Sau khi Tổng thống Donald Trump tuyên bố Mỹ “cận kề thắng lợi”, đồng thời đe dọa sẽ ném bom Iran “về thời kỳ đồ đá”, truyền thông nhà nước Iran đăng bản đồ đế chế Achaemenid từng bao trùm khắp Trung Đông cách đây hơn 2.500 năm, kèm thông điệp: “Bản đồ này cho thấy Iran đang ở thời kỳ đồ đá. Các vị có chắc là muốn chúng tôi quay lại thời kỳ đó không?”.
Trong 5 tuần chiến sự, Iran hứng chịu thiệt hại đáng kể trước sức mạnh quân sự vượt trội của Mỹ và Israel, nhưng những thông điệp như vậy cho thấy giới chức nước này vẫn sẵn sàng đối đầu đến cùng, nhằm kết thúc xung đột theo những điều khoản do Tehran đưa ra, theo giới quan sát.
“Với niềm tin vào Thượng đế toàn năng, cuộc chiến này sẽ tiếp diễn cho đến khi các người bị bẽ bàng, nhục nhã, vĩnh viễn phải hối hận và buông vũ khí đầu hàng”, Ebrahim Zolfaqari, phát ngôn viên Bộ tư lệnh Trung tâm Khatam al-Anbiya, “đầu não tối cao” của các lực lượng vũ trang Iran, tuyên bố hôm 2/4.
Theo các chuyên gia, niềm tin của Iran rằng họ đang giành ưu thế trong cuộc chiến không phải là không có cơ sở. Với Tehran, chiến thắng không nhất thiết đồng nghĩa với đánh bại hoàn toàn đối phương trên chiến trường, mà là buộc Mỹ, Israel phải thay đổi hành vi.
“Các căn cứ đã bị nhắm mục tiêu. Nhiều chỉ huy quân sự thiệt mạng. Nhưng từ góc nhìn của họ, họ đang thắng trong cuộc chiến”, Saeid Golkar, phó giáo sư khoa học chính trị Đại học Tennessee, chuyên gia về Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC), nói. “Họ có thể khiến ông Trump quay lại bàn đàm phán”.
Chiến tranh bất đối xứng
Một trong những yếu tố then chốt giúp Iran duy trì niềm tin chiến thắng là chiến lược chiến tranh bất đối xứng. Thay vì đối đầu trực diện bằng sức mạnh quân sự đơn thuần, Tehran chọn đánh vào những điểm yếu mang tính hệ thống của đối phương.
Sau hơn 16.000 cuộc không kích từ Mỹ và Israel, trọng tâm cuộc chiến không còn nằm ở năng lực quân sự của Iran, mà chuyển sang tác động đối với nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt là thị trường năng lượng. Iran coi biến động giá dầu là bằng chứng cho thấy chiến lược của họ phát huy hiệu quả, từ đó tạo ra hiệu ứng dây chuyền lan ra toàn cầu, buộc các cường quốc phải cân nhắc lại chiến lược.
Eo biển Hormuz đóng vai trò trung tâm trong chiến lược này. Là tuyến vận chuyển 20% nguồn cung dầu thế giới từ vùng Vịnh, Iran từ lâu đã công khai coi Hormuz là “át chủ bài”. Không cần phải phong tỏa hoàn toàn, chỉ cần tạo ra rủi ro đủ lớn đối với hoạt động vận tải qua eo biển này, Tehran có thể gây sức ép đáng kể.
Tổng thống Trump cũng thừa nhận tình thế khó khăn ở eo biển Hormuz. Khi trả lời báo giới ngày 26/3, ông đưa ra một cách giải thích ngắn gọn về lý do trong hơn 40 năm qua, Iran luôn đe dọa đóng cửa eo biển Hormuz nếu bị tấn công.
“Vấn đề với eo biển là thế này”, ông Trump nói. “Giả sử chúng ta làm rất tốt, đạt tới 99%. Nhưng thiếu 1% còn lại là không thể chấp nhận được, bởi vì đó có thể là một quả tên lửa bắn trúng thân con tàu trị giá cả tỷ USD”.
