Mục Lục
ToggleTheo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông tư mới được ban hành nhằm đổi mới căn bản công tác kiểm định chất lượng, chuyển từ cách tiếp cận “đạt chuẩn” sang “cải tiến chất lượng liên tục”, tiệm cận các chuẩn mực khu vực và quốc tế, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Thông tư mới đã rút gọn bộ tiêu chuẩn đánh giá từ 25 tiêu chuẩn, 111 tiêu chí xuống còn 15 tiêu chuẩn và 60 tiêu chí, được cấu trúc theo ba nhóm chính gồm: chiến lược, hệ thống và kết quả.
Thay đổi này nhằm giảm trùng lập, tập trung vào các yêu cầu cốt lõi và phản ánh đầy đủ chu trình quản trị chất lượng của cơ sở giáo dục đại học.
Bên cạnh đó, phương thức đánh giá cũng được đổi mới theo hướng thực chất, dựa trên vận hành và hiệu quả của hệ thống bảo đảm chất lượng, thay vì chỉ dừng lại ở việc kiểm tra sự tuân thủ hồ sơ.
Thông tư xác lập rõ việc chuyển từ kiểm định dựa trên “tuân thủ quy định” sang “cải tiến chất lượng liên tục”.
Theo đó, chất lượng được đánh giá không chỉ ở mức đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu, mà còn ở mức độ cơ sở giáo dục đạt được mục tiêu do chính mình xác lập.
Đáng chú ý, thông tư quy định ba mức đánh giá gồm: đạt, đạt có điều kiện và không đạt.
Cơ sở giáo dục đại học được đánh giá là đạt có điều kiện khi có không quá 4 tiêu chuẩn không đạt. Trong trường hợp này, cơ sở giáo dục đại học phải xây dựng và triển khai kế hoạch cải tiến chất lượng, bảo đảm hoàn thiện các nội dung không đạt trong thời gian không quá 24 tháng kể từ ngày được công nhận đạt có điều kiện, để đáp ứng điều kiện được công nhận đạt theo quy định.
Quy định mới cũng đã tăng cường yêu cầu công khai, minh bạch: các cơ sở giáo dục phải công bố báo cáo tự đánh giá và báo cáo đánh giá ngoài, nâng cao trách nhiệm giải trình trước xã hội.
Công tác hậu kiểm và cơ chế thu hồi giấy chứng nhận kiểm định cũng được bổ sung nhằm bảo đảm chất lượng được duy trì thực chất.
Theo thông tư, chu kỳ kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học là 5 năm, đồng thời quy định rõ quy trình tự đánh giá, đánh giá ngoài và công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng.

Tại trụ sở chính của UNESCO ở Paris, Pháp, lễ công bố cấp cao của báo cáo GEM (báo cáo Giám sát giáo dục toàn cầu) mới đây đã quy tụ hơn 21 bộ trưởng, thứ trưởng bộ giáo dục và đào tạo cùng nhiều các chuyên gia, lãnh đạo giáo dục của nhiều quốc gia. vùng lãnh thổ.
Cùng với đó là sự tham gia của các thiết chế định hình chính sách và dòng chảy nguồn lực như Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Ủy ban châu Âu (European Commission), Liên minh toàn cầu vì giáo dục (Global Partnership for Education), Viện quốc tế về quy hoạch giáo dục của UNESCO (IIEP UNESCO)...
Tham dự lễ công bố báo cáo với tư cách học giả Chevening ngành lãnh đạo Giáo dục tại ĐH UCL (Vương quốc Anh), tôi cho rằng điều đáng chú ý không nằm ở quy mô hội nghị, mà ở cách các vấn đề được đặt lại một cách có hệ thống. Đặc biệt là câu chuyện về công bằng giáo dục. Điểm cốt lõi của báo cáo nằm ở 3 câu hỏi.
Một trao đổi với tiến sĩ Manos Antoninis, Giám đốc Báo cáo giám sát giáo dục toàn cầu (GEM), đã gợi mở thêm cho tôi một điểm đáng suy nghĩ. Điều ông quan tâm không chỉ là tốc độ mở rộng hệ thống giáo dục, mà là cách một quốc gia lựa chọn ưu tiên khi nguồn lực luôn hữu hạn.
Nói cách khác, điều quan trọng không chỉ là mở rộng hệ thống giáo dục bao nhiêu, mà là sự mở rộng đó đang tạo khác biệt ở đâu và cho ai.
