“Ung thư tuyến giáp đang trở thành một vấn đề nổi lên trong hệ thống y tế, không phải vì tỷ lệ tử vong cao, mà vì sự gia tăng nhanh chóng về số ca mắc và những thách thức trong quản lý hợp lý”, TS Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), cho biết tại hội thảo Cập nhật phương pháp điều trị, đánh giá tổn thương do ung thư tuyến giáp và liệu pháp hormone, hôm 4/4 tại Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc.
Việt Nam ghi nhận khoảng 6.100–6.200 ca mắc mới ung thư tuyến giáp, 850–900 trường hợp tử vong mỗi năm. Căn bệnh đứng trong top 10 ung thư phổ biến, đặc biệt ở nữ giới. Tỷ lệ nữ mắc bệnh cao gấp khoảng 3-4 lần nam giới.
Đặc biệt tỷ lệ mắc tăng nhanh trong 20 năm qua. Ví dụ tại TP.HCM, tăng từ 2,4 lên 7,5/100.000 dân (1996–2015), với tốc độ tăng trung bình khoảng 8,7%/năm. Mới nhất, tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM năm 2025, ung thư tuyến giáp chiếm 23% trong hơn 42.000 ca mới, tiếp theo là ung thư vú (18,1%).
“Đây là một trong những mức tăng nhanh nhất trong các loại ung thư”, ông Khoa nói, thêm rằng khác với các ung thư như gan, phổi hay dạ dày, ung thư tuyến giáp có những đặc điểm rất đặc biệt. Tỷ lệ mắc tăng nhanh nhưng tử vong thấp, là ung thư có tiên lượng tốt nhất trong nhiều loại ung thư với tỷ lệ sống 5 năm trên 90% nếu phát hiện sớm.
Theo các nghiên cứu quốc tế, sự gia tăng tỷ lệ mắc chủ yếu do tăng phát hiện, không phải tăng thực sự bệnh lý. Ví dụ, tại Hàn Quốc, chỉ trong vòng 10 năm, tỷ lệ chẩn đoán ung thư tuyến giáp đã tăng 15 lần với hơn 40.000 người được phát hiện, tuy nhiên, không có khác biệt về số tử vong.
TS Dương Đức Bình, Bệnh viện K Tân Triều, cũng nhìn nhận thực trạng gia tăng nhanh chóng số ca phát hiện bướu giáp nhân, chủ yếu nhờ sự phổ biến của siêu âm độ phân giải cao. Tuy nhiên, thách thức hiện nay không còn nằm ở việc phát hiện, mà là làm sao phân biệt chính xác tổn thương lành tính và ác tính, từ đó tránh tình trạng chẩn đoán và điều trị quá mức.
Trong điều trị, xu hướng nổi bật hiện nay là chuyển từ “cắt toàn bộ tuyến giáp” sang tiếp cận cá thể hóa. Nhiều trường hợp ung thư tuyến giáp biệt hóa giai đoạn sớm có thể chỉ cần cắt thùy thay vì cắt toàn bộ, giúp giảm biến chứng, bảo tồn chức năng tuyến giáp và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh. Đồng thời, chiến lược theo dõi chủ động cũng đang được áp dụng cho một số trường hợp ung thư nguy cơ thấp.
Trong lĩnh vực y học hạt nhân, TS Bình cho biết, việc sử dụng I ốt 131 (I-131) hiện nay không còn mang tính đại trà mà được chỉ định dựa trên phân tầng nguy cơ. Bệnh nhân nguy cơ thấp thường không cần điều trị I-131, trong khi nhóm nguy cơ trung bình và cao sẽ được cân nhắc liều lượng phù hợp nhằm tối ưu hiệu quả và giảm tác dụng phụ.
Đáng chú ý, khoảng 5 – 15% bệnh nhân có thể tiến triển thành ung thư tuyến giáp kháng I-131 – một thách thức lớn trong điều trị. Với nhóm này, các liệu pháp nhắm trúng đích, đặc biệt là các thuốc ức chế tyrosine kinase, đang mở ra hướng điều trị mới, dựa trên phân tích đột biến gen như BRAF hay RET để cá thể hóa phác đồ. Bên cạnh đó, Việc phối hợp giữa chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, phẫu thuật và y học hạt nhân trong các Hội đồng Ung thư được xem là chìa khóa để đưa ra quyết định điều trị tối ưu cho từng bệnh nhân.
TS Khoa cho biết thêm Bộ Y tế xác định rõ ung thư tuyến giáp không phải là ưu tiên giảm tử vong, mà là ưu tiên quản lý hợp lý, tránh lạm dụng y tế. Cần chuyển từ “phát hiện càng nhiều càng tốt” sang “phát hiện đúng – điều trị đúng – quản lý phù hợp”. Thời gian tới, Bộ Y tế định hướng giảm tỷ lệ phẫu thuật không cần thiết, giảm chỉ định siêu âm tràn lan, chuẩn hóa 100% cơ sở ung bướu áp dụng phân tầng nguy cơ, xây dựng hướng dẫn quốc gia cập nhật theo quốc tế và tăng tỷ lệ quản lý ngoại trú, theo dõi dài hạn.
