Trong hội thảo khoa học diễn ra vào trung tuần tháng 3 tại Hà Nội, với chủ đề “Từ bằng chứng lâm sàng tại Việt Nam tới công nghệ đột phá MenACYW-TT: chiến lược bảo vệ tối ưu trước não mô cầu xâm lấn”, GS.TS Trần Minh Điển (Chủ tịch Hội Nhi khoa Việt Nam, Giám đốc Bệnh viện Nhi trung ương) cho biết điều đáng sợ nhất là viêm não mô cầu không dừng lại ở tốc độ lây lan nhanh chóng, mà còn là sự “ngụy trang” hoàn hảo của các triệu chứng.
Tất cả như những dấu hiệu cảm cúm thông thường, nhưng chỉ trong vòng vài giờ đến một ngày, bệnh có thể tiến triển cực nhanh thành viêm màng não, nhiễm trùng huyết, thậm chí tử vong.
Ngay cả khi may mắn sống sót nhờ điều trị tích cực, “bóng ma” hậu quả vẫn đeo bám người bệnh suốt đời với những di chứng nặng nề như: tổn thương thần kinh vĩnh viễn, giảm thính lực, hoại tử chi dẫn đến đoạn chi…
Buổi hội thảo có sự tham gia của đông đảo chuyên gia đầu ngành, tổ chức bởi Hội Nhi khoa Việt Nam, với sự tài trợ của Công ty TNHH Sanofi Aventis Việt Nam – Ảnh: DNCC
Cũng tại hội thảo, các chuyên gia đã chỉ ra một thực tế đáng báo động: Việt Nam hiện đang lưu hành đồng thời các nhóm huyết thanh gây bệnh (A, C, Y và W) – trong đó, chủng W và C có độc lực đặc biệt cao, liên quan trực tiếp đến tỉ lệ tử vong.
Trước tình hình dịch bệnh hiện tại, các chuyên gia nhấn mạnh rằng: việc dự phòng bệnh nên đi theo chiến lược ‘BẢO VỆ RỘNG’ – tức là bao phủ đủ các nhóm huyết thanh quan trọng này để tạo hàng rào phòng thủ không kẽ hở.
MenACYW-TT đã được Bộ Y tế Việt Nam chấp thuận mở rộng tiêm cho trẻ từ 6 tuần tuổi đến người lớn không giới hạn độ tuổi.
Bước ngoặt này đã tạo ra sự bảo vệ toàn diện cho cả gia đình – Ảnh: DNCC
Theo PGS.TS.BS Cao Hữu Nghĩa (Trưởng bộ môn khoa học y sinh, Viện Pasteur TP.HCM), vắc xin MenACYW-TT giúp đáp ứng miễn dịch mạnh mẽ và bền vững, đồng thời giảm khả năng lưu trú của vi khuẩn tại vòm họng, từ đó giảm tỉ lệ người lành mang trùng, góp phần cắt đứt chuỗi lây truyền trong cộng đồng.
Chuyên gia cũng nhận định MenACYW-TT có khả năng duy trì hiệu quả miễn dịch từ 5 đến 10 năm.
PGS.TS.BS Cao Hữu Nghĩa cho biết thêm, MenACYW-TT vẫn duy trì tính sinh miễn dịch tốt và hồ sơ an toàn thuận lợi ngay cả khi sử dụng đồng thời với các vắc xin thường quy khác.
Thêm một ưu điểm của vắc xin MenACYW-TT được TS.BS Nguyễn An Nghĩa (Phó khoa nhiễm – thần kinh Bệnh viện Nhi đồng 1, giảng viên Đại học Y dược TP.HCM) nhấn mạnh tại hội thảo ngày 4-3-2026, vắc xin tạo đáp ứng miễn dịch mạnh cho trẻ.
Điều này giúp đơn giản hóa lịch tiêm chủng, phụ huynh tiết kiệm thời gian và chi phí nhưng vẫn đảm bảo con được bảo vệ đầy đủ trước viêm não mô cầu.
Việc chủ động dự phòng viêm não mô cầu bằng vắc xin không chỉ là giải pháp y tế tối ưu mà còn là chiến lược bảo vệ sức khỏe đa thế hệ, thiết lập lá chắn miễn dịch vững chắc, cắt đứt chuỗi lây nhiễm trong cộng đồng, hướng tới tương lai nơi mọi người dân đều khỏe mạnh, bình an và vui sống!
"Ung thư phổi hoàn toàn có thể điều trị hiệu quả nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm, với tỷ lệ sống trên 5 năm có thể lên tới 70-90%. Ngược lại, phát hiện muộn khiến việc điều trị kéo dài, tốn kém và chủ yếu chỉ nhằm kiểm soát bệnh", PGS Đỗ Hùng Kiên, Phó giám đốc Bệnh viện K, cho biết tại chương trình truyền hình trực tuyến Sàng lọc sớm ung thư phổi – từ câu chuyện người bệnh đến nhu cầu chính sách quốc gia, hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7/4.
