Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Thưa đồng chí Chủ tịch Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội,
Thưa toàn thể đồng bào, đồng chí, cử tri cả nước và bạn bè quốc tế.
Trong giờ phút thiêng liêng, trang trọng của lễ nhậm chức Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tôi chân thành cảm ơn cử tri và nhân dân cả nước, với tinh thần trách nhiệm, khát vọng xây dựng quê hương đất nước và niềm tin son sắt vào Đảng Cộng sản Việt Nam, đã làm nên kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 rất thành công. Đây là sự hội tụ từ lịch sử ngàn năm Văn hiến của dân tộc, hun đúc hào khí, quyết tâm mãnh liệt, để hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm, để đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, là nước xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Tôi trân trọng cảm ơn Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tin cậy giới thiệu tôi đảm nhận cương vị Chủ tịch nước và Quốc hội đã tín nhiệm bầu, giao cho tôi trọng trách này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lãnh tụ thiên tài của Đảng ta và dân tộc ta; đối với các bậc tiền bối, các chiến sĩ Cách mạng, các đảng viên Cộng sản, của hàng triệu Anh hùng liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội và nghĩa vụ quốc tế cao cả; của lớp lớp nhân dân, những người đã quên mình trong lao động, sáng tạo, đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc Việt Nam.
Tôi ý thức sâu sắc, đảm nhiệm trọng trách Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là vinh dự hết sức lớn lao, là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng, cao cả, đồng thời cũng là sự tin tưởng, kỳ vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đối với người đứng đầu Đảng và Nhà nước. Tôi sẽ cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đặc biệt là tập thể Ban Chấp hành Trung ương, đưa con thuyền cách mạng vượt qua mọi sóng to gió lớn, sớm về đích, hoàn thành tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của dân tộc “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
Trong bối cảnh tình hình có nhiều thách thức mang tính thời đại, trong nước triển khai nhiều chủ trương chiến lược với các mục tiêu lớn có ý nghĩa lịch sử, ưu tiên hàng đầu của tôi trên cương vị Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là”Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững; nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân, để nhân dân được thụ hưởng mọi thành quả của phát triển; gia tăng đóng góp của Việt Nam cho hòa bình, ổn định, phát triển, tiến bộ ở khu vực và thế giới”.
Cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường; nền quốc phòng – an ninh toàn dân, toàn diện và hiện đại; hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; xã hội phát triển, đoàn kết, văn hóa và nhân văn. Kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, thực hiện tự chủ chiến lược, lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển nhanh, bền vững đất nước. Xác lập mô hình tăng trưởng mới với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, phát triển toàn diện con người Việt Nam, phát triển nhân lực chất lượng cao, trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm, bền vững. Xây dựng kỷ luật trách nhiệm, kỷ luật thực thi, nói đi đôi với làm, làm đến cùng, làm vì nhân dân, kết quả công việc phải hiệu quả, thực chất trong toàn hệ thống chính trị.
Triển khai công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế ở tầm cao mới, đóng góp hiệu quả hơn vào những mục tiêu chiến lược của đất nước và thể hiện trách nhiệm lớn hơn đối với hòa bình và phát triển của thế giới; với phương châm “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm”; đưa đất nước ta hòa cùng dòng chảy của nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại.
Hoàn thiện và triển khai Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược an ninh quốc gia đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới. Ưu tiên tăng cường tiềm lực, thực hiện tự chủ chiến lược về quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức chủ động loại trừ từ sớm, từ xa mọi nguy cơ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống. Củng cố môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh ở tầm mức cao, đóng góp vào hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Trong thực hiện nhiệm vụ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trọng tâm hàng đầu là quán triệt sâu sắc, thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, huy động sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục tiêu cao nhất, đích đến cuối cùng là nhân dân được thụ hưởng thành quả của phát triển.
Tôi mong muốn nhận được sự phối hợp chặt chẽ của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các ban, bộ, ngành, địa phương và đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài, để tôi hoàn thành sứ mệnh cao cả nhất của người đứng đầu nhà nước: bảo vệ, xây dựng, phát triển Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và phục vụ nhân dân.
Với truyền thống nghìn năm dựng nước, giữ nước và những giá trị di sản vĩ đại từ cha ông, với khát vọng vươn lên không ngừng, ý chí sắt đá và bản lĩnh kiên cường, với chân lý “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, với quyết tâm không thể để đất nước tụt hậu, không thể để nhân dân mất cơ hội phát triển, phải hành động vì tương lai lâu dài và tươi sáng cho dân tộc, với sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, nhất định Việt Nam sẽ viết tiếp những chương mới rực rỡ trong hành trình phát triển, hoàn thành các mục tiêu chiến lược đã đề ra.
Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc về việc Đảng, Nhà nước, Quốc hội, nhân dân đã tin cậy giao cho tôi trọng trách lớn.
Chúc các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đồng chí lão thành cách mạng, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các vị đại biểu Quốc hội, các vị khách quý và toàn thể nhân dân sức khỏe, hạnh phúc.
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV vừa qua đã thông qua Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng (Quy định). Đây là sự cụ thể hóa "4 kiên định" về chính trị, tư tưởng, gồm: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quy định đã thể chế hóa các quan điểm của Đảng thành những quy tắc mang tính bắt buộc nhằm nâng cao nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị, năng lực công tác, khả năng ứng phó các biến động của tình hình mới.
Trao đổi với Thanh Niên, trung tướng, GS Trần Vi Dân, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, nhìn nhận nếu công tác cán bộ là "then chốt của then chốt", thì công tác chính trị, tư tưởng là mở đường, đi trước vì nó giải quyết vấn đề nhận thức của đảng viên: "Tư tưởng thông suốt hành động mới đúng".
Thưa ông, tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh việc thực hiện nghiêm túc, nhất quán "4 kiên định" về chính trị, tư tưởng và xem Quy định về công tác chính trị, tư tưởng là sự cụ thể hóa những nguyên tắc này. Ông đánh giá thế nào về tính cấp thiết của quy định này trong giai đoạn hiện nay?
GS Trần Vi Dân: Công tác chính trị, tư tưởng không phải là mới mà đã có từ những lớp học tại Quảng Châu do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở ra để truyền bá tư tưởng cách mạng trước khi Đảng ra đời. Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam, công tác này luôn được coi là đi trước mở đường, đi cùng dẫn dắt và động viên khích lệ, đi sau để tổng kết.
Tuy nhiên, tại sao bây giờ lại cần một quy định riêng biệt và mang tính hệ thống như vậy? Có 2 lý do chính. Thứ nhất, trước đây các nội dung này nằm tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau như Điều lệ Đảng, các nghị quyết, kết luận. Đây là lần đầu tiên Đảng có một quy định riêng, tích hợp và hệ thống lại một cách rõ ràng, thống nhất, tập trung để làm công cụ xây dựng Đảng vững mạnh.
Thứ hai, chúng ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những điều kiện mới, nơi mà "thuyền to thì sóng lớn". Các nguy cơ từ năm 1994 như tụt hậu kinh tế, "diễn biến hòa bình", chệch hướng xã hội chủ nghĩa và tham nhũng vẫn hiện hữu, thậm chí diễn biến phức tạp hơn. Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nếu cán bộ không vững vàng về chính trị, tư tưởng thì rất dễ dẫn đến mất cảnh giác, dao động, thậm chí là "tự diễn biến".
Xin ông phân tích sâu hơn về nội dung kiên định đầu tiên: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh?
Đây là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chúng ta kiên định không phải là giáo điều, máy móc mà là vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu thời đại. Thực tế đã chứng minh sở dĩ chúng ta thắng được các đế quốc lớn là nhờ sức mạnh của ý chí và tư tưởng. Khi sức mạnh "cứng" (vũ khí, trang thiết bị) của ta còn hạn chế, thì chính chính trị, tư tưởng đã biến những con người bình thường thành anh hùng.
Ngày nay, giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn nguyên vẹn. Ngay cả các học giả tư sản phương Tây cũng có những công trình chứng minh tính đúng đắn trong các luận điểm của Mác. Việc kiên định nền tảng này giúp chúng ta không bị lạc lối trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, một chế độ hướng tới việc giải quyết triệt để các bất công và đem lại hạnh phúc thực sự cho con người, điều mà các chế độ khác chưa làm được.
Nội dung kiên định thứ hai được Tổng Bí thư nhắc tới là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Thưa ông, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, mục tiêu này cần được hiểu và bảo vệ như thế nào?
Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là mục tiêu và lý tưởng của Đảng ta ngay từ khi mới thai nghén. Độc lập dân tộc là điều kiện cần, còn Chủ nghĩa xã hội là điều kiện đủ để đất nước phát triển bền vững. Cần lưu ý rằng độc lập dân tộc bao gồm độc lập cả về chủ quyền lẫn đường lối. Nếu chúng ta lơi lỏng, không kiên định, chúng ta có thể mất quyền tự chủ bất cứ lúc nào, không chỉ về chủ quyền lãnh thổ mà còn về đường lối chính trị.
