Mục Lục
ToggleTheo báo cáo của Bộ Tài chính tại dự thảo Nghị định của Chính phủ thay thế Nghị định số 122/2017 một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số, trong giai đoạn 2017 – 2025, thị trường xổ số tăng trưởng cao cả về doanh thu lẫn số nộp ngân sách nhà nước.
Cụ thể, doanh thu toàn thị trường xổ số tăng trưởng bình quân 10,2%/năm, trong đó tập trung chủ yếu vào xổ số truyền thống. Năm 2025, doanh thu của 63 công ty xổ số kiến thiết và công ty xổ số điện toán đạt 177.196 tỉ đồng. Trong đó, khu vực miền Nam chiếm 87,78%, miền Trung chiếm 4,59%, miền Bắc chiếm 2,16% và xổ số điện toán chiếm 5,47%. Chi phí trả thưởng chiếm từ 50 – 60% doanh thu tiêu thụ vé xổ số.
Số nộp ngân sách nhà nước toàn thị trường tăng trưởng bình quân trong giai đoạn vừa qua là 8,88%/năm. Cụ thể, số nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp năm 2025 là 57.167 tỉ đồng. Trong đó khu vực miền Nam đóng góp 51.985 tỉ đồng, tương ứng chiếm 90,9%; khu vực miền Trung nộp 2.061 tỉ đồng, chiếm 3,6%; khu vực miền Bắc nộp 838 tỉ đồng, chiếm 1,5% và xổ số điện toán nộp 2.290 tỉ đồng, chiếm 4%.
Hoạt động kinh doanh xổ số đã góp phần tạo việc làm cho khoảng gần 500.000 người thuộc các đối tượng chính sách, người nghèo thông qua việc làm đại lý bán vé xổ số, với mức thu nhập bình quân gần 4 triệu đồng/người/tháng. Đồng thời đáp ứng được nhu cầu vui chơi giải trí chính đáng, lành mạnh của người dân. Thị trường xổ số đã từng bước hiện đại hóa thông qua việc đưa sản phẩm xổ số điện toán vào thị trường, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm xổ số, từng bước định hướng thị trường xổ số theo hướng minh bạch, hiệu quả, hạn chế tình trạng lô đề, cờ bạc bất hợp pháp.
Theo quy định tại luật Ngân sách nhà nước, toàn bộ số thu từ hoạt động kinh doanh xổ số là nguồn thu cho ngân sách địa phương phục vụ cho các mục tiêu nâng cao phát triển y tế, giáo dục, an sinh và phúc lợi xã hội. Phần còn lại được bổ sung nguồn vốn đầu tư cho ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật và phê duyệt của Quốc hội trong kế hoạch ngân sách hằng năm.
Trước đó, Đề án sắp xếp doanh nghiệp kinh doanh xổ số đã được Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo hướng: sắp xếp các doanh nghiệp xổ số khu vực miền Trung và miền Nam phù hợp với tổ chức đơn vị hành chính cấp tỉnh mới sau sáp nhập, sau sắp xếp mỗi tỉnh chỉ có 1 công ty xổ số kiến thiết; sắp xếp lại các công ty xổ số kiến thiết miền Bắc theo mô hình nhóm công ty mẹ – công ty con, Công ty TNHH một thành viên Xổ số điện toán Việt Nam (Vietlott) là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và các công ty xổ số kiến thiết miền Bắc là công ty con do Vietlott sở hữu 100% vốn điều lệ.
Phát triển bền vững đô thị Việt Nam: Nâng tầm vị thế quốc gia

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
"Việc đặt mục tiêu ở mức "trung bình cao" trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững", TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các "đầu tàu" nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 - 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 - 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông - việc làm - nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công - tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
"Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045", KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là "xương sống" của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.
Nóng: Chính thức hoãn thi hành Nghị định 46

Cụ thể, Nghị quyết 15 hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (6.4.2026) và thay thế Nghị quyết 09 ngày 4.2.2026 của Chính phủ về tạm ngưng hiệu lực áp dụng Nghị định 46 quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật An toàn thực phẩm; Nghị quyết 66.13 quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm của Chính phủ.
Hiệu lực áp dụng cho Nghị quyết 15 này cho đến khi luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) và nghị định hướng dẫn luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) có hiệu lực thi hành.