PGS Kiên cho biết hệ thống y tế hiện chỉ tiếp nhận khoảng 20% bệnh nhân ung thư phổi ở giai đoạn sớm đủ điều kiện phẫu thuật. Số còn lại đã mất cơ hội mổ do bệnh tiến triển nặng, trong đó giai đoạn 4 chiếm 40-50% và giai đoạn ba chiếm 25-30%. Hầu hết người dân chỉ đi khám khi cơ thể xuất hiện các triệu chứng toàn thân như khó thở, đau ngực, ho kéo dài, hoặc tế bào ung thư đã di căn gây đau xương, nhức đầu.
Phó giám đốc Bệnh viện K nhấn mạnh việc phát hiện bệnh ngay từ giai đoạn đầu giúp bác sĩ phẫu thuật triệt căn, mang lại tỷ lệ sống trên 5 năm lên tới 70-90%. Bệnh nhân tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian nằm viện và nhanh chóng trở lại nhịp sống thường nhật.
Ngược lại, khi khối u bước sang giai đoạn hai, tỷ lệ sống giảm còn 50-60%, giai đoạn ba tụt xuống 10-36% và giai đoạn cuối chỉ vỏn vẹn 10%. Quá trình chữa trị muộn màng đòi hỏi y bác sĩ phối hợp đa mô thức trong thời gian dài, gây áp lực lớn lên toàn hệ thống y tế và chủ yếu phục vụ mục tiêu kiểm soát bệnh thay vì chữa khỏi hoàn toàn. Cùng một khoảng thời gian, bác sĩ có thể cứu chữa lượng bệnh nhân giai đoạn sớm cao gấp 2-3 lần so với nhóm đến muộn.
Lý giải nguyên nhân, TS Lê Thái Hà, Phó Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế), nhận định người dân chưa hình thành thói quen tầm soát định kỳ. Hiện nay, chúng ta chủ yếu tìm ra bệnh nhân thông qua các đợt khám sức khỏe cơ quan hoặc hoàn toàn tình cờ.
Giới chuyên môn dự báo số ca ung thư phổi tại Việt Nam sẽ tiếp tục tăng do tỷ lệ hút thuốc và mức độ ô nhiễm không khí vẫn duy trì ở mức cao. Từ bài học thành công trong việc tầm soát cộng đồng của Nhật Bản và Malaysia, các chuyên gia đề xuất ngành y tế Việt Nam cần sớm xây dựng chương trình sàng lọc ung thư phổi quy mô quốc gia kèm cơ chế hỗ trợ chi phí nhằm giải quyết tận gốc vấn đề.
Giới y khoa hiện áp dụng phương pháp chụp CT liều thấp để phát hiện mầm mống ung thư phổi ngay cả khi cơ thể chưa lên tiếng. Tuy nhiên rào cản chi phí khiến kỹ thuật này chưa phổ biến rộng rãi. Các bác sĩ khuyến cáo nhóm nguy cơ cao bao gồm người trên 50 tuổi, người hút thuốc lá lâu năm, người sống trong môi trường ô nhiễm hoặc mắc bệnh phổi mạn tính cần chủ động tìm đến cơ sở y tế để tầm soát định kỳ.
Tình trạng không thể uống hết 2 lít nước lọc một ngày không phải là dấu hiệu "yếu" mà cho thấy hệ thống điều hòa nước của cơ thể đang hoạt động hiệu quả. Các cơ chế sinh học như giảm cảm giác khát, tăng bài tiết nước tiểu và tạo cảm giác đầy bụng được thiết kế để ngăn cơ thể hấp thu quá nhiều nước trong thời gian ngắn.
Nước là nhu cầu sinh tồn nên cơ thể có cơ chế kiểm soát rất nghiêm ngặt. Chỉ cần nồng độ muối trong máu tăng nhẹ, não bộ lập tức phát tín hiệu khát để thúc đẩy việc uống nước. Ngược lại, khi cơ thể đã nhận đủ nước, các tín hiệu "tắt khát" sẽ được kích hoạt rất nhanh. Chỉ cần vài tín hiệu từ miệng, họng và dạ dày khi nước vừa được uống vào, não đã nhận biết rằng cơ thể sắp được bù nước. Khi đó, cảm giác khát giảm ngay cả trước khi nước được hấp thu hoàn toàn. Đồng thời, thận bắt đầu tăng thải nước tiểu để giữ cân bằng dịch.
Các nghiên cứu thần kinh học cho thấy khi cơ thể đã đủ nước, việc nuốt thêm trở nên khó khăn hơn rõ rệt. Điều này giải thích vì sao nhiều người cảm thấy rất khó uống tiếp khi đã uống quá nhiều nước.