Chính “1% rủi ro” đó là nền tảng để Iran xây dựng chiến lược răn đe. Từ thập niên 1980, khi cuộc chiến với Iraq lan rộng từ trên bộ sang tàu dầu trên vịnh Ba Tư, Tehran đã đầu tư mạnh vào các phương tiện có thể gây gián đoạn vận tải biển như thủy lôi và xuồng cao tốc. Mục tiêu không phải là kiểm soát eo biển, mà là đảm bảo khả năng gây thiệt hại bất ngờ, đủ để đối phương phải dè chừng.
Song song với phong tỏa Hormuz, Iran còn triển khai hàng nghìn máy bay không người lái (UAV) nhằm vào căn cứ Mỹ tại Trung Đông và cơ sở dầu khí ở các nước láng giềng. Những cuộc tấn công này góp phần đẩy lạm phát tăng cao, tạo áp lực lên các nền kinh tế phụ thuộc vào năng lượng Trung Đông.
Kết quả, chính quyền Tổng thống Trump đã phải nới lỏng một phần trừng phạt đối với dầu thô Iran, cho phép dòng tiền trị giá 15 tỷ USD quay trở lại Tehran, đình chỉ trừng phạt với dầu thô Nga. Động thái này càng củng cố niềm tin rằng chiến lược gây sức ép kinh tế của Iran đang buộc Mỹ phải điều chỉnh hành vi.
Trong khi đó, các nỗ lực của Mỹ và Israel nhắm vào đội ngũ lãnh đạo Iran lại tạo ra hiệu ứng ngược. Thay vì làm suy yếu chính quyền Iran, việc hạ sát Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei và các quan chức cấp cao lại thúc đẩy hệ thống quyền lực tại Iran trở nên đoàn kết và cứng rắn hơn.
“Hệ thống lãnh đạo ở Iran mang tính ý thức hệ. Chính yếu tố này đã giúp bộ máy không tan rã, nhanh chóng tái cấu trúc và siết chặt quyền lực”, phó giáo sư Golkar nói.
Bất chấp những cảnh báo từ Tổng thống Trump, Iran đã bầu Mojtaba Khamenei, con trai ông Ali Khamenei và có lập trường thậm chí cứng rắn hơn cả cha, làm tân Lãnh tụ Tối cao. Ông Mojtaba sau đó tiếp tục chọn những người cứng rắn trong IRGC làm cố vấn thân cận cho mình.
“Chế độ này cứng rắn hơn, ít sẵn sàng thỏa hiệp hơn và thể hiện sự gắn kết công khai hơn với IRGC”, Mona Yacoubian, giám đốc chương trình Trung Đông tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), nhận định. “Các đòn hạ sát loạt lãnh đạo Iran không dẫn đến bất kỳ sự thay đổi sâu sắc nào về việc ai mới là người nắm quyền, cũng như lập trường của họ đối với Mỹ”.
Điều này khiến triển vọng đàm phán trở nên phức tạp hơn. Những quan chức có xu hướng thực dụng hoặc có khả năng dung hòa giữa ý thức hệ và lợi ích quốc gia đã bị gạt ra bên lề hoặc thiệt mạng trong các cuộc không kích.
Khi những tiếng nói ôn hòa biến mất, không gian cho thỏa hiệp cũng bị thu hẹp lại. Ngay cả khi đàm phán diễn ra, khả năng đạt thỏa thuận linh hoạt cũng rất hạn chế. Thậm chí, xung đột có thể tiếp tục leo thang thông qua các lực lượng ủy nhiệm.
IRGC đã đe dọa cùng lực lượng Houthi ở Yemen mở rộng chiến sự sang eo biển Bab al-Mandab, đồng thời công bố danh sách các cơ sở năng lượng trong khu vực mà họ có thể nhắm tới nếu Mỹ tiếp tục tấn công.
“Họ sẵn sàng cho kiểu chiến tranh này”, ông Golkar nói, thêm rằng hệ thống của Iran được thiết kế để tồn tại trong điều kiện chiến tranh kéo dài.
Tuy nhiên, niềm tin chiến thắng của Iran không đồng nghĩa với việc họ không phải đối mặt với khó khăn. Nền kinh tế chịu áp lực nặng nề, và dấu hiệu căng thẳng nội bộ đã xuất hiện.
Cựu ngoại trưởng Iran Mohammad Javad Zarif viết trong bài bình luận đăng trên tạp chí Foreign Affairs rằng nước này đang nắm “thế thượng phong” trong cuộc xung đột với Mỹ và Israel, nhưng lập luận Tehran cần chấm dứt chiến tranh để tránh thêm thương vong dân sự và thiệt hại cơ sở hạ tầng.