Mở rộng tiếp cận cơ hội được đi học cho mọi người, nhưng chưa chắc đồng nghĩa với thu hẹp bất bình đẳng. Một hệ thống có thể tăng nhanh về quy mô mà vẫn giữ nguyên, thậm chí làm sâu thêm, khoảng cách giữa những nhóm người học có xuất phát điểm khác nhau, khi việc mở rộng chủ yếu diễn ra ở điểm đầu vào, trong khi chất lượng học tập, các lộ trình học tiếp và cơ hội sau giáo dục lại phân bổ rất không đồng đều.
Trong trường hợp đó, bất bình đẳng trong giáo dục không biến mất mà dịch chuyển qua các tầng của hệ thống. Việc người ta quan tâm không chỉ là ai được đi học. Mà là được đi học trong điều kiện nào, ai có nhiều lựa chọn hơn sau khi học, ai có thể chuyển hóa giáo dục thành cơ hội phát triển trong cuộc đời.
Trên giấy tờ, không ít quốc gia đã có những định hướng đúng về giáo dục, từ mở rộng tiếp cận, cải thiện chất lượng đến thúc đẩy công bằng giáo dục. Nhưng khi đi vào thực tế, khoảng cách giữa cam kết và kết quả lại xuất hiện, không phải vì thiếu chính sách, mà vì chính sách không đi trọn được đến lớp học.
Điểm nghẽn thường không nằm ở cấp chính sách quốc gia, mà ở cách chính sách được triển khai qua nhiều tầng nấc thang. Từ quy định chung, đến hướng dẫn cụ thể, rồi đến thực hành trong từng nhà trường, mỗi bước đều có thể làm "hao hụt" ý định ban đầu. Khi xuống đến lớp học, giáo viên thường phải đối diện với những tình huống rất khác với giả định trong chính sách, trong khi không phải lúc nào cũng có đủ điều kiện hoặc không gian để điều chỉnh.
Bên lề chương trình, khi chúng tôi trao đổi với ông Sobhi Tawil, Giám đốc Ban tương lai học tập và đổi mới của UNESCO, câu chuyện được mở rộng sang vai trò của giáo viên trong bối cảnh AI. Theo ông, điều cần quan tâm không chỉ là công nghệ đi vào nhà trường nhanh đến đâu, mà là giáo viên có được chuẩn bị để sử dụng công nghệ theo hướng hỗ trợ người học hay không. Trong một môi trường học tập ngày càng nhiều nguồn tri thức, vai trò của giáo viên không giảm đi, mà chuyển sang yêu cầu cao hơn về định hướng, lựa chọn và dẫn dắt việc học.
Công bằng giáo dục, trong nhiều trường hợp, không đến từ việc phân bổ đồng đều, mà từ khả năng hướng nguồn lực đến những điểm cần thiết nhất, đặc biệt với những nhóm người học có nguy cơ bị gián đoạn hành trình học tập.
Chúng tôi có một trao đổi ngắn với giáo sư Giuseppe Valditara, Bộ trưởng Giáo dục và Trọng dụng năng lực của Ý. Khi nói về công bằng trong giáo dục, ông không đặt trọng tâm vào việc mở rộng cơ hội theo nghĩa hình thức, mà vào cách hệ thống sử dụng các công cụ tài chính cụ thể, đặc biệt là học bổng và các chương trình hỗ trợ đi kèm, để giữ người học ở lại trong hành trình học tập.
Khi được thiết kế đúng, các công cụ này không chỉ giảm bớt rào cản tài chính trực tiếp, mà còn tạo ra điều kiện để người học có thể tiếp tục theo đuổi việc học một cách ổn định hơn.
Trong cách tiếp cận đó, công bằng không nằm ở việc tất cả đều nhận được như nhau, mà ở việc những học sinh có nguy cơ bị bỏ lại phía sau được hỗ trợ đủ để không rơi khỏi hệ thống.
Điều này đòi hỏi các chính sách tài chính không chỉ dừng ở mức phân bổ ngân sách, mà phải đi kèm với những chương trình cụ thể, có khả năng theo sát và hỗ trợ người học trong suốt quá trình.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển với những kỳ vọng rất lớn, từ tăng trưởng kinh tế đến chuyển dịch sang một nền kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ, công bằng giáo dục vì thế không còn là câu chuyện của riêng ngành giáo dục.
