Mục Lục
ToggleChiều 4/4, vùng nước cách bờ khoảng 10-50 m đổi màu, xuất hiện váng kéo dài gần 10 km, lan đến khu vực bãi biển Chí Linh. Từng mảng váng màu phù sa trôi nổi trên mặt nước, tương phản với màu xanh của biển.
Ông Minh, sống tại phường Tam Thắng, cho biết hiện tượng xuất hiện từ sáng cùng ngày. Khi thủy triều rút, bãi cát lộ lớp phủ màu rêu hoặc lớp nước ánh hồng, kèm mùi tanh của rong, tảo phân hủy. Ông cho biết thường bơi ra xa, nơi nước trong hơn để tắm.
“Tình trạng này năm nào cũng có, thường chỉ kéo dài vài ngày”, ông nói, thêm rằng từng tắm ở khu vực có váng nhưng không bị ngứa hay khó chịu.
Huỳnh Mỹ Liên, du khách từ Đồng Nai, cho hay cùng bạn chỉ đi dạo ven biển, không xuống tắm. “Tôi từng đến Vũng Tàu nhiều lần nhưng chưa gặp hiện tượng này nên khá e ngại”, cô nói. Trong khi đó, nhiều người vẫn tắm tại khu vực từ Hòn Bà đến công viên Bãi Sau.
Đại diện Trung tâm Cung ứng dịch vụ công phường Vũng Tàu cho biết vào thời điểm giao mùa, rong và tảo thường trôi dạt vào bờ, gây hiện tượng nước đục tại Bãi Sau. Cơ quan chức năng đã cử cán bộ kiểm tra, xác định nguyên nhân cụ thể.
Cuối năm ngoái, nước biển khu vực này từng chuyển màu xanh lá. Kết quả xét nghiệm xác định do vi tảo Noctiluca scintillans gây ra. Đây là loài phân bố rộng, mật độ thay đổi theo thời điểm, không sinh độc tố và không ảnh hưởng đến hoạt động tắm biển.
Trường Hà
Nguồn: https://vnexpress.net/bien-bai-sau-vung-tau-xuat-hien-vang-boc-mui-hoi-5058562.html
Bắc Hưng Hải - từ đại thủy nông đến dòng sông chết

Buổi sáng đầu tháng 4, đứng bên con kênh ở phường Hải Dương, TP Hải Phòng, ông Lê Văn Sử buồn bã nhìn dòng nước đen đặc, ruồi nhặng bu vào một số con cá chết lập lờ trên mặt nước. Người đàn ông 85 tuổi không thể ngờ mạch sống của người dân Hải Dương cũng như nhiều tỉnh thành lân cận lại ô nhiễm đến thế.
Mười năm chín hạn
Trước khi công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng, cánh đồng của tỉnh Hải Dương cũ chỗ thì khô hạn kéo dài, chỗ lại ngập úng quanh năm. Nhà ông Sử ở xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ, vốn đông người, ruộng có nhưng nhiều vụ phải bỏ không vì thiếu nước hoặc vì nước ngập quá lâu không thể cấy lúa. Những mùa giáp hạt trở thành nỗi ám ảnh của ông.
"Cái đói kéo dài hết năm này sang năm khác, nhìn ai cũng gầy gò, ốm yếu, đen đúa", ông Sử nhớ lại những năm 1940-1950.
Vùng Bắc Hưng Hải là đồng bằng rộng hơn 214.000 ha, được bao bọc bởi bốn con sông lớn gồm sông Hồng, Đuống, Luộc và Thái Bình. Lưu vực hệ thống trải dài trên toàn bộ tỉnh Hưng Yên (cũ), phần lớn Hải Dương (cũ), cùng một phần Hà Nội và Bắc Ninh.
Địa hình tương đối thấp, cao trung bình chỉ khoảng 0,5-1 m so với mực nước biển, vốn rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp nếu có nguồn nước ổn định. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ trước đó, phần lớn ruộng đồng trong vùng vẫn phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước mưa.
Những năm hạn hán, đất đồng nứt nẻ, lúa chết khô. Khi mưa lớn hoặc nước sông dâng cao, đồng ruộng lại ngập úng kéo dài khiến mùa màng thất bát. Người dân trong vùng vẫn truyền nhau câu nói "mười năm chín hạn" (10 năm thì hết 9 năm hạn hán) để nói về sự bấp bênh trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước sinh hoạt cũng không khá hơn. Ao làng có nước song chua đến mức người lội xuống lâu một chút là rụng cả lông chân. Bệnh ngoài da khá phổ biến. Ông Sử nhớ những lần đi thực tập về quê không dám rửa chân bằng nước ao làng, phải xách nước nuôi cá ở chỗ khác về rửa. Dân gian khi ấy còn truyền nhau câu nói khá nặng nề về vùng đất "sống ngâm da, chết ngâm xương".