Trong thời gian tạm ngưng hiệu lực 2 văn bản trên, Nghị định số 15/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật An toàn thực phẩm và các văn bản quy định, hướng dẫn thi hành tiếp tục có hiệu lực. Đối với các hồ sơ đã nộp trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực được tiếp tục giải quyết theo quy định tại Nghị định số 15/2018 của Chính phủ và các văn bản quy định, hướng dẫn có liên quan.
Nghị quyết giao cho Bộ Y tế, Công thương, Nông nghiệp và Môi trường chủ động hướng dẫn tổ chức triển khai thi hành theo lĩnh vực được phân công quản lý.
Ngoài ra, Bộ Y tế có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi, giám sát, xử lý các hành vi vi phạm về đăng ký bản công bố sản phẩm, quảng cáo đối với các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực được phân công quản lý; điều kiện sản xuất đối với cơ sở đã được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đạt yêu cầu Thực hành sản xuất tốt (GMP) thực phẩm bảo vệ sức khỏe và các cơ sở đáp ứng thực hành tốt sản xuất thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền tham gia sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe.
Bộ Công thương kiểm tra, rà soát, theo dõi, giám sát, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh thực phẩm, thực phẩm giả, hàng cấm, hàng nhập lậu và các hành vi gian lận thương mại khác về thực phẩm trên nền tảng thương mại điện tử.
Bộ Khoa học và Công nghệ tăng cường kiểm tra, theo dõi, giám sát hoạt động của các tổ chức đã đăng ký hoạt động công nhận (trong đó có hoạt động công nhận phòng thử nghiệm); phối hợp với các bộ khác rà soát, hoàn thiện, bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn quốc gia về thực phẩm...
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tăng quản lý hoạt động quảng cáo theo chức năng, nhiệm vụ liên quan đến thực phẩm theo quy định tại điều 24 Nghị định 342/2025.
Đặc biệt, Chính phủ giao các bộ Y tế, Nông nghiệp và Môi trường, Công thương, Tài chính và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có trách nhiệm hoàn thiện việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng dịch vụ công quốc gia để giải quyết các thủ tục hành chính và quản lý an toàn thực phẩm, thống nhất dữ liệu quản lý về an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương; đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý sản phẩm thực phẩm.
Trước đó, Văn phòng Chính phủ có Thông báo đồng ý cho lùi thời gian thực hiện Nghị định 46, Nghị quyết 66 về công bố, đăng ký thực phẩm tiếp tục cho đến khi luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn mới có hiệu lực.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/nong-chinh-thuc-hoan-thi-hanh-nghi-dinh-46-185260407163733383.htm
Mobifone và Techcombank ký kết hợp tác: Kiến tạo hệ sinh thái tài chính, công nghệ số

Theo thỏa thuận, hai bên sẽ phối hợp triển khai các giải pháp tài chính toàn diện cho cả khách hàng doanh nghiệp và cá nhân, đồng thời thúc đẩy các chương trình marketing, khách hàng thân thiết nhằm gia tăng khả năng tiếp cận và mức độ gắn kết với người dùng. Việc tích hợp các dịch vụ tài chính trên nền tảng viễn thông được kỳ vọng sẽ tạo ra trải nghiệm liền mạch, thuận tiện, góp phần thúc đẩy thanh toán không tiền mặt và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính tới nhiều phân khúc khách hàng hơn.
Bên cạnh đó, hợp tác sẽ tập trung phát triển các nền tảng tài chính số, trung gian thanh toán, đồng thời ứng dụng mạnh mẽ dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm nâng cao năng lực phân tích, cá nhân hóa dịch vụ. Hai bên cũng đẩy mạnh kết nối hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây, song hành với việc triển khai các giải pháp an ninh thông tin, xác thực danh tính điện tử và bảo mật giao dịch, đảm bảo nền tảng vận hành an toàn, bền vững và có khả năng mở rộng trong dài hạn.
Không dừng lại ở phạm vi hợp tác kinh doanh, thỏa thuận giữa Techcombank và MobiFone còn thể hiện tầm nhìn dài hạn trong việc đồng hành cùng Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới - nơi công nghệ, dữ liệu và kết nối trở thành động lực cốt lõi cho tăng trưởng. Hai bên hướng tới xây dựng một hệ sinh thái mở, tích hợp sâu các dịch vụ tài chính và viễn thông nhằm tạo ra những giá trị gia tăng vượt trội cho người dùng và doanh nghiệp.