Trong một thời gian dài, mở rộng cơ hội đi học được xem là thước đo quan trọng nhất của giáo dục. Nhưng khi cánh cửa trường học đã mở rộng hơn bao giờ hết, câu hỏi đặt ra không còn dừng ở việc bao nhiêu người có thể bước vào, mà chuyển sang một điều khó hơn nhiều, ai có thể đi đến cùng, và đi đến cùng với chất lượng ra sao.
Chính ở điểm chuyển này, câu chuyện về giáo dục không còn là vấn đề của riêng ngành giáo dục, mà bắt đầu chạm trực tiếp đến năng lực tăng trưởng của mỗi quốc gia. Khi những khác biệt trong hành trình học tập không được giải quyết, chúng không dừng lại trong lớp học, mà kéo dài sang thị trường lao động, năng suất và khả năng cạnh tranh trong dài hạn.
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mà công nghệ và AI đang định hình lại cách con người học và làm việc, những khác biệt về điều kiện học tập nếu không được xử lý sớm sẽ không dừng lại trong lớp học, mà kéo dài sang thị trường lao động và cơ hội phát triển sau này. Khi đó, bất bình đẳng trong giáo dục không còn là một vấn đề xã hội thuần túy, mà trở thành một giới hạn trực tiếp đối với năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Vì vậy, tiếp cận và công bằng không chỉ là những mục tiêu cần đạt được, mà là điều kiện để hệ thống giáo dục có thể thực hiện được vai trò của mình. Một hệ thống có thể mở rộng rất nhanh, nhưng nếu không giữ được sự cân bằng giữa các nhóm người học, thì chính tốc độ đó có thể tạo ra những khoảng cách mới.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Hành trình 30 năm từ 'con nhà nòi' đến nữ giáo sư ngành Xây dựng

GS. TS Trần Thị Việt Nga, Viện trưởng - Viện Công nghệ cao Việt Nhật và giảng viên cao cấp tại khoa Kỹ thuật Môi trường, trường Đại học Xây dựng Hà Nội, được trao giải Kovalevskaia năm 2025, hồi tháng 3.
Giải thưởng mang tên nhà toán học người Nga - Sophia Kovalevskaia, để vinh danh những nhà khoa học nữ có thành tựu xuất sắc của Việt Nam.
Tại Đại học Xây dựng Hà Nội, chị Nga giảng dạy môn Xử lý nước thải, Hóa nước - Hóa môi trường, Công nghệ xử lý nước thải bậc cao và Quản lý tổng hợp nguồn nước. Hướng nghiên cứu của chị tập trung vào phát triển, cải tiến công nghệ xử lý nước và nước thải; quản lý nước và chất thải bền vững để đảm bảo an ninh năng lượng, thu hồi tài nguyên và thích ứng biến đổi khí hậu.
"Giải Kovalevskaia là giải thưởng mà tôi ao ước từ khi còn đi học. Tôi xúc động vì mình đã có vinh dự này sau gần 30 năm", chị Nga nói.
Chị Nga có bố là GS. TSKH Trần Hữu Uyển, chuyên gia khoa học hàng đầu ngành Kỹ thuật cấp thoát nước. Thừa hưởng tinh thần học tập, nghiên cứu từ gia đình, chị sớm đam mê khoa học, khát khao khám phá những kiến thức mới.
Năm 1991, cô nữ sinh chuyên Hóa trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam thi vào Đại học Xây dựng Hà Nội, khoa Kỹ thuật hạ tầng và cấp thoát nước. Khi ấy, lựa chọn của chị giản đơn - muốn tiếp bước cha trong lĩnh vực mà ông đã dành cả đời nghiên cứu.
Càng học, chị càng thấy mình phù hợp, nhờ tư duy logic về kỹ thuật, được rèn giũa từ môi trường khoa học trong gia đình. Nền tảng chuyên Hóa cũng giúp chị nắm bắt tốt các quá trình hóa sinh trong xử lý và kiểm soát ô nhiễm nước.
Bên cạnh đó, kỹ thuật cấp thoát nước vốn là tổng hòa liên ngành kỹ thuật-xã hội, liên quan con người và môi trường, đòi hỏi hiểu biết nhiều chiều và có hệ thống. Đây đều là những vấn đề thách thức mà chị quan tâm, thôi thúc chị tiếp tục học lên cao, theo con đường nghiên cứu, giảng dạy.
Năm 1996, chị Nga tốt nghiệp xuất sắc, sau đó nhận học bổng du học thạc sĩ tại Viện Kỹ thuật Châu Á (AIT), Thái Lan. Trước ngày lên đường, nhiều người "rào" rằng học sâu về ngành này rất nặng. Nhưng chị Nga không thấy áp lực mà còn học đầy say mê.