“Iran nên tận dụng lợi thế của mình không phải để tiếp tục chiến đấu mà để tuyên bố chiến thắng và đạt được một thỏa thuận vừa chấm dứt xung đột này vừa ngăn chặn cuộc xung đột tiếp theo”, ông Zarif viết hôm 2/4.
“Iran nên đề xuất áp đặt các giới hạn đối với chương trình hạt nhân của mình và mở lại eo biển Hormuz để đổi lấy việc chấm dứt toàn bộ các lệnh trừng phạt. Thỏa thuận này Washington trước đây không chấp nhận, nhưng giờ có thể sẽ cân nhắc”, cựu ngoại trưởng cho biết.
Mặt trăng đang trở thành "bàn đạp" chiến lược cho tham vọng chinh phục vũ trụ của nhân loại. Không còn là cuộc chơi của riêng hai siêu cường Mỹ và Trung Quốc, kỷ nguyên đa cực năm 2026 chứng kiến hàng loạt quốc gia từ châu Á đến châu Âu sở hữu tham vọng khai phá nguồn tài nguyên vô tận tại cực Nam của "chị Hằng".
Đầu tiên phải kể đến Trung Quốc với chiến lược "Hằng Nga" (Chang'e) nhất quán trong suốt 2 thập niên qua, từ việc đưa xe tự hành xuống để nghiên cứu bề mặt mặt trăng hồi năm 2019, sau đó là thu thập mẫu vật và đưa về lại trái đất nghiên cứu vào năm 2024. Trong năm 2026, sứ mạng Chang'e 7 dự kiến đổ bộ xuống cực Nam mặt trăng với một tổ hợp thiết bị khổng lồ để tìm kiếm nước đá trong các miệng hố vĩnh cửu bằng một "tàu thăm dò dạng bay" độc đáo.
Những robot tiền trạm này mang trọng trách xác lập nền móng vững chắc cho Trạm nghiên cứu quốc tế ILRS mà Bắc Kinh đang ráo riết xây dựng cùng Nga để đối trọng với phương Tây.
Trong khi đó, Mỹ vẫn duy trì vị thế dẫn đầu thông qua chương trình Artemis táo bạo và tốn kém. Chương trình này không chỉ đặt mục tiêu đưa con người trở lại bề mặt chị Hằng sau hơn nửa thế kỷ mà còn thiết lập "cảng hàng không" vũ trụ đầu tiên, nơi các phi hành gia có thể sinh hoạt, nghiên cứu và tiếp nhiên liệu trước khi dấn thân vào những hành trình xa hơn như sao Hỏa.
Ấn Độ đang khẳng định mình là một cường quốc vũ trụ hiệu quả với chi phí tối ưu nhất thế giới. Sau thành công rực rỡ của Chandrayaan-3 đưa thành công tàu đổ bộ và xe tự hành xuống mặt trăng hồi năm 2023, Ấn Độ đang dồn lực cho sứ mạng Chandrayaan-4 nhằm trình diễn khả năng cất cánh từ bề mặt mặt trăng để mang mẫu vật về trái đất. Nước này đã công khai đặt mục tiêu đưa phi hành gia Ấn Độ đặt chân lên cung trăng vào năm 2040, một cột mốc đầy tự hào cho quốc gia tỉ dân này.
Nhật Bản cũng chọn cho mình một lối đi riêng bằng cách tập trung tối đa vào công nghệ hạ cánh chính xác tuyệt đối và robot thông minh. Tiếp nối kỳ tích của tàu đổ bộ SLIM hồi năm 2024, các kỹ sư Nhật Bản đang phối hợp cùng tập đoàn Toyota để phát triển loại xe tự hành có buồng áp suất cực lớn, cho phép con người sống bên trong nhiều ngày mà không cần mặc đồ bảo hộ.
Nhật Bản đóng vai trò là "cánh tay phải" công nghệ không thể thiếu trong liên minh Artemis, đảm nhận các hệ thống kiểm soát môi trường và hỗ trợ sự sống phức tạp. Sự hợp tác này giúp Nhật Bản đổi lấy các suất bay lên mặt trăng cho phi hành gia nước này trên phi thuyền của Mỹ.
