Giáo dục hòa nhập cho đến nay vẫn thường bị hiểu khá đơn giản là đưa sinh viên khuyết tật vào học chung trường, chung lớp với sinh viên không có khuyết tật. Nhưng việc được chấp nhận vào học không đồng nghĩa với được hòa nhập.
Một sinh viên có thể hiện diện trong lớp học, nhưng vẫn bị loại trừ khỏi những cơ hội học tập.
Trong gần 5 năm làm công việc hỗ trợ sinh viên khuyết tật tại một trường đại học quốc tế, tôi đã đồng hành cùng nhiều sinh viên với những dạng khuyết tật và tình trạng sức khỏe rất khác nhau. Mỗi bạn là một câu chuyện riêng, với những khó khăn rất riêng trong học tập và sinh hoạt, và với những nhu cầu hỗ trợ cũng rất riêng.
Tôi vẫn nhớ một bạn sinh viên khiếm thị bối rối trong lớp khi giảng viên bất ngờ yêu cầu tất cả sinh viên phải liên tục di chuyển từ bàn này sang bàn khác và trả lời những câu hỏi trắc nghiệm chỉ trong 30 giây – khoảng thời gian quá ngắn để người hỗ trợ kịp đọc đáp án cho bạn lựa chọn.
Tôi nhớ một sinh viên sử dụng xe lăn học rất giỏi nhưng chưa từng một lần được tham gia ngày hội thể thao cùng bạn bè, chỉ vì tất cả các hoạt động đều mặc định đòi hỏi thể lực và không ai nghĩ tới việc thiết kế để em có thể tham gia.
Tôi cũng nhớ những sinh viên rối loạn phổ tự kỷ, hoặc có rối loạn ngôn ngữ, hoảng hốt mỗi khi nhìn thấy yêu cầu phải thuyết trình trước lớp. Những tình huống ấy cho thấy rào cản không chỉ nằm ở cơ thể hay tình trạng sức khỏe của người học, mà còn nằm ở cách môi trường học tập được thiết kế.
Cũng cần nói rõ rằng đây không chỉ là vấn đề của riêng sinh viên khuyết tật. Giáo dục hòa nhập thực chất cần nhìn thấy sự giao thoa giữa khuyết tật với những yếu tố khác như giới, điều kiện kinh tế, nơi sinh sống và cơ hội tiếp cận dịch vụ.
Khi cơ hội giáo dục bị hạn chế, cơ hội việc làm cũng bị thu hẹp theo.
Năm 2023, tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của người khuyết tật chỉ là 23,9%, thấp hơn rất nhiều so với mức 77,4% ở người không khuyết tật; khoảng cách này đặc biệt lớn ở nhóm tuổi 18-40.
Nói cách khác, khuyết tật là một trong những “phép thử” rõ ràng nhất để nhìn ra liệu một hệ thống giáo dục có thực sự sẵn sàng cho sự đa dạng, hay vẫn đang âm thầm ưu tiên một nhóm người học “kiểu mẫu” và bỏ lại phía sau những người khác.
Các cơ sở giáo dục hiện nay thường coi việc tạo cơ hội học tập công bằng cho sinh viên khuyết tật chủ yếu là những điều chỉnh đơn lẻ cho từng cá nhân khi có yêu cầu.
Những điều chỉnh này dĩ nhiên rất cần thiết: thêm thời gian làm bài cho sinh viên có khó khăn về vận động; cung cấp tài liệu điện tử cho sinh viên khiếm thị; cho phép trình bày theo hình thức phù hợp hơn với sinh viên có khó khăn về giao tiếp.
Nhiều sinh viên sẽ không thể học tập hoặc hoàn thành chương trình nếu không có những hỗ trợ đó. Nhưng nếu hòa nhập chỉ phụ thuộc vào việc sinh viên phải tự giải trình, tự chứng minh và lặp đi lặp lại khó khăn của mình với từng môn học, từng giảng viên, thì gánh nặng vẫn đang được đặt nhiều hơn lên vai người học mà không có những cân nhắc chủ động từ phía hệ thống.
Trong bối cảnh Việt Nam, không phải sinh viên nào cũng dễ dàng có giấy tờ xác nhận “loại khuyết tật”, đặc biệt với những tình trạng như khuyết tật học tập, rối loạn phát triển thần kinh hay các vấn đề sức khỏe tâm thần.