"Khó khăn là điều bình thường trong cuộc sống. Thậm chí, đó luôn là động lực, cảm hứng để tôi nỗ lực", chị Nga tâm niệm.
Ba năm sau, chị nhận học bổng tiến sĩ tại Đại học Tokyo - ngôi trường top 1 Nhật Bản, rồi làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ ở Đại học Liên Hiệp Quốc (JSPS), lĩnh vực Môi trường và Phát triển bền vững.
Theo chị Nga, mỗi giai đoạn trên chặng đường học thuật đều có những khó khăn, đòi hỏi chị có giải pháp riêng. Thời đại học và cao học, khi mọi nhiệm vụ đều rõ ràng, chị luôn cố gắng mở rộng kiến thức đã học, hoàn thành tốt hơn yêu cầu để tự chinh phục tri thức mới.
Còn khi trở thành một nhà khoa học độc lập, cần tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề, chị "lăn lộn" để nhìn thấu đáo một bài toán. Khi đã ra được định hướng tốt nhất, "việc còn lại là tập trung và nỗ lực hết mình".
Để hoàn thành những nghiên cứu mà nhiều người gọi là "thành tựu", theo chị Nga, là hàng trăm, hàng nghìn lần thử nghiệm thất bại. Hiểu rằng đó là điều tất yếu trong khoa học, khi nghiên cứu không đạt kỳ vọng ban đầu, chị quay lại "lục lọi", đánh giá phương pháp và thử từ đầu. Cứ như vậy, sau mỗi lần một thí nghiệm thành công là một lần chị được "thắp" thêm sự tự tin để đi tiếp.
Tới nay, chị đã thực hiện 21 đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp, trong đó làm chủ nhiệm hai đề tài cấp Nhà nước, 6 cấp bộ. Mỗi nghiên cứu đều là "đứa con khoa học" mà chị dành nhiều tâm huyết, tiêu biểu là công trình phát triển công nghệ màng lọc MBR và AnMBR trong xử lý nước thải.
Theo chị Nga, công nghệ này có hiệu quả cao và mở ra nhiều tiềm năng ngoài xử lý và loại bỏ ô nhiễm. Nó giúp tái sử dụng nước cho những mục đích phi ăn uống (như nông nghiệp), đồng thời cho phép thu hồi những vật chất có ích để tái tạo sản phẩm phục vụ cuộc sống, ví dụ khí sinh học từ nguồn thải.
Trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghiệp, môi trường, chị Nga nhận định hành trình đưa kết quả từ phòng thí nghiệm tới thực tế là rất dài. Nó đòi hỏi nguồn lực lớn để triển khai trên quy mô rộng, cùng sự hợp lực từ các cơ quan nhà nước và ý thức doanh nghiệp để môi trường được đặt vào đúng vị thế quan trọng.
Vì vậy, giải thưởng Kovalevskaia không chỉ là sự ghi nhận cho một cá nhân, mà còn cho một lĩnh vực đời sống rất quan trọng. Đây cũng là động lực để chị tiếp tục nghiên cứu, cống hiến cho phát triển xanh, sạch và bền vững.
Chị Nga cho rằng chất lượng nước luôn là vấn đề quan trọng ở tất cả cấp độ phát triển của xã hội, nên những nghiên cứu về nó sẽ không bao giờ dừng lại. Nữ giảng viên dự định tiếp tục tìm hiểu ứng dụng công nghệ màng trong xử lý nước thải để giải quyết những bài toán ngoài khả năng của công nghệ truyền thống.
Nhìn lại hành trình, chị Nga tin rằng nỗ lực trau dồi kiến thức nền tảng, mở rộng tri thức, và học cách bắt nhịp với những xu hướng nghiên cứu của thế giới chính là chìa khóa cho các bạn trẻ dấn thân vào con đường học thuật lâu dài.
"Nghiên cứu là gian lao, nhưng rất thú vị. Nếu yêu thích, không gì là không thể vượt qua", chị Nga tâm niệm.
Chị cũng tin rằng, trong những nghiên cứu kỹ thuật liên quan tới đời sống, các nhà khoa học nữ có lợi thế ở khả năng thấu cảm, sự phối hợp hài hòa trong nhóm nghiên cứu và khả năng nhìn nhận thấu đáo. Dù phải gánh vác nhiều trách nhiệm, đó cũng là cơ hội quý để rèn luyện nỗ lực, sự kiên trì và khả năng tổ chức công việc hiệu quả.