Ngoài ra, một yếu tố quan trọng khác là cảm giác căng dạ dày. Khi uống nước liên tục, dạ dày nhanh chóng bị giãn ra và tạo cảm giác đầy bụng. Trong các thử nghiệm sinh lý, nhiều người bắt đầu cảm thấy "no nước" sau khoảng 400-700 ml.
Trái ngược với nước lọc, bia lại tác động đến cơ thể theo nhiều con đường khiến người uống dễ tiêu thụ nhiều hơn. Bia thường được uống lạnh, có ga và có hương vị đặc trưng. Các yếu tố này làm tăng cảm giác sảng khoái và dễ uống. Khí CO₂ trong bia còn có thể tạo ra hiện tượng ợ hơi, giúp giảm áp lực trong dạ dày, khiến người uống cảm thấy "nhẹ bụng" hơn dù lượng chất lỏng đã khá lớn.
Thứ hai là tác động của rượu lên não bộ. Ethanol trong bia là một chất hướng thần, có khả năng kích hoạt hệ thống thưởng của não, đặc biệt là hệ dopamine. Chỉ riêng mùi hoặc vị bia cũng có thể làm tăng cảm giác muốn uống thêm, ngay cả khi lượng cồn chưa đủ gây say.
Không chỉ vậy, rượu bia còn làm suy giảm khả năng kiểm soát hành vi. Khi nồng độ cồn trong máu tăng, não bộ trở nên kém nhạy với các tín hiệu nội cảm như đầy bụng hoặc "đủ rồi". Điều này khiến người uống dễ tiếp tục uống dù cơ thể đã bắt đầu quá tải. Khi uống nhiều bia trong thời gian dài, tổng lượng cồn lớn vẫn có thể gây mất nước, rối loạn điện giải và nhiều nguy cơ sức khỏe khác.
Bác sĩ Nguyễn Huy HoàngHội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam
Tình trạng này bắt nguồn từ ba năm trước, khi một cơ sở thẩm mỹ của người quen tư vấn cô tiêm loại filler "cao cấp từ Thụy Sĩ" nhằm duy trì 7-8 năm. Vài ngày sau tiêm, cô chịu những cơn đau nhức và tấy đỏ vùng mông.
Khi đó, bác sĩ Bệnh viện Bỏng quốc gia chẩn đoán viêm và khuyên hút toàn bộ filler ra ngoài. Vì sợ ảnh hưởng đến thẩm mỹ, cô từ chối hút, chỉ đồng ý cho bác sĩ xử lý các điểm viêm.
Ba năm sau, vòng ba bất ngờ sưng đau trở lại, viêm nhiễm bùng phát nặng nề khiến cô phải quay lại viện cấp cứu.
Ngày 6/4, TS.BS Tống Hải, Phó giám đốc Trung tâm Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và Tái tạo, Bệnh viện Bỏng quốc gia, cho biết bệnh nhân nhập viện trong tình trạng nặng. Bác sĩ đánh giá hai bên đùi và hông người bệnh xuất hiện nhiều ổ áp xe, viêm đỏ lan rộng, dịch mủ chảy liên tục và đã chớm nhiễm khuẩn huyết - biến chứng nguy hiểm nhất khi vi khuẩn xâm nhập vào máu.
Để cứu bệnh nhân, ê kíp y tế sử dụng phác đồ kháng sinh phổ rộng mạnh nhất, đồng thời phẫu thuật 5 lần nhằm nạo vét, đặt ống dẫn lưu và loại bỏ tối đa chất làm đầy. Sau hơn ba tuần điều trị tích cực, sức khỏe toàn thân của người phụ nữ dần cải thiện, vết thương sạch dịch nhưng bác sĩ vẫn phải theo dõi sát để tránh tái phát.
Theo bác sĩ Hải, các cơ sở thường tiêm những loại filler không đồng nhất, tồn tại lâu như "mỡ nhân tạo" gây khó khăn cho quá trình nạo vét. Bác sĩ khuyến cáo người dân chỉ dùng chất làm đầy cho các vùng nhỏ như mũi, cằm, má, môi. Với các vùng diện tích lớn như ngực hay mông, việc tiêm filler tiềm ẩn nguy cơ biến chứng rất cao.
Để đảm bảo an toàn, khách hàng cần lựa chọn cơ sở y tế do cơ quan chức năng cấp phép, bác sĩ chuyên khoa tạo hình thẩm mỹ trực tiếp thực hiện và sử dụng sản phẩm rõ nguồn gốc. Khi vùng tiêm xuất hiện dấu hiệu đau, sưng, đỏ hoặc tụ dịch, người dân cần đến ngay bệnh viện uy tín để bác sĩ can thiệp kịp thời, ngăn chặn nguy cơ hoại tử, nhiễm trùng máu hoặc tử vong.