Đại thủy nông lớn nhất miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, nhu cầu đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp trở thành cấp bách. Năm 1956, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải nhằm đưa nước từ sông Hồng vào tưới tiêu cho vùng đồng bằng rộng lớn.
Theo thiết kế, nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan (Hưng Yên), dẫn theo kênh trục chính rồi tỏa ra mạng lưới kênh nhánh trước khi thoát ra cống An Thổ (Hải Phòng), tạo thành tuyến thủy lợi dài hơn 230 km trên trục chính và hàng nghìn kilomet kênh mương nội đồng. Toàn bộ hệ thống có khoảng 1.900 công trình cống, trạm bơm các loại, đảm bảo khả năng tưới tiêu chủ động cho hơn 130.000 ha đất canh tác trong lưu vực Bắc Hưng Hải.
Trước khi chuẩn bị khởi công, ngày 20/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về nói chuyện với công nhân và nhân dân trên công trường Bắc Hưng Hải. Bác động viên người dân: "Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Cán bộ và đồng bào quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Bây giờ chịu khó phấn đấu mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm".
Ngày 1/10/1958, công trình khởi công. Hàng chục nghìn bộ đội, dân công, học sinh, sinh viên và cán bộ từ nhiều địa phương tham gia đào kênh, đắp đập và xây dựng các cống, trạm bơm điều tiết nước. Ở làng gốm Bát Tràng, gần 150 hộ dân tự nguyện dỡ nhà lấy đất đào tuyến kênh trục chính.
Sau khi cống Xuân Quan hoàn thành và đưa nước vào đồng ngày 30/10/1959, việc xây dựng toàn hệ thống được triển khai nhanh chóng. Giai đoạn đầu, 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền được xây để cấp nước cho các khu ruộng cao và hỗ trợ tiêu thoát nước. Các tuyến sông tự nhiên như Kim Sơn, Đình Đào, Cửu An, Tứ Kỳ được cải tạo, nạo vét và kết nối với mạng lưới kênh đào mới, tạo thành hệ thống thủy lợi liên hoàn.
Sau 7 tháng thi công, hệ thống hoàn thành, trở thành công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ, còn được gọi là "Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải". Ông Sử bảo cuộc sống của gia đình ông và hàng triệu người đã thay đổi vì đại thủy nông này.
Từ mùa vàng bội thu đến dòng nước đổi màu
Năm 1962, sau khi tốt nghiệp đại học, ông Sử được phân công về làm việc tại Công ty Bắc Hưng Hải. Những chuyến đi kiểm tra hệ thống khi đó khiến ông không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi của dòng nước trong vùng.
"Nước trong đến mức nhìn thấy đáy. Ai cũng có thể tắm giặt ngay trên kênh", ông nhớ lại.
Nguồn nước dồi dào nhanh chóng làm thay đổi sản xuất nông nghiệp. Những cánh đồng trước kia phụ thuộc vào nước mưa bắt đầu có thể gieo cấy hai vụ lúa mỗi năm, năng suất vụ đầu đã đạt 60-62 tạ/ha, tổng sản lượng lúa trong vùng hơn 1,2 triệu tấn. Nhiều địa phương trong lưu vực Bắc Hưng Hải dần trở thành những vùng sản xuất lúa trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ.
Nguồn nước từ hệ thống kênh mương còn tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản. Ở xã Đại Thắng (Hải Phòng), ông Vũ Văn Kế đã gắn bó với nghề nuôi thủy sản trên kênh Bắc Hưng Hải gần nửa thế kỷ. Có thời điểm gia đình ông nuôi tới 4-5 lồng cá trên kênh. Nguồn nước sạch giúp cá sinh trưởng tốt.
Không chỉ cá nuôi lồng, nhiều loại thủy sản tự nhiên cũng phát triển mạnh. Có những vụ, riêng rươi ông Kế thu hoạch được hơn 2 tấn. "Cá mè, cá chép nhiều vô kể. Riêng khu vực cống Xuân Quan có lần kéo lưới lên được hàng chục tấn cá", ông Kế nhớ lại. Nguồn lợi thủy sản dồi dào khiến nhiều gia đình sống ven kênh có thêm sinh kế ngoài trồng lúa.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1990 trở lại đây, dòng kênh từng trong xanh bắt đầu thay đổi. Những đoạn nước đục và có mùi hôi xuất hiện trước tiên ở khu vực gần khu dân cư và làng nghề, sau đó lan dần ra nhiều tuyến kênh trong hệ thống, ông Sử nhớ lại.