"Khoa học rất bình đẳng. Có sự nỗ lực và tập trung sẽ giúp chúng ta thành công", chị nói.
Tin Gốc: Vnexpress

Hội thảo Toán học Hà Nội - Singapore diễn ra ngày 4 và 5/4, do khoa Toán của Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) tổ chức.
Song song chuỗi bài giảng đại chúng, GS Han Fei, Phó khoa Toán NUS, khuyến khích sinh viên Việt Nam ứng tuyển vào chương trình cao học toán của trường, đặc biệt là chương trình tiến sĩ.
Ông cho hay khoa có 120 nghiên cứu sinh tiến sĩ nhưng lượng học viên Việt còn ít, chỉ 3-5 người. GS Fei cho rằng con số này chưa tương xứng với quy mô dân số và tiềm năng về nguồn học viên.
"Chúng tôi rất thích sinh viên Việt Nam. Các bạn có nền tảng giáo dục cao, thông minh, chăm chỉ, thái độ tốt", GS Fei nói, kỳ vọng số nghiên cứu sinh người Việt sẽ tăng lên.
Theo ông, họ sẽ được nâng cao kỹ năng nghiên cứu, mang kinh nghiệm và kiến thức trở về đóng góp cho Việt Nam. Ở chiều ngược lại, họ hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và môi trường đa văn hóa ở NUS.
Ông Fei khuyến khích sinh viên Việt Nam ứng tuyển vào chương trình tiến sĩ Toán, ba chương trình thạc sĩ Toán, Tài chính định lượng và Khoa học dữ liệu và học máy.
Trong đó, chương trình thạc sĩ Toán là bước chuyển tiếp cho những sinh viên muốn học lên tiến sĩ và trở thành nhà nghiên cứu. Hai chương trình thạc sĩ còn lại định hướng giúp sinh viên đáp ứng nhu cầu của thị trường việc làm trong thời kỳ AI bùng nổ.
Về hướng giảng dạy và nghiên cứu, ngoài các lĩnh vực toán thuần túy, khoa Toán NUS tập trung phát triển ứng dụng vào Khoa học dữ liệu, Tin sinh học, Khoa học tính toán và phân tích số, Tối ưu hóa và Xử lý ảnh.
GS Đinh Tiến Cường, thành viên Hội đồng khoa học của VIASM, nhận định Singapore đang phát triển nhanh hơn sức tưởng tượng của nhiều người về khoa học công nghệ. So với khi ông bắt đầu làm việc tại đây 11 năm trước, ngày càng nhiều sinh viên quốc tế từ châu Âu hay Mỹ tới học, thay vì chỉ sinh viên ở châu Á.
Anh Trần Chiêu Minh, giáo sư bậc một tại khoa Toán NUS, đánh giá sinh viên Việt có cơ hội cạnh tranh ngang ngửa với những sinh viên giỏi tại NUS. Anh bày tỏ hy vọng có thêm nhiều hoạt động cộng tác của khoa tại Việt Nam.
Theo thông tin, nghiên cứu sinh tiến sĩ được trả toàn bộ học phí, nhận trợ cấp 4.000 SGD (khoảng 82 triệu đồng) mỗi tháng và 10.000 SGD chi phí đi lại tới các hội nghị, trường hè quốc tế,... Họ có thể nhận thêm 4.100-4.300 SGD nếu đạt học bổng của trường.
Sinh viên thạc sĩ cần tự trả học phí. Riêng nhóm tới từ ba trường đối tác của NUS tại Việt Nam, gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM và Đại học Bách khoa Hà Nội, có thể đăng ký học bổng NUS ASEAN Master's để được miễn.
Năm nay, hạn cuối nộp hồ sơ cho kỳ tuyển sớm với chương trình thạc sĩ Toán tại NUS là 15/7. Với bậc tiến sĩ, ứng viên muốn bắt đầu kỳ học tháng 1 năm sau cần hoàn thành mọi giấy tờ trước 15/5. Sinh viên nộp đơn qua cổng tuyển sinh của trường.
Đại học Quốc gia Singapore hiện đứng thứ 8 thế giới theo xếp hạng năm 2026 của QS và thứ 17 theo THE. Trong đó, chất lượng đào tạo Toán trong top 8 toàn cầu, theo QS.
Khánh Linh
Tin Gốc: https://vnexpress.net/dai-hoc-so-1-singapore-moi-goi-nghien-cuu-sinh-viet-nam-5058771.html