Bên cạnh đó là những định kiến rất quen thuộc: rằng người xin hỗ trợ là “yếu đuổi”, là “không đủ cố gắng”, là “không đủ năng lực”, thậm chí là đang đòi hỏi sự ưu ái quá mức. Chính những rào cản đó khiến nhiều sinh viên chọn im lặng, tự xoay xở một mình, cho đến khi các em kiệt sức hoặc bị bỏ lại phía sau.
Khi một hệ thống được thiết kế mà phụ thuộc quá nhiều vào các điều chỉnh cho từng cá nhân, thì sẽ luôn có rất nhiều sinh viên không bao giờ đi được đến bước nhận hỗ trợ. Đó là lý do vì sao giáo dục hòa nhập cần vượt lên trên những câu chuyện về sự cảm thông và những hỗ trợ mang tính “chữa cháy”.
Điều chúng ta cần nói đến nhiều hơn là việc chủ động thiết kế hoạt động dạy học để thúc đẩy hòa nhập công bằng ngay từ đầu.
Giảng viên cần chuẩn bị tài liệu ở các định dạng tiếp cận hơn; sử dụng nhiều cách truyền đạt khác nhau thay vì chỉ dựa vào một hình thức duy nhất; thiết kế các hoạt động học tập linh hoạt để sinh viên có thể tham gia bằng nhiều cách; và xây dựng các hình thức đánh giá hơn để người học thể hiện được năng lực thực sự của mình.
Khi một lớp học được thiết kế theo hướng đó, không chỉ sinh viên khuyết tật được hưởng lợi. Sinh viên có lo âu, trầm cảm, rối loạn phổ tự kỷ hay giảm chú ý, bệnh lý mãn tính, hay đơn giản là có những cách học khác với số đông, cũng có thêm cơ hội để học tốt hơn. Hòa nhập không phải là sự ưu tiên dành cho một nhóm nhỏ; đó là cách làm giáo dục tốt hơn cho tất cả mọi người.
Nhưng để làm được điều đó, không thể chỉ trông chờ vào thiện chí của một vài giảng viên hay nỗ lực của một phòng ban chuyên trách.
Giảng viên và cán bộ nhân viên cũng cần được hỗ trợ một cách thực chất: được tập huấn, được cung cấp tài liệu, được tạo điều kiện về thời gian và cơ chế để linh hoạt hơn trong giảng dạy và đánh giá.
Sẽ là không đủ nếu chúng ta chỉ nói với giảng viên rằng họ cần phải “tạo điều kiện cho sinh viên nhiều hơn” mà không đi kèm với những hỗ trợ tương xứng.
Hòa nhập không nên là gánh nặng riêng của sinh viên khuyết tật, cũng không nên trở thành phần việc “làm thêm” của giảng viên. Đó phải là trách nhiệm chung của cả một cơ sở giáo dục.
Khi ngày càng nhiều sinh viên có cơ hội bước vào giảng đường đại học, sự đa dạng trong lớp học cũng sẽ ngày càng trở thành một thực tế hiển nhiên. Và khi đó, hòa nhập không thể tiếp tục được xem là sự ban ơn cho một nhóm thiểu số. Nó cần được nhìn nhận đúng như bản chất: một thước đo quan trọng của chất lượng giáo dục và của mức độ tiến bộ của một xã hội.
Như Tuổi Trẻ Online đưa tin, ngày 7-4, ông Ngọ Duy Hiểu - Phó chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam - cho biết nhiều người lao động, công đoàn cơ sở, công chức, viên chức có kiến nghị với Tổng liên đoàn về việc hoán đổi kỳ nghỉ lễ dịp 30-4 và 1-5 linh hoạt hơn.
Cụ thể, Giỗ Tổ Hùng Vương (10-3 âm lịch) rơi vào chủ nhật nên người lao động sẽ nghỉ vào ngày làm việc kế tiếp, tức thứ hai ngày 27-4.
Tuy vậy nhiều người lao động đề nghị hoán đổi ngày thứ hai đó sang ngày 29-4 hoặc 2-5 để có kỳ nghỉ lễ kéo dài.