Phát biểu tại lễ Ký kết, ông Trần Đức Thành - Quyền Tổng giám đốc Tổng công ty Viễn thông MobiFone - nhấn mạnh: "Với sự bổ trợ thế mạnh lẫn nhau - giữa một bên là hạ tầng viễn thông, công nghệ, dữ liệu, và một bên là năng lực tài chính, ngân hàng, quản trị rủi ro - MobiFone và Techcombank sẽ tạo ra những sản phẩm, dịch vụ khác biệt, mang lại giá trị thiết thực cho khách hàng và thị trường. Việc ký kết ngày hôm nay không chỉ là sự khởi đầu cho một giai đoạn hợp tác mới, mà còn thể hiện cam kết mạnh mẽ của MobiFone và Techcombank trong việc đồng hành cùng tiến trình chuyển đổi số quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế & xã hội số tại Việt Nam".
Tại sự kiện, bà Nguyễn Thu Lan - Phó Chủ tịch HĐQT Techcombank - chia sẻ: "Chúng tôi tin rằng sự đồng điệu trong định hướng số hóa và dữ liệu sẽ giúp hai bên nhanh chóng hiện thực hóa hệ sinh thái toàn diện, để cùng tiếp tục dẫn dắt hành trình số hóa cũng như kiến tạo giá trị vượt trội cho khách hàng và đối tác. Đây là nguồn động lực lớn thúc đẩy sự phát triển của Techcombank và MobiFone lên một tầm cao mới".
Trên nền tảng đó, sự hợp tác được kỳ vọng sẽ góp phần nâng tầm chuẩn mực dịch vụ trong ngành ngân hàng và viễn thông, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia và đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển kinh tế số. Đồng thời, đây cũng là bước đi cụ thể nhằm hiện thực hóa khát vọng vươn mình của đất nước, khi các doanh nghiệp đầu ngành chủ động liên kết, phát huy nội lực và tận dụng cơ hội từ làn sóng công nghệ toàn cầu.
Là doanh nghiệp trực thuộc Bộ Công an, Tổng công ty Viễn thông MobiFone đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm hạ tầng thông tin liên lạc an toàn, tin cậy, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện các nhiệm vụ quốc gia. Với phương châm Lấy khách hàng làm trung tâm, MobiFone cung cấp đa dạng các sản phẩm, dịch vụ viễn và giải pháp số cho hàng chục triệu thuê bao cá nhân và khách hàng doanh nghiệp trên toàn quốc, thông qua hạ tầng mạng lưới phủ rộng và chất lượng dịch vụ uy tín.
Đặc biệt, MobiFone tích cực phát triển và triển khai các giải pháp số phục vụ Chính phủ và các cơ quan nhà nước, góp phần thúc đẩy xây dựng Chính quyền số. Doanh nghiệp cung cấp các nền tảng công nghệ và dịch vụ trong các lĩnh vực như quản lý dữ liệu, định danh điện tử, an toàn thông tin, đô thị thông minh và các hệ thống điều hành số, đáp ứng yêu cầu về bảo mật, ổn định và khả năng mở rộng ở quy mô quốc gia. Thông qua việc tham gia vào các chương trình chuyển đổi số trọng điểm, MobiFone không chỉ hỗ trợ nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước mà còn góp phần xây dựng hạ tầng số vững chắc, phục vụ phát triển kinh tế số và xã hội số tại Việt Nam. Với nền tảng công nghệ vững chắc và chiến lược đổi mới sáng tạo, MobiFone tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những doanh nghiệp viễn thông chủ lực, đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế số tại Việt Nam.
Về Techcombank
Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), với tầm nhìn "Chuyển đổi ngành tài chính, Nâng tầm giá trị sống" là một trong những ngân hàng cổ phần lớn nhất Việt Nam, và là một trong những ngân hàng hàng đầu khu vực châu Á. Theo đuổi chiến lược khách hàng là trọng tâm, Techcombank hiện đang cung cấp các giải pháp tài chính và dịch vụ ngân hàng đa dạng cho khoảng 18,0 triệu khách hàng, bao gồm khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp thông qua mạng lưới điểm giao dịch trải dài khắp Việt Nam cũng như dịch vụ ngân hàng số dẫn đầu thị trường. Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái, hợp tác đối tác của Ngân hàng trong nhiều lĩnh vực kinh tế chủ chốt giúp tạo nên sự khác biệt cho Techcombank tại một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới.
Techcombank hiện được xếp hạng AA- bởi FiinRatings, Ba3 bởi Moody's, BB bởi S&P, và BB- bởi Fitch, nằm trong nhóm những ngân hàng thương mại cổ phần được xếp hạng tín nhiệm cao nhất tại Việt Nam.




