Tôi nhớ một buổi sáng cách đây không lâu ở một thành phố, có quán cà phê với tấm biển lớn treo phía trên: “Cà phê siêu sạch – nguyên chất 100%”. Đi thêm vài trăm mét, hiện tượng tương tự lặp lại: quán nào cũng dán dòng chữ ấy, có nơi còn để to hơn cả tên thương hiệu.
Buổi chiều đi ngang qua nhiều cơ sở đào tạo tên gắn liền với chữ “quốc tế”.
Hai hiện tượng không liên quan, nhưng phản ánh cùng một logic quen thuộc: nếu niềm tin chất lượng thực tế vẫn còn bị nhiều người ngoài nghi, thì ngôn từ dường như được huy động để lấp đầy khoảng trống.
Trong đời sống thường nhật, người tiêu dùng vẫn thường mang nỗi nghi ngại: ly cà phê mình uống có thật sự nguyên chất? Có bị pha tạp chất, hóa chất bảo quản hay không? Những vụ việc cà phê giả, cà phê “bẩn” bị phát hiện thời gian qua càng làm tăng thêm sự bất an ấy.
Chính vì vậy, “siêu sạch” không còn là một tính từ mô tả mà trở thành lời cam kết hay hứa hẹn. Ngay cả quán cà phê vỉa hè giá chỉ 15.000 đồng cũng treo biển “siêu sạch”.
Vì nếu không nói ra điều này, khách hàng khó mà tin tưởng. Khách hàng không chỉ mua một ly cà phê; họ mua cảm giác yên tâm.
Câu chuyện nhiều “đại học quốc tế” cũng vận hành theo cùng một cơ chế. Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đang chuyển mình, hai chữ “quốc tế” trở thành tín hiệu mạnh mẽ, gợi lên hình ảnh chương trình tiên tiến, giảng viên chất lượng cao và bằng cấp có giá trị toàn cầu. Nhưng thực tế không phải lúc nào cũng khớp với tên gọi. Nhiều chương trình vẫn còn hạn chế về đội ngũ giảng viên quốc tế, môi trường học thuật và sự công nhận quốc tế thực sự.
Gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã siết chặt quy định về đặt tên cơ sở giáo dục đại học, không cho phép tùy tiện sử dụng các từ mang tính “vị thế đặc biệt” như “quốc tế”, “quốc gia”, “Việt Nam”… trừ khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Quy định này cho thấy hiện tượng lạm dụng tên gọi không còn là chuyện cá biệt, mà đã trở thành vấn đề cần quản lý để tránh gây nhầm lẫn và bảo vệ người học.
Vậy điều gì khiến nhiều người đặc biệt “ưa chuộng” những từ mang tính nâng cấp như “siêu” hay “quốc tế”?
Câu trả lời có lẽ nằm ở một tâm lý dễ hiểu: chất lượng thực tế còn khiêm tốn, nhưng khát vọng vươn tầm lại rất lớn. Trong thời gian dài, một số loại hàng hóa kém ổn định về chất lượng. Giáo dục trong nước cũng thường bị so sánh bất lợi với các nền giáo dục tiên tiến.
Những so sánh ấy có thể không công bằng, nhưng để lại dấu ấn: cảm giác chưa đủ, kèm theo mong muốn được công nhận mạnh mẽ.
Phải chăng khoảng cách giữa thực tế và kỳ vọng còn lớn, nên ngôn từ trở thành giải pháp nhanh nhất để “nâng cấp” hình ảnh?
“Siêu sạch” không chỉ là sạch mà còn vượt trội so với “chưa sạch”. “Quốc tế” không chỉ là mở rộng mà còn là cách khẳng định mình đã bước ra khỏi khuôn khổ “bình thường nội địa”.
Đó là một dạng tự vệ tâm lý: khẳng định giá trị ngay cả khi điều đó chưa hoàn toàn trở thành hiện thực.
Ở chiều tích cực, khát vọng ấy có thể là động lực quan trọng. Khi người tiêu dùng đòi hỏi cà phê sạch hơn, nhiều doanh nghiệp, từ các thương hiệu lớn đến các cơ sở nhỏ, đã đầu tư nghiêm túc hơn vào nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất và truy xuất nguồn gốc.
