Mục Lục
ToggleTem kiểm định ô tô (tem đăng kiểm) theo quy định phảo được dán tại góc trên bên phải, mặt trong kính chắn gió phía trước theo chiều tiến của ô tô. Đối với rơ moóc và sơ mi rơ moóc, tem được dán vào khung xe, gần vị trí biển số.
Tuy nhiên, từ 1.3, tất cả cơ sở đăng kiểm trên toàn quốc đã thực hiện cấp giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường bản điện tử. Trường hợp chủ xe có nhu cầu sử dụng bản giấy, cơ sở đăng kiểm sẽ in trực tiếp từ phần mềm quản lý (không sử dụng phôi giấy) và đóng dấu xác nhận để cấp cho chủ xe.
Trên giấy chứng nhận kiểm định sẽ thể hiện đầy đủ thông tin về phương tiện, thời hạn kiểm định, mức khí thải mà xe đạt được (như mức 3, mức 4…). Đồng thời, giấy chứng nhận có mã QR-code liên kết tới bản điện tử được lưu trữ trên trang thông tin điện tử của Cục Đăng kiểm.
Theo Nghị định 89/2026 do Chính phủ mới ban hành, có hiệu lực từ 1.1.2027, ô tô sẽ không còn phải dán tem kiểm định trên kính trước. Việc quản lý phương tiện sẽ được thực hiện hoàn toàn thông qua dữ liệu điện tử, kết hợp hệ thống camera AI và các nền tảng số.
Đại diện Cục Đăng kiểm cho biết việc bỏ tem dán giúp giảm chi phí in ấn cho các trung tâm đăng kiểm. Đồng thời, hạn chế tình trạng tem bị bong tróc, hư hỏng hoặc làm giả. Ngoài ra, việc kiểm tra, giám sát cũng thuận lợi hơn khi lực lượng chức năng khai thác trực tiếp dữ liệu số, không phụ thuộc vào tem dán trên kính xe.
Thời gian tới, Cục sẽ tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm hệ thống vận hành ổn định, an toàn, phục vụ tốt việc cấp và quản lý giấy chứng nhận kiểm định điện tử, tiến tới hiện đại hóa toàn diện công tác đăng kiểm phương tiện.
Trước đó, Nghị định 364 của Chính phủ có hiệu lực từ 1.1.2026 đã quy định không dán tem thu phí sử dụng đường bộ trên kính xe ô tô. Như vậy, đến 2027, ô tô lưu hành trên cả nước sẽ được bỏ toàn bộ các loại tem dán trên kính xe.
Nguồn: https://thanhnien.vn/tu-2027-bo-tem-kiem-dinh-dan-tren-kinh-o-to-185260404164329419.htm

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
"Việc đặt mục tiêu ở mức "trung bình cao" trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững", TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các "đầu tàu" nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 - 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 - 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông - việc làm - nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công - tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
"Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045", KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là "xương sống" của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.
Kinh Tế
Đề xuất công an được phạt đến 100 triệu với vi phạm kinh doanh xổ số

Hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 98 năm 2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số vừa được Bộ Tài chính công bố.
Tại dự thảo, Bộ Tài chính đề nghị bổ sung thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số đối với lực lượng công an nhân dân, chủ tịch UBND cấp tỉnh và giám đốc sở tài chính với mức phạt tối đa giữ nguyên như hiện hành là 100 triệu đồng.
Theo Bộ Tài chính, tại Nghị định 98 hiện hành, thẩm quyền xử phạt hành chính được quy định cho các chức danh thanh tra tài chính. Tuy nhiên, hiện nay tổ chức bộ máy nhà nước không còn còn các chức danh này, do đó cần thiết phải bổ sung thẩm quyền xử phạt hành chính đối với các chức danh nói trên.
Với thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số của lực lượng công an, dự thảo đề xuất chiến sĩ công an nhân dân có quyền phạt cảnh cáo.
Trưởng công an cấp xã: có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50 triệu đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc các cục: Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, An ninh kinh tế và trưởng phòng công an cấp tỉnh (gồm: trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, trưởng phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, trưởng phòng An ninh kinh tế) có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 80 triệu đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
Giám đốc công an cấp tỉnh có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 100 triệu đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
Cục trưởng các cục: An ninh kinh tế, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 100 triệu đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng trình Chính phủ bổ sung quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Cụ thể, chủ tịch UBND tỉnh có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 100 triệu đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; đình chỉ hoạt động kinh doanh có thời hạn; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
Riêng thẩm quyền đình chỉ hoạt động kinh doanh có thời hạn của chủ tịch UBND cấp tỉnh, để phù hợp với quy định của pháp luật về kinh doanh xổ số về địa bàn kinh doanh, Bộ Tài chính đề xuất: chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền đình chỉ hoạt động kinh doanh xổ số có thời hạn đối với doanh nghiệp vi phạm hoạt động kinh doanh xổ số trên địa bàn tỉnh đối với hành vi vi phạm về in vé xổ số, phát hành vé xổ số; vi phạm quy định loại hình sản phẩm kinh doanh; vi phạm quy định về khuyến mại.
Quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với chức danh giám đốc sở tài chính cũng là nội dung được Bộ Tài chính trình Chính phủ bổ sung trong lần sửa đổi này.
Theo đó, giám đốc sở tài chính có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 80 triệu đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Đề xuất nâng ngưỡng thu nhập xác định người phụ thuộc lên 3 - 4,5 triệu đồng