Trong nhiều năm, các yếu tố nguy cơ của đột quỵ thường được xác định dựa trên lối sống và tình trạng sức khỏe ở tuổi trưởng thành, như béo phì, hút thuốc hay tăng huyết áp. Tuy nhiên, nghiên cứu mới do các nhà khoa học từ University of Gothenburg thực hiện đã mở rộng góc nhìn: nguy cơ đột quỵ có thể đã được "lập trình" từ khi một người chào đời.
Công trình phân tích dữ liệu của gần 800.000 người sinh tại Thụy Điển trong giai đoạn 1973-1982, theo dõi đến năm 2022. Kết quả cho thấy những người có cân nặng khi sinh dưới mức trung bình (khoảng 3kg) có nguy cơ đột quỵ cao hơn rõ rệt khi bước vào tuổi trưởng thành.
Cụ thể, nhóm này có nguy cơ mắc tất cả các dạng đột quỵ tăng khoảng 21%, trong đó nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ tăng đáng kể, còn xuất huyết nội sọ, dạng đột quỵ nguy hiểm hơn, tăng tới 27%.
Điều đáng chú ý là mối liên hệ này không bị ảnh hưởng bởi chỉ số BMI khi trưởng thành hay tuổi thai lúc sinh, cho thấy cân nặng khi sinh là một yếu tố độc lập.
Các nhà khoa học cho rằng cân nặng khi sinh phản ánh môi trường phát triển trong tử cung. Khi thai nhi không nhận đủ dinh dưỡng hoặc gặp điều kiện bất lợi, cơ thể có thể "thích nghi" bằng cách thay đổi cấu trúc và chức năng của các cơ quan, bao gồm hệ tim mạch và mạch máu não.
Những thay đổi này có thể không biểu hiện ngay nhưng âm thầm làm tăng nguy cơ bệnh lý trong tương lai, đặc biệt là các bệnh liên quan đến tuần hoàn máu như đột quỵ.
Nói cách khác, cơ thể "ghi nhớ" điều kiện sống từ trong bụng mẹ, và điều đó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe suốt nhiều thập kỷ sau.
Mặc dù tỉ lệ đột quỵ đã giảm ở nhiều quốc gia phát triển, nhưng xu hướng này không rõ rệt ở người trẻ. Thậm chí, tại một số khu vực ở Đông Nam Á và các nước phát triển, tỉ lệ đột quỵ ở người trẻ và trung niên đang có dấu hiệu gia tăng.
Điều này khiến các nhà khoa học đặc biệt quan tâm đến những yếu tố nguy cơ "sớm" như cân nặng khi sinh, những yếu tố mà trước đây ít được chú ý trong đánh giá nguy cơ.
Không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể phòng ngừa tương lai. Đối với người trưởng thành hiện nay, cân nặng khi sinh là yếu tố không thể thay đổi. Tuy nhiên, việc nhận diện nguy cơ sớm có thể giúp chủ động phòng ngừa.
Những người từng sinh nhẹ cân nên chú ý hơn đến các yếu tố nguy cơ khác như huyết áp, chế độ ăn, vận động và kiểm tra sức khỏe định kỳ. Việc kiểm soát tốt các yếu tố này có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ đột quỵ.
Quan trọng hơn, phát hiện này mở ra cơ hội can thiệp từ sớm, ngay từ giai đoạn mang thai. Chăm sóc dinh dưỡng tốt cho mẹ bầu, theo dõi thai kỳ chặt chẽ và đảm bảo điều kiện phát triển tối ưu cho thai nhi có thể góp phần giảm nguy cơ bệnh tật cho thế hệ tương lai.
Nghiên cứu được trình bày tại European Congress on Obesity 2026 không chỉ cung cấp thêm bằng chứng về mối liên hệ giữa giai đoạn đầu đời và sức khỏe lâu dài, mà còn gợi ý rằng cân nặng khi sinh có thể được đưa vào các mô hình đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch.
Đây là một bước tiến trong cách tiếp cận y học dự phòng, không chỉ nhìn vào hiện tại, mà còn xem xét toàn bộ "lịch sử sinh học" của một con người.
Tại họp báo Chính phủ chiều 4-4, phóng viên nêu vụ 300 tấn heo bệnh vào chợ, trường học gần đây, gióng lên hồi chuông cảnh báo về việc thực phẩm bẩn vào bàn ăn, học đường, vượt qua mọi khâu quản lý, kiểm tra, câu hỏi đặt tới đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo về giải pháp ngăn chặn từ sớm, từ xa để thực phẩm "bẩn" không lọt vào môi trường học đường.
Trả lời câu hỏi này, ông Hoàng Đức Minh - Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên (Bộ Giáo dục và Đào tạo) - cho biết trong thời gian qua, Bộ đã thực hiện chức năng của mình là tuyên truyền, giáo dục vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, phối hợp và chỉ đạo các cơ sở giáo dục về việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Với chức năng của mình, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Bộ Y tế ban hành Thông tư hướng dẫn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong cơ sở giáo dục, cùng đó là Thông tư về công tác y tế trường học, liên quan trực tiếp tới việc bảo vệ sức khỏe cho người học trong cơ sở giáo dục.