Từ vị trí "kẻ đến sau", Nga đang nỗ lực khôi phục vị thế thông qua sứ mạng Luna-Glob, bất chấp nhiều thách thức. Sau những trục trặc trong quá khứ, Moscow đang đặt kỳ vọng lớn vào vệ tinh Luna 26 để lập bản đồ khoáng sản và thiết lập mạng lưới liên lạc cho các trạm đổ bộ tương lai tại cực Nam mặt trăng. Hiện nay, Nga đang thắt chặt hợp tác chiến lược với Trung Quốc để tạo thành một liên minh không gian Á - Âu mạnh mẽ, sẵn sàng cạnh tranh trực tiếp về các chuẩn mực pháp lý ngoài không gian.
Cuối cùng, không thể không nhắc đến sự góp mặt của châu Âu và các quốc gia mới nổi như UAE, đang làm thay đổi diện mạo cuộc đua. Trong khi Cơ quan Vũ trụ Châu Âu (ESA) cung cấp các mô-đun dịch vụ thiết yếu cho tàu Orion của Mỹ, thì UAE lại gây bất ngờ khi chuẩn bị phóng xe tự hành Rashid 2 lên mặt sau của mặt trăng. Sự đa dạng này cho thấy mặt trăng không còn là vùng đất xa lạ của riêng ai mà đang dần trở thành một phần không thể tách rời của nền kinh tế toàn cầu trong tương lai gần.
Cuộc đua năm 2026 không chỉ là chuyện cắm cờ khẳng định chủ quyền như nửa thế kỷ trước mà là bài toán về sự tồn vong và thịnh vượng lâu dài của mỗi quốc gia. Dẫu sự cạnh tranh đang diễn ra gay gắt, nhân loại vẫn rất cần một tiếng nói chung về pháp lý để đảm bảo nguồn tài nguyên quý báu tại đây được chia sẻ công bằng. Chỉ khi gạt bỏ những toan tính vị kỷ, con người mới thực sự biến mặt trăng thành nhịp cầu hòa bình nối liền các hành tinh trong Hệ mặt trời.
Israel đánh giá rằng Iran vẫn còn hơn 1.000 tên lửa có khả năng vươn tới lãnh thổ nước này, trong khi kho vũ khí của Hezbollah tại Li Băng bao gồm tới khoảng 10.000 rocket tầm ngắn, theo các báo cáo quân sự được truyền thông Israel dẫn lại vào cuối tuần qua.
Trong một cuộc phỏng vấn với Channel 12, một sĩ quan không quân Israel đã đưa ra con số về lượng tên lửa đạn đạo mà Iran đang sở hữu. Điều này được xem là sự thay đổi so với trước đây khi Tel Aviv từ chối công bố ước tính về kho vũ khí của Tehran. Con số 8.000-10.000 rocket trong tay Hezbollah được Đài Phát thanh Quân đội Israel đưa tin.
Xét theo tốc độ sử dụng hiện tại của Iran và đồng minh Hezbollah, sau hơn 5 tuần giao tranh, các ước tính này cho thấy xung đột có thể còn kéo dài thêm nhiều tháng, dù Israel và Mỹ khẳng định các mục tiêu cốt lõi của họ đang đạt được. Iran và Hezbollah không bình luận về quy mô kho vũ khí của mình, và cũng chưa có dấu hiệu xuống thang căng thẳng.
“Một lượng lớn nguồn lực sẽ phải được đầu tư để đưa con số đó về 0. Thành thật mà nói, tôi phải nói rằng nó sẽ không bao giờ về 0", trung tá tình báo không quân Israel giấu tên nói về khả năng Iran tiếp tục phóng tên lửa.
Trước chiến sự, Iran được cho là sở hữu khoảng 2.000 tên lửa đạn đạo tầm trung có thể tấn công Israel, theo 2 quan chức cấp cao Israel nói với Bloomberg trong điều kiện ẩn danh. Theo Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF), hơn 500 quả đã được khai hoả về phía Israel và một số khác bị phá hủy ngay trên mặt đất.
Viên sĩ quan cho biết Tehran đang bắn tên lửa từ hàng chục hầm phóng đặt trong các khu vực núi xa xôi, khiến việc tấn công phủ đầu trở nên rất khó khăn. “Tôi không chắc chúng tôi còn có thể làm được nhiều hơn nữa” để ngăn chặn các loạt bắn, ông nói thêm.