Theo ông Hiểu, trước khi đề xuất chính thức về hoán đổi nghỉ lễ, công đoàn cần lấy ý kiến từ phía người lao động, nghiên cứu quy định của pháp luật và trao đổi, thống nhất với Bộ Nội vụ.
Một doanh nghiệp ở Khu công nghiệp Vân Trung (Bắc Ninh) cho hay lịch nghỉ lễ dịp 30-4 đã được công bố từ đầu năm nên sẽ không thay đổi. Cụ thể, người lao động được nghỉ hưởng nguyên lương thứ năm ngày 30-4 và thứ sáu ngày 1-5, sau đó đi làm thứ bảy ngày 2-5.
Vì chia ca làm luân phiên ngày đêm, công ty này sẽ căn cứ lịch sản xuất để công nhân nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động theo quy định. Về khối văn phòng làm cố định, công ty tạo điều kiện để họ nghỉ phép năm (12 ngày hưởng nguyên lương).
"Chúng tôi có một số công đoạn đặc thù về sản xuất không cố định ngày làm, ngày nghỉ nên có thể luân phiên cho người lao động nghỉ, ví dụ người đi làm chủ nhật thì thứ hai sẽ được nghỉ", vị này cho hay.
Tương tự, cán bộ phụ trách nhân sự của một công ty ở Khu công nghiệp Song Khê - Nội Hoàng (Bắc Ninh) cho biết doanh nghiệp không hoán đổi nghỉ lễ vì đã thông báo lịch cho công nhân viên từ đầu năm.
Do đơn hàng tăng cao, công ty giữ nguyên lịch nghỉ Giỗ Tổ Hùng Vương (10 âm lịch) kèm nghỉ bù thứ hai 27-4, sau đó người lao động đi làm hai ngày rồi nghỉ lễ 30-4 và 1-5 như thông báo của Nhà nước.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, ông Nguyễn Văn Chí - Chủ tịch Công đoàn Công ty TNHH Crystal Martin Việt Nam (có khoảng 7.000 lao động) - cho hay nhiều công nhân mong muốn nghỉ làm vào thứ bảy 2-5 để kéo dài kỳ nghỉ lễ 30-4 trong 4 ngày liên tiếp. Phương án là hoán đổi từ thứ hai 27-4 (nghỉ bù Giỗ Tổ Hùng Vương) sang thứ bảy.
Tuy nhiên, Bộ luật Lao động 2019 quy định nghỉ bù phải là ngày làm việc kế tiếp, tức ngày 27-4 nêu trên, nên công ty không thể tự quyết định.
Để tạo thuận lợi, người lao động có nhu cầu nghỉ dài được nghỉ phép (trong 12 ngày phép năm hưởng nguyên lương). Việc này, theo ông Chí, giúp nhiều công nhân ở xa có thể về nhà lâu hơn nhưng lại ảnh hưởng đến xét tiền chuyên cần.
Chủ tịch Công đoàn công ty này mong Công đoàn cấp trên, cơ quan chức năng tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền hướng dẫn doanh nghiệp phương án linh động với dịp nghỉ lễ 30-4 và 1-5 này. Về lâu dài, doanh nghiệp cũng cần văn bản chính thức để trao đổi với đối tác, khách hàng, tính toán chi phí sản xuất kinh doanh…
Luật có thể điều chỉnh cho phép doanh nghiệp và người lao động thống nhất lịch nghỉ lễ phù hợp thực tế, có sự đồng ý của Sở Nội vụ địa phương vì đặc thù sản xuất kinh doanh mỗi nơi mỗi khác, ông Chí đề xuất.
Trong khi đó, ông Đinh Sỹ Phúc - Chủ tịch Công đoàn Công ty Taekwang Vina (Đồng Nai) - cho hay với khoảng 33.000 công nhân viên, đơn vị này đã thông báo lịch nghỉ lễ Tết từ sớm. Với đặc thù là doanh nghiệp xuất khẩu 100%, trong đó có thị trường Mỹ, công ty này phụ thuộc nhiều vào lịch xuất hàng của đối tác.
Theo ông Phúc, từ câu chuyện vận tải hàng hóa khó khăn hiện nay và việc lấy ý kiến hoán đổi nghỉ lễ gấp gáp, trong các năm tới, cơ quan chức năng cần lấy ý kiến các phương án nghỉ lễ từ sớm, để doanh nghiệp, Công đoàn và người lao động có thời gian thương lượng, thống nhất.
Ngược lại, bà Phạm Thị Tuyết Nhung - Chủ tịch Công đoàn Công ty TNHH Yazaki EDS Việt Nam (TP.HCM) - cho hay công ty đã thống nhất lịch nghỉ lễ dịp 30-4 và 1-5 kéo dài từ 26-4 đến 3-5. Như vậy, so với lịch của nhiều doanh nghiệp khác, khoảng 7.000 công nhân viên ở đây được nghỉ thêm 3 ngày 28-4, 29-4 và 2-5 hưởng nguyên lương.
"Ngoài những ngày nghỉ phép năm theo quy định của luật, mỗi năm công ty cho phép công nhân viên nghỉ thêm 32 ngày nữa", bà Nhung thông tin.
Đằng sau những tấm thẻ xác nhận khuyết tật đối với nhiều trường hợp sẽ là một hành trình đi xa và vất vả.
Thương mẹ, từ một người phụ nữ từng đi chợ, làm vườn, chăm lo mọi việc trong nhà, mẹ trở thành người cần được chăm sóc.
Gia đình tôi sau đó làm hồ sơ để mẹ được hưởng chế độ trợ cấp ở diện là con liệt sĩ bị khuyết tật (ông ngoại tôi là liệt sĩ, bà ngoại là thương binh). Khoản hỗ trợ hằng tháng tuy không lớn nhưng phần nào giúp trang trải chi phí thuốc men cho mẹ. Chúng tôi rất biết ơn về sự hỗ trợ này, vì gia đình thuộc diện khó khăn và neo đơn. Nhưng để có được tấm giấy xác nhận ấy, hành trình với chúng tôi đúng là hành trình những chuyến đi xa.
Vì mẹ thuộc diện con liệt sĩ (theo quy định về thủ tục hành chính trường hợp thân nhân là con bị khuyết tật nặng phải có thêm giấy xác nhận mức độ khuyết tật của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh - TT) nên mẹ không thể chỉ khám ở xã như diện khuyết tật thông thường, mà phải nhiều lần xuống bệnh viện tuyến tỉnh theo chỉ định để khám và hoàn tất hồ sơ.
Quãng đường cả đi lẫn về hơn 100 cây số, trong khi mẹ không thể tự đi lại. Mỗi lần như vậy, gia đình đều phải thuê xe taxi, vì tuyến đường và phương tiện công cộng ở ngoài quê không phù hợp cho người ngồi xe lăn.
Chi phí khám bệnh, chi phí di chuyển, thời gian chờ đợi… tất cả dồn lại thành một gánh nặng không nhỏ cho mấy mẹ con. Thật vất vả, để được xác nhận là "khó khăn", người ta lại phải vượt qua một hành trình cũng khá khó khăn.
Câu chuyện của mẹ tôi không phải là cá biệt. Nhiều người khuyết tật ở diện con em liệt sĩ, đặc biệt ở vùng nông thôn, đang gặp những khó khăn tương tự khi tiếp cận chính sách hỗ trợ.
Tôi nghĩ một trong những điều cần được cải thiện là cách thức triển khai. Thay vì yêu cầu người khuyết tật di chuyển xa để thẩm định, các cơ quan chức năng hoàn toàn có thể tổ chức các đợt khám, đánh giá tại địa phương cấp thôn, xã. Việc cử đội ngũ y bác sĩ đến tận nơi, thậm chí là tận nhà (trường hợp nhiều người neo đơn, không thể đi lại,...) không chỉ giảm chi phí cho người dân, mà còn thể hiện sự chủ động của chính sách.
Bên cạnh đó, thủ tục hành chính cũng cần được đơn giản hóa. Việc phải đi lại nhiều lần, bổ sung giấy tờ phức tạp vô tình khiến nhiều người nản lòng, thậm chí từ bỏ quyền lợi chính đáng của mình. Một chính sách nhân văn không chỉ nằm ở nội dung hỗ trợ, mà còn ở cách nó đến được với người cần.
Ngoài chính sách trợ cấp, vấn đề lớn hơn là khả năng tiếp cận các tiện ích và cơ hội việc làm của người khuyết tật.