Việc kiên định mục tiêu này giúp chúng ta thoát khỏi sự khủng hoảng về đường lối mà các phong trào yêu nước trước đây từng gặp phải. Trong thời đại mới, việc xây dựng Chủ nghĩa xã hội chính là tạo ra nguồn lực và sức mạnh tổng hợp để bảo vệ nền độc lập đó một cách tốt hơn. Hai ngọn cờ này phải luôn song hành, không thể buông lơi bất cứ phía nào.
Một điểm rất mới và quan trọng là kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Ông có thể lý giải vì sao nội dung này lại được đặt ngang hàng với các nền tảng tư tưởng cốt lõi?
Điều này cho thấy sự trưởng thành vượt bậc về lý luận của Đảng. Sau gần 40 năm đổi mới, chúng ta đã hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối này, đủ để xác định đó là một cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng bên cạnh chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới là quá trình có tính quy luật để giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực.
Kiên định đổi mới có nghĩa là đổi mới đúng định hướng, đổi mới có nguyên tắc chứ không phải là sự thay đổi vô nguyên tắc. Nhờ kiên định đường lối này, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã thay đổi căn bản. Từ chỗ mong muốn thêm bạn bớt thù, phá thế bao vây cấm vận, đến nay chúng ta đã sẵn sàng là đối tác tin cậy và tham gia định hình các cơ chế quốc tế. Sự ghi nhận của thế giới đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay cả từ những quốc gia có thể chế chính trị khác biệt, chính là minh chứng rõ nhất cho sự đúng đắn của đường lối này.
Nội dung kiên định cuối cùng là kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Vì sao đây lại là chìa khóa để bảo vệ Đảng từ bên trong, thưa ông?
Các nguyên tắc như tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình là điều kiện bắt buộc để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế cho thấy, hầu hết các sai phạm của cán bộ dẫn đến xử lý kỷ luật thời gian qua đều bắt nguồn từ việc vi phạm các nguyên tắc tổ chức này. Kiên định các nguyên tắc này giúp giữ vững kỷ luật, kỷ cương và bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng.
Bên cạnh đó, quy định mới cũng hướng tới việc để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên. Dân là gốc, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân giám sát. Khi các nguyên tắc được công khai, nhân dân sẽ là thước đo chuẩn xác nhất để đánh giá sự gương mẫu của người đảng viên. Quy định này thực chất là để cấp ủy, đảng viên tốt hơn, gương mẫu hơn để phục vụ nhân dân tốt hơn.
Chiều 6.4, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, với 100% đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội thông qua Nghị quyết bầu chủ tịch Hội đồng Dân tộc và chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội khóa XVI.
Theo đó, ông Lâm Văn Mẫn, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội khóa XV, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội khóa XVI.
Ông Phan Chí Hiếu, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật - Tư pháp của Quốc hội khóa XVI.
Ông Phan Văn Mãi, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế - Tài chính Quốc hội khóa XV được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế - Tài chính của Quốc hội khóa XVI.
Ông Lê Tấn Tới, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh - Đối ngoại Quốc hội khóa XV được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh - Đối ngoại Quốc hội khóa XVI.
Ông Nguyễn Đắc Vinh, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Xã hội của Quốc hội khóa XV được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Xã hội của Quốc hội khóa XVI.
Bà Nguyễn Thanh Hải, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ - Môi trường của Quốc hội khóa XV được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ - Môi trường của Quốc hội khóa XVI.
Ông Nguyễn Hữu Đông, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội khóa XV được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội khóa XVI.
Bà Lê Thị Nga, Phó chủ nhiệm thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát Quốc hội khóa XV được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội khóa XVI.
Cũng trong chiều nay, với 100% đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội thông qua Nghị quyết bầu ông Lê Quang Mạnh giữ chức Tổng thư ký, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu trình bày báo cáo thẩm tra về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI.
Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội Lê Quang Mạnh trình bày dự thảo Nghị quyết về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI. Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI bằng hệ thống biểu quyết điện tử. Kết quả 488 đại biểu tán thành trên số 488 đại biểu tham gia (bằng 100% đại biểu Quốc hội có mặt và bằng 97,6% tổng số đại biểu).
Theo đó, cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI có 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ, gồm: Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Bộ Nội vụ; Bộ Tư pháp; Bộ Tài chính; Bộ Công thương; Bộ NN-MT; Bộ Xây dựng; Bộ VH-TT-DL; Bộ KH-CN; Bộ GD-ĐT; Bộ Y tế; Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Ngân hàng Nhà nước; Thanh tra Chính phủ; Văn phòng Chính phủ.
Như vậy, cơ cấu tổ chức Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031 vẫn giữ nguyên so với cơ cấu bộ máy Chính phủ sau sắp xếp của nhiệm kỳ trước.