"Nguồn nước ô nhiễm trầm trọng từ năm 2000. Mỗi lần thả lưới xuống đánh cá, nếu thu được 5 kg cá thì tôi phải mất tới 3 ngày để gỡ hết túi nylon mắc trên lưới", ông Kế kể.
Quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp trong lưu vực khiến lượng nước thải đổ vào hệ thống ngày càng lớn. Hiện Bắc Hưng Hải phải tiếp nhận nước thải từ khu dân cư, làng nghề và nhiều khu công nghiệp nằm dọc tuyến kênh.
Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi ngày tổng lượng nước thải xả vào hệ thống khoảng 538.830 m3, trong đó phần lớn chưa được xử lý triệt để. Khi lượng nước thải vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng chảy, chất lượng nước bắt đầu suy giảm.
Báo cáo tháng 2/2026 của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại các điểm Xuân Thụy, Bình Lâu và Ngọc Đà. Các chỉ tiêu dinh dưỡng và hữu cơ trong nước tại đây đều vượt xa quy chuẩn môi trường nước mặt.
Đơn cử nồng độ amoni cho phép chỉ khoảng 0,3 mg/l, nhưng tại trạm Xuân Thụy (Hưng Yên) lên 25,6 mg/l, cao gấp hơn 85 lần. Hàm lượng oxy hòa tan chỉ khoảng 2 mg/l, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu 4 mg/l cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh. Tại trạm Bình Lâu (Hải Phòng), nồng độ amoni trung bình khoảng 22 mg/l, cao gấp hơn 70 lần quy chuẩn.
Dọc nhiều tuyến kênh, nước chuyển màu đen, bọt trắng nổi dày và mùi hôi bốc lên nồng nặc. Những lồng cá từng mang lại thu nhập cho gia đình ông Kế buộc cũng phải tháo dỡ. Nước bẩn, cá, rươi nuôi không nổi vì năng suất giảm bảy, tám lần. Cả gia đình con cái ngày trước quây quần làm thủy sản, giờ phải phân tán đi làm công ty, ông Kế kể.
Chứng kiến các dòng kênh trong hệ thống Bắc Hưng Hải đang chết dần, ông Kế, ông Sử không khỏi xót xa. Không dám hy vọng có những mùa cá bội thu như trước, họ chỉ mong dòng kênh trở lại trong xanh.
"Mong ước đó không biết có viển vông quá không?", ông Sử tự hỏi.
Gia Chính - Mộc Miên
Tin Gốc: https://vnexpress.net/bac-hung-hai-tu-dai-thuy-nong-den-dong-song-chet-5050257.html
Người đàn ông chết trong rừng sau 4 ngày mất tích

Chiều 6-4, thông tin từ UBND xã Tân Kỳ, Nghệ An cho biết lực lượng cứu hộ cứu nạn địa phương và người dân đã tìm thấy thi thể ông Lê Văn D. (56 tuổi, ngụ xóm Phượng Kỳ, xã Tân Kỳ) trong khu vực rừng Lèn Rỏi.
Vị trí tìm thấy thi thể ông D. cách nhà ông D. khoảng 10km. Khu vực này có địa hình đồi núi hiểm trở, cây cối rậm rạp.
Cơ quan chức năng đang khám nghiệm hiện trường và làm thủ tục bàn giao thi thể nạn nhân cho gia đình mai táng.
Trước đó, Công an xã Tân Kỳ tiếp nhận tin báo từ gia đình cung cấp khoảng 6h sáng 3-4, ông D. đi khỏi nhà rồi mất liên lạc. Dù gia đình tổ chức tìm kiếm nhưng không có kết quả.
Tiếp nhận tin báo, Công an xã Tân Kỳ phối hợp lực lượng quân sự địa phương, các tổ bảo vệ an ninh trật tự cơ sở và người dân tổ chức tìm kiếm.
Tới chiều 4-4, lực lượng chức năng phát hiện xe máy của ông D. để lại gần khu vực chùa Tân Kỳ.
Một số thợ xây làm việc gần đó cho hay họ thấy một người có đặc điểm nhận dạng giống ông D. đi bộ vào khu vực rừng núi phía sau chùa.
Suốt bốn ngày qua, địa phương đã huy động hơn 200 người tham gia tìm kiếm, đồng thời sử dụng flycam để rà soát khu vực rừng núi phía sau chùa Tân Kỳ.