Theo quy định hiện hành, người ngoài độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động (bị khuyết tật, không có khả năng lao động) được xác định là người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân phải đáp ứng điều kiện: không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1 triệu đồng.
Theo dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của luật Thuế thu nhập cá nhân (dự kiến có hiệu lực từ 1.7) mà Bộ Tài chính lấy ý kiến mới đây, để được xác định là người phụ thuộc, người ngoài độ tuổi lao động và người trong độ tuổi lao động (không có khả năng lao động), đều phải đáp ứng điều kiện: không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá mức theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính (chưa xác định cụ thể là bao nhiêu - PV).
Trao đổi với Thanh Niên, nhiều chuyên gia cho rằng, Bộ Tài chính cần nhanh chóng có dự thảo thông tư hướng dẫn chi tiết để lấy ý kiến cho kịp thời. Trong đó, ngưỡng thu nhập nêu trên cần nâng lên gấp nhiều lần.
Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường đại học Nguyễn Trãi), phân tích: mức 1 triệu đồng/tháng không phản ánh đầy đủ khả năng tự đảm bảo nhu cầu thiết yếu của một cá nhân.
Điều này dẫn đến thực tế, có những trường hợp người nộp thuế đang trực tiếp hỗ trợ, nuôi dưỡng người thân với mức chi phí đáng kể, nhưng lại chưa được ghi nhận tương xứng trong chính sách giảm trừ.
Một số cơ sở có thể tham chiếu khi xác định ngưỡng mới có thể tính đến là: chuẩn nghèo và cận nghèo hiện hành, mức chi tiêu tối thiểu, cũng như tương quan với mức giảm trừ gia cảnh.
"Nâng ngưỡng thu nhập lên khoảng 3 triệu đồng/tháng có thể được xem là phương án cân bằng. Mức này đủ để phản ánh rõ hơn tình trạng phụ thuộc về kinh tế, đồng thời vẫn giữ được khoảng cách cần thiết để đảm bảo tính chọn lọc của chính sách", vị này đề xuất.
Luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cũng cho rằng, có thể tính toán nâng ngưỡng căn cứ tiêu chí đo lường chuẩn nghèo đa chiều quốc gia (chọn thu nhập bình quân theo chuẩn nghèo khu vực thành thị) hoặc theo lương cơ sở.
Hiện tại, lương cơ sở là 2,34 triệu đồng/tháng. Ở khu vực đô thị, thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình ở mức 2 triệu đồng/người/tháng được xác định là hộ nghèo; từ năm 2027, mức này nâng lên 2,8 triệu đồng/người/tháng.
Như vậy, có thể nâng ngưỡng từ 1 triệu đồng lên 2,34 triệu đồng hoặc 2,8 triệu đồng, giai đoạn sau đó áp dụng thả nổi để điều chỉnh tự động.
Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, bình quân lương tối thiểu vùng áp dụng từ 2026, tương ứng mức 4,5 triệu đồng/người/tháng có thể cân nhắc là ngưỡng thu nhập xác định người phụ thuộc cho giai đoạn mới.
Khi mức giảm trừ gia cảnh thay đổi theo từng giai đoạn, ngưỡng thu nhập xác định người phụ thuộc có thể thay đổi tương ứng với sự thay đổi của lương tối thiểu vùng.
Tại dự thảo nghị định, nội dung mới được Bộ Tài chính đề xuất là: đối tượng "cá nhân khác" (không phải vợ, chồng, cha, mẹ, con) được tính là người phụ thuộc phải đáp ứng 4 điều kiện dưới đây:
Thu nhập không vượt quá mức do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định; thuộc danh sách hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo theo quy định pháp luật; được người nộp thuế trực tiếp chu cấp, nuôi dưỡng với mức tối thiểu bằng mức giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc; có xác nhận theo quy định.
Ông Được nhìn nhận, những điều kiện nêu trên khá chặt chẽ, có thể gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng.
Nhiều địa phương đang hướng tới mục tiêu xóa hộ nghèo, hộ cận nghèo. Việc dựa hoàn toàn vào tiêu chí này có thể phát sinh tình trạng, những trường hợp thực tế khó khăn nhưng không còn nằm trong danh sách hộ nghèo theo chuẩn hành chính.
Ở khía cạnh yêu cầu chứng minh chi phí nuôi dưỡng thực tế, nếu quy định quá chi tiết, như bắt buộc phải có giao dịch chuyển tiền hoặc chứng từ chi trả hàng tháng với mức tối thiểu bằng mức giảm trừ gia cảnh sẽ làm phát sinh thêm thủ tục, gây khó cho cả người nộp thuế và cơ quan quản lý.
"Thay vì yêu cầu người phụ thuộc phải thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo, quá cứng nhắc trong chứng minh chi phí nuôi dưỡng, có thể xem xét cơ chế xác nhận của chính quyền địa phương hoặc các hình thức cam kết phù hợp", ông Được đề xuất.

