỵ hoặc u não, khiến việc chẩn đoán bị chậm trễ.
Theo ông, chẩn đoán đúng là yếu tố quyết định. Hiện nay, với các công cụ sàng lọc như HINTS, bác sĩ có thể phân biệt chóng mặt lành tính với đột quỵ ngay từ giai đoạn sớm - "thời điểm vàng" để can thiệp và cứu sống người bệnh. Điều trị hiện đại cũng không chỉ dừng ở thuốc, mà cần kết hợp phục hồi chức năng tiền đình và hỗ trợ tâm lý để xử lý tận gốc nguyên nhân.
Các chuyên gia khuyến cáo không nên chủ quan với triệu chứng chóng mặt. Nếu chóng mặt đi kèm đau đầu dữ dội, đau cổ gáy, yếu tay chân, mất thăng bằng hoặc nói khó, cần đến ngay cơ sở y tế. Thay vì tự ý dùng thuốc theo kinh nghiệm, người bệnh nên được thăm khám tại các cơ sở chuyên khoa để có chẩn đoán chính xác và điều trị phù hợp.