Nhiều công trình công cộng vẫn thiếu lối đi cho xe lăn. Phương tiện giao thông chưa thân thiện. Nơi làm việc hiếm khi được thiết kế phù hợp. Điều đó khiến người khuyết tật, dù có năng lực, vẫn khó hòa nhập.
Để thay đổi điều này, cần có những quy định rõ ràng hơn về thiết kế không gian tiếp cận trong xây dựng, giao thông và môi trường làm việc.
Người khuyết tật không cần được "ưu tiên" theo nghĩa đặc biệt, mà cần một môi trường đủ công bằng để họ có thể tự bước đi theo cách của riêng mình.
Sau những tháng ngày đầu đầy tuyệt vọng, mẹ tôi dần học cách sống cùng chiếc xe lăn. Bà tập làm lại những việc nhỏ, từ việc tự di chuyển trong nhà, đến việc nấu ăn, chăm sóc bản thân. Có những ngày mẹ buồn, có những lúc mệt mỏi, nhưng bà không cho phép mình dừng lại quá lâu. Bà vẫn lọ mọ làm những việc trong khả năng để ngày trôi qua có ý nghĩa.
"Tàn nhưng không phế" - câu nói tưởng chừng quen thuộc ấy, với mẹ tôi, không phải là khẩu hiệu, mà là một hành trình.
Người khuyết tật, hơn ai hết, cần vượt qua chính mình. Nhưng để làm được điều đó, họ cần một môi trường không rào cản, một xã hội không định kiến, và một hệ thống chính sách đủ thấu hiểu.
Một xã hội văn minh không chỉ được đo bằng tốc độ phát triển, mà còn bằng cách nó đối xử với những người yếu thế nhất.
Người khuyết tật không cần những lời hứa lớn lao. Họ cần những thay đổi cụ thể từ chính sách thuận tiện hơn, không gian dễ tiếp cận hơn, và một ánh nhìn công bằng hơn từ cộng đồng.
Cây atiso có nguồn gốc từ Địa Trung Hải xa xôi đã trở thành biểu tượng cho sự phát triển kinh tế Lâm Đồng, là nét đẹp văn hóa để người đi xa thấy nhớ mùa atiso, du khách ghé thăm không quên đem về những sản phẩm từ atiso như món quà đặc trưng của xứ lạnh.
Tôi và người nông dân từ nhiều vùng miền chọn về đây lập nghiệp biết ơn Đà Lạt theo cách của riêng mình.
Giữa thiên nhiên và nhân sinh luôn có mối quan hệ sâu sắc, khí hậu quanh năm mát mẻ, se lạnh, nhiều sương mù và mưa phùn đã tạo nên một kiểu tính cách người làm nông điềm tĩnh, hiền lành dù vất vả nhưng không lam lũ.
Thiên nhiên cũng ưu đãi cho cây atiso phát triển khỏe mạnh tươi tốt trở thành cây nông nghiệp chủ điểm kinh tế biết bao thế hệ người dân Đà Lạt từ Thái Phiên, Trại Mát, Xuân Trường (những vùng chuyên canh trồng atiso một thời).
Từ những cây giống bén duyên đầu tiên trong vườn thực nghiệm atiso đã có mặt phủ che những đồi cao lũng thấp.
Tôi yêu tuổi thơ bao nhiêu thì cũng yêu những mùa atiso bấy nhiêu. Trong con đường của ký ức có đứa lười lao động sợ ra giêng khi hoa atiso đã già phải ngủ gật lấy tim sơ chế hoa. Tôi học được sự sáng tạo của con người luôn bắt nguồn từ lao động.
Để lấy tim sơ chế hoa, người dân biết chế chiếc muỗng dẹp mà không dùng dao vì nguy hiểm và lẹm hoa. Dao xắt hoa cũng được chế tạo sao cho hợp với bông, bàn xắt rễ cũng đặc trưng cho cây atiso. Có thể nói nhìn dụng cụ lao động biết nó chỉ dành cho loài cây atiso.
Đêm đêm bên ánh đèn rồi đến ánh điện người lớn trẻ con đàn ông đàn bà ai có việc nấy, miệt mài chuyên nghiệp cùng những mùa atiso. Trẻ con lấy tim vì dễ dàng, phụ nữ khéo léo và xắt bông, đàn ông có sức xắt tất cả các khâu.