Song song đó, Israel đang tiến hành chiến dịch tại Li Băng nhằm vào Hezbollah, lực lượng đồng minh của Tehran, sau khi nhóm này mở lại mặt trận bằng các loạt rocket vượt biên giới chỉ 2 ngày sau khi chiến sự với Iran bùng nổ. Mỗi ngày có khoảng 200-250 rocket được phóng, phần lớn nhắm vào lực lượng Israel tiến vào miền Nam Li Băng.
Các rocket bay tới miền Bắc Israel đã buộc hàng chục nghìn dân thường phải trú ẩn gần như liên tục trong hầm tránh bom. Tình trạng tương tự cũng xảy ra tại các thành phố miền Trung, dù với tần suất thấp hơn, do các đợt tấn công bằng tên lửa từ Iran.
IDF cho biết họ đang tinh chỉnh công nghệ phát hiện để giúp người dân trong tầm bắn của rocket Hezbollah có thêm thời gian để tìm nơi trú ẩn.
Tuy nhiên, ước tính của phía Israel chưa bao gồm Houthi, một nhóm đồng minh khác của Iran ở khu vực. Houthi có kho hỏa lực mạnh mẽ và vẫn còn một lá bài khác chưa sử dụng, đó chính là eo biển Bab el-Mandeb ở lối vào biển Đỏ. Đây là một tuyến hàng hải huyết mạch khác và nếu chiến sự trở nên phức tạp, việc Houthi phong tỏa tuyến này có thể sẽ gây thêm áp lực lên Mỹ và Israel trong cuộc chiến bất đối xứng với Iran.
Theo AFP
"Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) vừa tập kích dữ dội vào cơ sở hóa dầu lớn nhất Iran ở Asaluyeh, nơi sản xuất 50% sản lượng hóa dầu của nước này", Israel Katz, Bộ trưởng Quốc phòng Israel, cho biết ngày 6/4.
Theo ông Katz, Israel tuần trước còn tấn công cơ sở hóa dầu lớn thứ hai Iran. Các đòn tập kích của Israel vào hai cơ sở đã vô hiệu hóa 85% năng lực xuất khẩu của Iran trong lĩnh vực này, ông cho hay.
"Đây là đòn giáng nặng về kinh tế, tương đương hàng chục tỷ USD, vào chính quyền Iran", ông Katz nói, thêm rằng IDF nhận lệnh "tiếp tục tấn công toàn lực vào hạ tầng quốc gia đối thủ".
Bộ trưởng Quốc phòng Israel cáo buộc ngành hóa dầu Iran là "động cơ chính trong cung cấp nguồn lực tài chính" cho các hoạt động của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran và quân đội nước này.
Hãng tin Iran Fars News trước đó cho biết một số tiếng nổ lớn đã vang lên ở khu phức hợp Hóa dầu South Pars ở Asaluyeh, thành phố cảng tây nam nước này. Đây là nơi xử lý sản lượng khí đốt khai thác từ mỏ South Pars trên vịnh Ba Tư.
Hãng thông tấn Tasnim của Iran đưa tin các công ty cung cấp điện, nước và oxy cho Asaluyeh bị tấn công, còn công ty hóa dầu South Pars không bị hư hại. Hãng tin này cũng cho biết nguồn điện cung cấp cho toàn bộ các cơ sở hóa dầu tại Asaluyeh đã bị cắt.
South Pars là một phần của mỏ khí đốt lớn nhất thế giới nằm ngoài khơi vịnh Ba Tư mà Iran chia sẻ với Qatar. Mỏ có diện tích khoảng 9.700 km2, trữ lượng ước tính lên tới 51 nghìn tỷ m3, lớn nhất thế giới, nằm ở hai bên đường phân định trên biển giữa Iran và Qatar tại vịnh Ba Tư. Phần còn lại ở phía Qatar gọi là North Dome, có diện tích gấp đôi South Pars.
Giới chức Iran cho biết South Pars có sản lượng khai thác năm 2025 là 730 triệu m3 khí đốt mỗi ngày. Hầu hết khí tự nhiên khai thác từ South Pars dùng để phục vụ Iran, đáp ứng tới 80% nhu cầu nội địa, chủ yếu để sưởi ấm và sản xuất điện.