Theo gia đình, trước khi xảy ra sự việc, người thân không phát hiện ông D. có biểu hiện bất thường. Ông D. làm việc tại một xưởng điêu khắc lăng mộ ở địa phương.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/nguoi-dan-ong-chet-trong-rung-sau-4-ngay-mat-tich-20260406165035104.htm
Ngày Sức khỏe toàn dân 7.4: Chủ động phòng bệnh là chiến lược lâu dài

Lễ mít tinh, phát động Ngày Sức khỏe toàn dân năm 2026 diễn ra sáng 5.4 với chủ đề "Chủ động phòng bệnh - vì một Việt Nam khỏe mạnh" được Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Y tế tổ chức tại Hà Nội.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, đánh giá Ngày Sức khỏe toàn dân năm 2026 là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt, thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước ta trong việc chăm lo, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn:"Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là cả nước mạnh khỏe".
Đảng, Nhà nước ta luôn xác định: sức khỏe nhân dân là vốn quý nhất, là nền tảng và động lực cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Bộ Chính trị quyết định lấy ngày mùng 7.4 hằng năm là Ngày Sức khỏe toàn dân; và năm 2026 là năm đầu tiên triển khai với chủ đề: "Chủ động phòng bệnh - vì một Việt Nam khỏe mạnh", là định hướng chiến lược chuyển mạnh từ tư duy chữa bệnh là chính sang phòng bệnh là trọng tâm, căn cơ, lâu dài; đặt sức khỏe nhân dân vào trung tâm của mọi chính sách phát triển của đất nước.
Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cho biết, cơ cấu bệnh tật đang thay đổi nhanh chóng, các bệnh không lây nhiễm gia tăng, già hóa dân số diễn ra mạnh mẽ, nguy cơ dịch bệnh mới luôn tiềm ẩn. Nếu không chủ động phòng bệnh, chúng ta sẽ phải trả giá rất lớn về chi phí, chất lượng cuộc sống và sức cạnh tranh quốc gia.
Vì vậy, chủ động phòng bệnh không chỉ là giải pháp y tế mà là trách nhiệm của toàn xã hội, là yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Ông Quyết đề nghị các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm: Nâng cao nhận thức trong toàn xã hội: Chủ động phòng bệnh phải trở thành chiến lược lâu dài, là trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi gia đình và của cả hệ thống chính trị.
Xây dựng và lan tỏa mạnh mẽ văn hóa sức khỏe trong toàn xã hội: mỗi người dân cần chủ động rèn luyện thể lực, dinh dưỡng hợp lý, duy trì lối sống khoa học, kiểm soát các yếu tố nguy cơ, chủ động khám sức khỏe định kỳ.
Tập trung phát triển y tế dự phòng và y tế cơ sở: bảo đảm mọi người dân được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu có chất lượng, kịp thời và thuận tiện.
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế: ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong dự báo, quản lý sức khỏe; triển khai hiệu quả hồ sơ sức khỏe điện tử, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe của toàn dân.
Tổ chức Ngày Sức khỏe toàn dân hằng năm thiết thực, hiệu quả: gắn với các phong trào cụ thể, tạo chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành vi của toàn xã hội.
Ông Quyết cho biết, sức khỏe nhân dân là tài sản quý giá nhất của mỗi quốc gia. Một dân tộc khỏe là nền tảng vững chắc để xây dựng đất nước hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc, và kêu gọi "mỗi người dân hãy bắt đầu từ chính mình, mỗi gia đình là một pháo đài phòng bệnh, mỗi cơ quan, địa phương là một điểm sáng về chăm sóc sức khỏe cộng đồng". Hãy biến việc chủ động phòng bệnh trở thành thói quen, ý thức tự giác, nét sống văn minh của mỗi người dân Việt Nam.
Tại lễ mít tinh, thay mặt ngành Y tế, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan bày tỏ mong muốn mỗi người hãy dành thời gian, quan tâm nhiều hơn cho việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của chính mình, trang bị kiến thức, chủ động phòng bệnh. Coi việc rèn luyện thân thể, thể dục thể thao thường xuyên là một nhu cầu tự thân, một thói quen hằng ngày; chủ động khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc bệnh tật. Phát hiện sớm không chỉ cứu sống bản thân mà còn giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội…
Ngay sau lễ phát động, các lãnh đạo nhà nước đã cùng đi bộ hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân.
Trong khuôn khổ buổi lễ, hàng ngàn người dân thủ đô đã được khám sức khỏe, tầm soát ung thư do các bệnh viện và Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam thực hiện.