Những đêm dài ngủ ít thấy mệt nhưng có tiền lao xao khắp đầu làng cuối ngõ. Khi chạy nhảy qua thềm tuổi thơ ngoái đầu nhìn lại hình như đứa nào cũng thấy rưng rưng nhớ. Vậy đó người ta chỉ kịp yêu kịp nhớ kịp thương khi đã đi qua khi đã thấm những ngày xa.
Người tiêu dùng, nhà khoa học yêu cây atiso vì những công dụng tuyệt diệu của nó... Còn tôi, tôi yêu nó bởi nó gắn bó với chúng tôi suốt hành trình tuổi thơ. Có đứa học sinh của tôi đi xa chẳng nhớ bài tôi dạy thêm, em nhớ về một lần đói bụng cô múc cho dĩa cây con atiso xào thịt và chén chè hoa atiso nấu đậu xanh.
Tôi cũng như em, tôi nhớ những ngày vất vả theo mẹ đi lấy tim, tôi nhớ những lần trèo lên mái tôn phơi hoa.
Chỉ cần nhìn thấy ông mặt trời quạu quọ, xị mặt là y như rằng hốt hoảng ùa nhau trèo lên mái nhà quét bông. Tiếng chổi tre lao xao, tiếng la, tiếng hối thúc vào không gian bình yên của ngày.
Tôi nhớ sau mùa thu hoạch cùng lũ bạn ra vườn đi mót rễ, mót thân ngắn người ta bỏ về phơi bán lấy tiền làm bánh, nấu chè. Những kỷ niệm vừa mệt vừa vui của những đứa con lớn lên cùng atiso.
Mùa atiso làm thay da đổi thịt một vùng đất. Nhờ nó mà những ngôi nhà nơi tôi ở cứ cao dần, vươn dần lên trong nắng. Nó đem về bình yên hạnh phúc, cuộc sống ấm no đủ đầy qua bao thập kỷ.
Giờ đây có nhiều cây trồng nông nghiệp cao ra đời kinh tế hơn, đỡ vất vả hơn. Nhưng chẳng ai nỡ phụ nó cả, nó vẫn có vị trí đặc biệt trong lòng những người dân thân yêu như thể mối tình đầu luôn là mối tình thiêng liêng và cao đẹp nhất không gì thay đổi. Nó vẫn là biểu tượng trong lòng những người con xứ sương mù.
Những mùa atiso thương nhớ đã chắp cánh cho tôi đến lớp, đến trường. Mùa atiso đã đưa bạn bè tôi đi đến những thành phố cao rộng để tắm táp trên dòng sông tri thức rồi trở về lại chính nơi nuôi dưỡng mình tạo ra những nền nông nghiệp cao, những cơ sở lai tạo, những hợp tác xã đưa cây atiso đi xa. Những người bạn tôi vẫn miệt mài bén duyên với đất với cây.
Những người bạn trẻ của tôi đã từ bỏ thành phố về nhà xây dựng, lại quảng bá phát triển sản phẩm từ cây atiso… Họ đang tiếp nối thế hệ của những cô dì, chú bác, tiếp tục ươm trồng một nền nông nghiệp hiện đại kế thừa và phát triển.
Nhìn lại sự phát triển của thành phố mình yêu hơn thế kỷ trôi qua, người còn người mất. Trong nhịp thở thời gian tôi nghe cổ họng mình đượm vị ngọt của ly trà hoa atiso mát dịu. Vị đắng, vị ngọt của chiếc lá atiso như vòng quay của vùng Thái Phiên tôi sống - có những bước thăng, bước trầm.
Có những biến chuyển suy nghĩ trong hành trình làm nông của người dân. Khi thịnh chỉ mong con cháu mình một đời gắn bó với nghề nông; khi suy mong nó bứt ra khỏi đất khỏi vườn. Nhưng cuối cùng chúng tôi vẫn quay về bên vườn cây giữa nhiều sự lựa chọn như hậu vị ngọt ngào nhớ thương dẫn chúng tôi về bên những mùa hoa atiso đang bừng lên giữa đất trời phố núi cao nguyên.