Tương tự, áp lực từ phụ huynh tìm kiếm giáo dục chất lượng cao đã thúc đẩy nhiều trường cải thiện chương trình, hợp tác quốc tế và hướng tới các tiêu chuẩn kiểm định quốc tế. Khát vọng, vì thế không chỉ nằm trên tấm biển quảng cáo, mà có thể kéo thực tế đi lên.
Tuy nhiên nếu khát vọng chỉ dừng lại ở ngôn từ, chính những từ ngữ ấy sẽ dần mất giá trị. Khi quán nào cũng “siêu sạch”, người tiêu dùng bắt đầu nghi ngờ tất cả.
Khi trường nào cũng mang tên “quốc tế”, sinh viên và phụ huynh sẽ tự hỏi: đâu mới là quốc tế thực sự? Khi niềm tin bị bào mòn, thiệt hại không chỉ thuộc về một thương hiệu hay một trường học, mà còn thuộc về cả hệ sinh thái kinh tế – giáo dục.
Ly cà phê vỉa hè đến tấm biển trường đại học cho thấy tràn đầy khát vọng, nhưng ngôn từ đôi khi lại đi nhanh hơn thực lực hiện có.
Có lẽ, điều cốt lõi là nâng chất lượng thực chất đến mức những cụm từ như “siêu sạch” hay “quốc tế” trở nên không còn cần thiết.
Khi cà phê thật sự sạch, người ta nhận ra qua vị đắng thanh và hậu ngọt tự nhiên, chứ không phải qua tấm biển trước quán. Khi một trường đại học đạt chuẩn, sinh viên sẽ cảm nhận qua chương trình học, đội ngũ giảng viên và con đường nghề nghiệp mở ra trên khu vực hoặc toàn cầu, chứ không cần phải đọc tên trường mới biết.
Đến lúc đó, niềm tin không còn treo trên bảng hiệu mà nằm trong trải nghiệm. Và khát vọng cũng không cần phải nói to lên nữa, bởi nó đã hiện diện trong chính chất lượng.
Ngày 7-4, Công an tỉnh Lâm Đồng cho biết các đơn vị chức năng đã làm rõ vụ sản phụ bị tát trong khuôn viên Bệnh viện Đa khoa II Lâm Đồng trong lúc đi khám thai, chờ sinh.
Theo thông tin từ cơ quan công an, người bị tát là chị P.T.K.L. (20 tuổi), còn người có hành vi đánh là N.X.T. (25 tuổi). Anh T. là chồng chị L., cùng ngụ tại Lâm Đồng.
Chiều 3-4, anh T. đưa vợ đến Bệnh viện Đa khoa II Lâm Đồng để khám thai và chờ sinh. Chị L. sau đó đã tự ý rời khỏi khoa sản, không chấp hành việc thăm khám theo chỉ định của bác sĩ.
Việc này khiến hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cự cãi. Trong lúc nóng giận, anh T. đã tát chị L. mạnh tay và yêu cầu vợ quay lại thực hiện theo hướng dẫn của bác sĩ. Nhiều nhân viên y tế có mặt tại hiện trường đã kịp thời can thiệp nên vụ việc không tiếp tục diễn biến phức tạp hơn.
Các nhân viên bệnh viện đã đưa chị L. quay lại khoa sản để tiếp tục theo dõi và thực hiện các yêu cầu chuyên môn. Đến 4h30 ngày 6-4, chị L. được chỉ định mổ lấy thai. Hai bé gái có cân nặng lần lượt là 1,5kg và 1,7kg chào đời và hiện đang được chăm sóc tích cực tại khoa nhi sơ sinh do sinh thiếu tháng.
Làm việc với cơ quan chức năng, chị L. cho biết bản thân cũng có một phần lỗi khi đã tự ý bỏ ra ngoài, đồng thời mong mọi người thông cảm vì vợ chồng chị đã làm mất trật tự tại nơi khám chữa bệnh.
Sản phụ này bày tỏ mong muốn cơ quan chức năng và dư luận bỏ qua cho chồng mình vì hành động nóng nảy bộc phát, để anh có điều kiện chăm sóc vợ và hai con mới sinh.