Hằng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo đều đưa nội dung này vào công văn hướng dẫn nhiệm vụ của tất cả cấp học.
Trước tình trạng thực phẩm bẩn liên quan đến các trường học, Bộ Giáo dục và Đào tạo hôm 3-4 đã có công văn chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo và tất cả các cơ sở trong toàn ngành tiếp tục thực hiện tốt văn bản quy định về an toàn thực phẩm.
Đồng thời nhanh chóng rà soát hợp đồng liên quan đến đơn vị tổ chức bữa ăn và cung cấp thực phẩm cho các trường học.
"Yêu cầu phải thực hiện nghiêm, đúng quy định tất cả cam kết những nội dung có trong hợp đồng. Khi xuất hiện vi phạm phải chấm dứt ngay hợp đồng và phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý các vi phạm", theo ông Hoàng Đức Minh.
Một việc nữa được ông Minh nêu là phải công khai tất cả đơn vị cung cấp suất ăn, thực phẩm cho các cơ sở giáo dục trên các trang thông tin điện tử, phương tiện thông tin đại chúng để phụ huynh, đơn vị chức năng và cộng đồng xã hội có thể giám sát, phối hợp phát hiện những đơn vi phạm.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho toàn bộ thầy cô giáo, cán bộ quản lý, nhân viên nhà trường để thực hiện tốt vấn đề này, đặc biệt trong bếp ăn, căng tin của cơ sở giáo dục, trường học.
Mặt khác, ông Minh cho biết tới đây sẽ tăng cường sự phối hợp kiểm tra giữa cơ sở giáo dục, y tế và cơ quan chức năng trong giám sát, để phát hiện kịp thời, tham mưu biện pháp nhằm tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục khi để xảy ra vi phạm.
Với đồng bộ các giải pháp đã, đang và sẽ triển khai, ông Minh kỳ vọng vấn đề đưa thực phẩm bẩn trái phép vào trường học sẽ được giải quyết.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Huỳnh Tấn Vũ, Đơn vị Điều trị Ban ngày, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM - cơ sở 3 cho biết, trong nhịp sống hiện đại, áp lực công việc cùng thói quen sinh hoạt thiếu điều độ khiến tình trạng mất ngủ và “nội nhiệt” (nóng trong, bứt rứt) ngày càng phổ biến.
Trước khi tìm đến thuốc, việc điều chỉnh chế độ dinh dưỡng được xem là nền tảng quan trọng. Trong đó, củ sen - phần thân rễ nằm sâu trong bùn của cây sen - được xem là một đại diện tiêu biểu của phương pháp “thực trị” phương Đông, có khả năng làm dịu hệ thần kinh và hỗ trợ thanh nhiệt từ bên trong.
Củ sen có tên khoa học Nelumbo nucifera. Các nghiên cứu hiện đại cho thấy đây là nguồn vi chất phong phú.
Đáng chú ý, nhóm vitamin B - đặc biệt là vitamin B6 (pyridoxine) - đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin và dopamine, những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tâm trạng và giấc ngủ.
Bên cạnh đó, củ sen chứa nhiều kali và magie nhưng ít natri, giúp hỗ trợ giãn mạch, ổn định huyết áp và thư giãn cơ thể. Hàm lượng vitamin C cao mang lại khả năng chống oxy hóa, góp phần tăng cường miễn dịch.
Ngoài ra, các hợp chất phenolic như catechin và axit gallic còn có tác dụng kháng viêm và bảo vệ tế bào thần kinh.
Đối với mất ngủ và căng thẳng thần kinh, củ sen phát huy tác dụng qua hai cơ chế chính.
Thứ nhất, vitamin B6 tham gia vào quá trình chuyển hóa tryptophan thành serotonin và melatonin - 2 chất quan trọng giúp điều hòa tâm trạng và nhịp sinh học. Thiếu hụt vitamin này có thể góp phần gây rối loạn giấc ngủ và lo âu.
Thứ 2, với tình trạng “nóng trong người”, củ sen giúp làm mát cơ thể nhờ hàm lượng nước và chất điện giải dồi dào, từ đó giảm cảm giác khô miệng, bứt rứt.
Đồng thời, các hợp chất như tannin và vitamin K còn giúp tăng độ bền thành mạch, hỗ trợ giảm các biểu hiện do “huyết nhiệt” như chảy máu cam, chảy máu chân răng hoặc nổi mụn.
Theo y học cổ truyền, tác dụng của củ sen thay đổi tùy theo cách chế biến.
Vì vậy, người mất ngủ do thể hư nên ưu tiên dùng củ sen đã nấu chín. Ngược lại, nếu mất ngủ đi kèm biểu hiện “thực nhiệt” như bốc hỏa, táo bón, miệng khô, có thể dùng củ sen tươi với lượng phù hợp.
Từ lâu, củ sen đã được sử dụng trong nhiều món ăn - bài thuốc quen thuộc: