Bác sĩ chuyên khoa 2 Dương Duy Trang, Phó Giám đốc Y khoa, kiêm Trưởng khoa Nội Tim mạch – Tim mạch can thiệp, Bệnh viện Gia An 115, cho biết nhiều thói quen trong sinh hoạt hằng ngày tưởng chừng vô hại nhưng nếu kéo dài sẽ thúc đẩy xơ vữa động mạch và tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim.
Theo bác sĩ Đào Quang Hoàng, Khoa Nội tim mạch – Lão học, Bệnh viện đa khoa Thủ Đức, bệnh viện từng ghi nhận nhiều ca nhồi máu cơ tim ở người trẻ, như bệnh nhân nam N.T.K (36 tuổi, chủ một doanh nghiệp gia đình) vẻ ngoài khỏe mạnh, không béo phì. Để chạy kịp các dự án cuối năm, anh có thói quen làm việc đến 2 – 3 giờ sáng, hút một bao thuốc mỗi đêm và uống nước tăng lực liên tục để giữ tỉnh táo.
Một buổi sáng cuối tuần, anh K. ôm ngực trái, mặt tái nhợt và vã mồ hôi khi đang ăn sáng. Nhập viện cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Thủ Đức, anh được chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên (dạng nguy hiểm nhất) do động mạch vành bên phải tắc hoàn toàn bởi cục máu đông lớn; bệnh nhân sau đó đã được can thiệp đặt stent kịp thời.
Hay một trường hợp khác ở bệnh nhân nữ L.T.A.V (45 tuổi, thợ làm móng) ít vận động, hay ăn vặt và không tập thể dục. Vài ngày trước khi nhập viện, chị V. hay bị những cơn tức ngực nhẹ, hụt hơi khi leo cầu thang nhưng lại nghĩ do mình “ngồi nhiều nên mệt mỏi cơ bắp” và cố gắng xoa dầu gió.
Đến ngày thứ 4, cơn đau lan dọc từ ngực lên đến hàm dưới khiến chị không thở được, tri giác lơ mơ. Khi vào viện, một nhánh mạch vành phải nuôi tim của chị đã tắc, may mắn ca tái thông cấp cứu đã thành công và bệnh nhân qua cơn nguy kịch.
Bác sĩ Duy Trang cho biết thêm, Bệnh viện Gia An 115 từng tiếp nhận bệnh nhân nam trung niên T.K. (có tiền sử hút thuốc lá nhiều năm, sinh hoạt thất thường và không khám sức khỏe định kỳ) nhập viện với dấu hiệu đau ngực kéo dài nhiều giờ. Can thiệp mạch vành ghi nhận tổn thương nhiều vị trí dù trước đó hầu như không có triệu chứng cảnh báo.
Từ đó, theo bác sĩ Duy Trang, những yếu tố thường bị bỏ sót nhưng lại âm thầm làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim gồm:
Rối loạn lipid máu (đặc biệt LDL-cholesterol tăng cao không triệu chứng), tăng huyết áp giai đoạn sớm, tiền tiểu đường hoặc tiểu đường chưa chẩn đoán. Những tình trạng này có thể tồn tại nhiều năm mà người bệnh không hay biết.
Lối sống thiếu lành mạnh như hút thuốc lá, căng thẳng kéo dài, thức khuya, thiếu ngủ, ít vận động, chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa và đường… đều góp phần thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch ngay cả ở người trẻ.
Tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch sớm hoặc béo phì (đặc biệt là béo bụng) cũng làm tăng nguy cơ nhưng thường bị xem nhẹ.
Bác sĩ Hoàng cho biết thêm, nhiều người lạm dụng trà sữa, cà phê thật nhiều sữa đặc, bánh ngọt để tỉnh táo. Lượng đường khổng lồ nạp vào, kết hợp với việc ngồi một chỗ kéo dài không tiêu hao năng lượng sẽ nhanh chóng chuyển hóa thành mỡ nội tạng. Sự kết hợp này gây ra tình trạng kháng insulin (tiền tiểu đường) và rối loạn mỡ máu âm thầm, từ từ dẫn đến xơ vữa động mạch.
“Điều đáng lưu ý là mảng xơ vữa động mạch có thể hình thành và tiến triển âm thầm, đến một lúc nào đó bị nứt vỡ, hình thành cục máu đông và gây tắc mạch đột ngột, dẫn đến nhồi máu cơ tim”, bác sĩ Duy Trang nhấn mạnh.
Đây không phải là điều bất thường mà thường là dấu hiệu cho thấy cách tập sai. Khi tập sai phương pháp, cơ thể sẽ phản ứng bằng cách tăng tiết các hoóc môn căng thẳng và làm tăng đường huyết, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Vì vậy, điều quan trọng không phải là tập nhiều mà là tập đúng. Với người tiểu đường hay tiền tiểu đường, nếu tập nhiều mà đường huyết không hạ thì có thể do những nguyên nhân sau:
Không phải cứ tập càng nặng thì đường huyết càng giảm. Các bài tập cường độ cao như chạy nước rút, tập cường độ cao ngắt quãng (HIIT) hoặc nâng tạ nặng có thể làm đường huyết tăng tạm thời. Nguyên nhân là cơ thể tiết hoóc môn adrenaline và cortisol, kích thích gan đưa thêm đường glucose vào máu để cung cấp nhanh nguồn năng lượng cho vận động.
Ngược lại, các bài tập cường độ vừa như đi bộ nhanh, đạp xe hoặc bơi lội thường giúp giảm đường huyết hiệu quả hơn. Những hoạt động này cho phép cơ bắp sử dụng đường glucose một cách ổn định, không kích hoạt phản ứng stress mạnh. Vì vậy, nếu chỉ tập nặng mà không cân nhắc cường độ phù hợp, loại hình vận động thì có thể vô tình làm đường huyết tăng thay vì giảm.
Thời điểm tập cũng ảnh hưởng rõ rệt đến đường huyết. Khi tập lúc đói, đặc biệt là buổi sáng sớm, cơ thể dễ rơi vào trạng thái stress nhẹ và tăng tiết đường glucose vào máu. Điều này có thể khiến đường huyết tăng dù đang vận động.
Trong khi đó, vận động nhẹ như đi bộ sau bữa ăn lại giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn. Lúc này, lượng đường glucose trong máu đang tăng và cơ bắp có thể sử dụng trực tiếp để tạo năng lượng. Vì vậy, chỉ cần thay đổi thời điểm vận động, hiệu quả kiểm soát đường huyết đã có thể khác đi đáng kể.
Một sai lầm khác là tập dồn dập trong vài ngày rồi nghỉ dài. Hiệu quả của tập luyện đối với khả năng kiểm soát đường huyết chỉ kéo dài trong khoảng 1 - 3 ngày. Nếu không duy trì đều đặn, cơ thể sẽ nhanh chóng quay lại trạng thái ban đầu.
Vì vậy, tập đều mỗi tuần quan trọng hơn là tập thật nặng trong thời gian ngắn. Ngay cả những buổi tập nhẹ nhưng đều đặn cũng có thể mang lại hiệu quả kiểm soát đường huyết tốt hơn, theo Medical News Today.
Tại chuỗi sự kiện hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7/4, Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan cho hay Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển dịch mạnh mẽ mô hình bệnh tật, trong đó các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, ung thư, tăng huyết áp, đái tháo đường và đột quỵ trở thành nguyên nhân tử vong hàng đầu. Theo số liệu Bộ Y tế, nhóm bệnh này hiện chiếm khoảng 80% gánh nặng bệnh tật toàn quốc.
"Xu hướng bệnh tật thay đổi này là do thói quen lười vận động, ăn nhiều thịt, ít rau, ăn nhiều muối", Bộ trưởng nói. Điều tra quốc gia STEPS, Việt Nam có khoảng 25% người trưởng thành bị tăng huyết áp, khoảng 5 triệu người mắc đái tháo đường, hơn 180.000 ca ung thư mới mỗi năm và hàng triệu người bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Những năm gần đây số người nhập viện do đái tháo đường tăng, độ tuổi ngày càng trẻ. Trước đây bệnh đái tháo đường chỉ tấn công người hơn 40 tuổi, nhưng ngày nay thanh thiếu niên cũng bị bệnh. Nguyên nhân chủ yếu là do lối sống "nhà giàu" - tiêu thụ quá nhiều thực phẩm dẫn đến dư thừa năng lượng và lười tập thể dục. Lối sống này cũng dẫn đến tình trạng thừa cân béo phì đáng báo động.
Thực tế, xu hướng tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng nhưng nghèo dinh dưỡng đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là thực phẩm chế biến sẵn.
Trong giai đoạn 2000-2017, lượng tiêu thụ thực phẩm đóng gói, chế biến sẵn đã tăng hơn 10 lần. Đây là nhóm thực phẩm thường chứa nhiều muối, đường, chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa - những thành phần làm gia tăng nguy cơ béo phì, rối loạn chuyển hóa và bệnh tim mạch.
Người Việt hiện tiêu thụ trung bình khoảng 8,1g muối mỗi ngày, gần gấp đôi mức khuyến nghị. Lượng đường tự do cũng ở mức 46,5g/ngày - cao hơn đáng kể so với ngưỡng an toàn.
TS.BS Hoàng Thị Đức Ngàn, Trưởng khoa Dinh dưỡng Cộng đồng, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, cho hay việc ăn quá nhiều muối được xác định góp phần làm tăng huyết áp - yếu tố nguy cơ hàng đầu của đột quỵ và bệnh tim. Không chỉ vậy, muối còn gây tổn thương thận khi làm tăng áp lực lên các vi mạch, dẫn đến nguy cơ mắc bệnh thận mạn tính.
Các chuyên gia nhận định gốc rễ của vấn đề không chỉ ở thực phẩm mà còn do thói quen sinh hoạt thiếu lành mạnh: ăn nhanh, ăn mặn, uống nhiều nước ngọt, ít vận động và thiếu kiến thức dinh dưỡng. Giải pháp không nằm ở điều trị mà phải bắt đầu từ phòng ngừa. Người dân cần chủ động điều chỉnh chế độ ăn, tăng cường rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, đồng thời hạn chế muối, đường và thực phẩm chế biến sẵn. Việc đọc nhãn dinh dưỡng cũng là kỹ năng quan trọng giúp kiểm soát lượng calo và thành phần nạp vào cơ thể.
Bác sĩ Vũ Quang Huy, khoa Thận tiết niệu, Bệnh viện Nội tiết Trung ương khuyến nghị người dân cần duy trì tầm soát sức khỏe định kỳ, đặc biệt với người có bệnh mạn tính phải được theo dõi thường xuyên. Đồng thời, cần xây dựng lối sống khoa học, hạn chế các yếu tố nguy cơ như sử dụng chất kích thích, thuốc lá, rượu bia, ăn uống thiếu lành mạnh và ít vận động. Đây chính là bước đi căn bản, giúp phát hiện sớm nguy cơ và kiểm soát bệnh ngay từ giai đoạn đầu.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh kêu gọi mỗi người dân hãy bắt đầu từ những việc nhỏ nhất, duy trì lối sống lành mạnh, rèn luyện thể chất hằng ngày, ăn uống khoa học và chủ động phòng bệnh. Bà cho biết Quốc hội đang ưu tiên hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế, đặc biệt trong lĩnh vực phòng bệnh và bảo hiểm y tế, hướng tới mục tiêu bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe một cách công bằng, hiệu quả.
Với độ tuổi này, ước tính tuổi trung bình của người mắc đột quỵ ở Việt Nam trẻ hơn thế giới 10 năm. Mỗi năm nước ta ghi nhận đến hơn 200.000 trường hợp đột quỵ, tỉ lệ tử vong khoảng 20-30%.
Đặc biệt tình trạng đột quỵ ở người trẻ ngày càng gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp tới nhóm người trong độ tuổi lao động. Vì vậy, người trẻ tuổi nên làm gì để phòng đột quỵ?
Đột quỵ là gì?
Đột quỵ là một biến chứng sức khỏe nguy hiểm, có thể xảy ra ở bất cứ ai kể cả người còn trẻ, và dễ dàng cướp đi tính mạng người bệnh nếu không can thiệp kịp thời.
Người trung niên, cao tuổi, người mắc bệnh lý nền mạn tính, đặc biệt trong số đó người mắc bệnh tim mạch là những đối tượng nguy cơ cao bị đột quỵ.
Mặc dù vậy những năm gần đây, đột quỵ ở người trẻ đang có xu hướng gia tăng đáng kể trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam.
Tại sao bị đột quỵ?
Đột quỵ (hay tai biến mạch máu não) là tình trạng não bộ bị tổn thương nghiêm trọng do mạch máu nuôi não bị tắc nghẽn (nhồi máu não) hoặc vỡ (xuất huyết não), khiến não thiếu oxy trầm trọng và tế bào não sẽ bị chết đi trong vài phút.
Đây là những trường hợp cần cấp cứu y tế khẩn cấp nếu không sẽ gây tàn phế vĩnh viễn hoặc tử vong.
Nói đến đột quỵ tức là đột quỵ não và đột quỵ tim. Đột quỵ não, còn gọi là tai biến mạch máu não, xảy ra khi dòng máu cung cấp nuôi não từ tim lên bị ngừng do tắc mạch máu não (thường là cục máu đông) hoặc vỡ mạch máu não (do xơ vữa động mạch não).
Đột quỵ ở người trẻ tuổi đang gia tăng do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Một tỉ lệ đáng kể liên quan tới lối sống không lành mạnh như hút thuốc (thuốc lá, xì gà, thuốc lào), nghiện rượu bia, lười vận động, và lạm dụng chất kích thích làm tăng nguy cơ hoặc tắc mạch máu não.
Đối với stress và áp lực công việc là do áp lực cao gây căng thẳng mạn tính, mất ngủ, khiến huyết áp tăng cao đột ngột. Bên cạnh đó người mắc bệnh nền tim mạch và chuyển hóa cũng làm gia tăng số người mắc cao huyết áp (huyết áp cao chiếm khoảng 10% các trường hợp); đái tháo đường (khoảng 30% các trường hợp), và rối loạn mỡ máu (mỡ máu tăng cao), đây là những nguyên nhân trực tiếp gây xơ vữa hoặc đột quỵ não.
Cần kể đến những trường hợp bị dị dạng mạch máu não như các bệnh lý bẩm sinh phình mạch, dị dạng động tĩnh mạch dễ vỡ gây xuất huyết não. Đối với các trường hợp thừa cân, béo phì có chỉ số khối cơ thể (BMI > 30) và vòng eo lớn (trên 80cm) sẽ làm tăng nguy cơ đột quỵ.
Bên cạnh đó chế độ ăn không hợp lý như thường xuyên ăn đồ ăn nhanh, nhiều dầu mỡ (đặc biệt mỡ động vật), nhiều muối (ăn mặn) làm tăng cholesterol và áp lực lên mạch máu cũng là những nguyên nhân góp phần gây đột quỵ, ngoài ra đột quỵ còn có thể do di truyền.
Cần thực hành lối sống lành mạnh như hạn chế rượu bia, không hút thuốc lá, thuốc lào, hạn chế ăn thức ăn nhanh cũng như mỡ động vật, cần giảm áp lực công việc (giảm stress), không nên thức khuya hoặc dậy quá sớm.
Ngoài ra cần tăng cường vận động thể chất như tập thể dục buổi sáng và trước khi đi ngủ buổi tối hoặc đi bộ mỗi ngày khoảng 30 phút hoặc bơi, chơi các môn thể thao như cầu lông, bóng bàn, pickleball, tennies...
Nên khám bệnh định kỳ để phát hiện bệnh tiểu đường, mỡ máu cao, và bệnh lý mạch máu như huyết áp cao (tăng huyết áp) để được chữa trị kịp thời.