Bộ Tư pháp cho biết đã tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội về dự án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, dự kiến được thông qua trong đợt hai kỳ họp từ 20-23/4. Một trong những nội dung đáng chú ý là thu hẹp phạm vi các giao dịch bắt buộc công chứng nhằm tạo thuận lợi cho người dân.
Các giao dịch gồm: văn bản ủy quyền của người có tên trong hợp đồng thuê nhà ở đã xuất cảnh cho người khác đứng tên mua nhà ở thuộc tài sản công; hợp đồng chuyển nhượng hợp đồng kinh doanh bất động sản; văn bản thỏa thuận của các thành viên có chung quyền sử dụng đất khi góp vốn vào doanh nghiệp; văn bản ủy quyền giải quyết thi hành án liên quan đến tài sản khi người phải thi hành án xuất cảnh; văn bản ủy quyền thực hiện quyền khiếu nại; hợp đồng chuyển nhượng Văn phòng Thừa phát lại.
Bộ Tư pháp lý giải việc cắt giảm các giao dịch phải công chứng nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật, đồng thời khuyến khích người dân chủ động lựa chọn công chứng khi cần thiết.
Tuy nhiên trong quá trình thảo luận, một số đại biểu cho rằng dự thảo chưa làm rõ tiêu chí xác định giao dịch bắt buộc công chứng, đồng thời chỉ ra tình trạng cùng một nội dung giao dịch nhưng được quy định ở nhiều luật khác nhau, gây khó khăn khi thực hiện.
Giải trình nội dung này, Bộ Tư pháp cho biết việc cắt giảm các giao dịch bắt buộc công chứng góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, qua đó hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội.
Theo cơ quan soạn thảo, giao dịch thuộc diện phải công chứng là những trường hợp đòi hỏi điều kiện tham gia chặt chẽ. Chủ thể tham gia phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp và hoàn toàn tự nguyện.
Với từng loại giao dịch, các điều kiện cụ thể cũng được đặt ra. Ví dụ, chuyển nhượng đất trồng lúa phải bảo đảm đúng quy định, không vượt hạn mức nếu không có phương án được phê duyệt; tổ chức kinh tế phải có phương án sử dụng đất được chấp thuận. Tài sản, quyền và nội dung giao dịch phải hợp pháp, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Dự thảo cũng nêu rõ nguyên tắc tránh chồng chéo với các luật khác. Theo đó, Luật Công chứng chỉ quy định nguyên tắc chung, còn các giao dịch cụ thể phải công chứng sẽ do các luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Nhà ở quy định, nhằm hạn chế việc mở rộng tràn lan các giao dịch bắt buộc công chứng.
Ngày 8.4, trao đổi với PV Thanh Niên, ông Lê Văn Tài, Phó chủ tịch UBND phường Mỹ Thượng, cho biết sau khi xác minh việc một nam sinh bị chủ quán tạp hóa đóng trên địa bàn đánh liên tục vào mặt, công an xã đã mời các bên liên quan lên làm việc.
Qua xác minh ban đầu, sự việc xảy ra ngày (6.4), tại quán tạp hóa H.H ở phường Mỹ Thượng.
Theo nội dung clip trích xuất từ camera an ninh của quán này, trong lúc một nam học sinh đang uống nước, rồi tiến lại đứng gần tủ lạnh thì bất ngờ bị người đàn ông mặc áo vàng (chủ quán) liên tiếp đánh vào mặt.
Đáng chú ý, người đàn ông này đã tác động rất mạnh khiến nam sinh xây xẩm mặt mày, gần ngã xuống, khi có người vào can ngăn thì mới dừng lại. Đoạn clip sau khi lan truyền trên mạng xã hội đã thu hút nhiều lượt xem, đa phần đều để lại bình luận bày tỏ sự bức xúc.
Nam sinh trong đoạn clip trên là em N.H.T.Đ (13 tuổi, học sinh lớp 7 tại một trường THCS đóng trên địa bàn phường Mỹ Thượng). Theo lời kể của phụ huynh em Đ., cùng ngày, khi vừa tan học, em Đ. ghé quán tạp hóa này để mua nước. Uống xong, em Đ. tiến tới tủ lạnh gần đó để hỏi mua kem, thì bị nam chủ quán lao đến đánh liên tục vào mặt.
Sau khi đi học về, em Đ. có biểu hiện đau đầu và kể lại việc cho gia đình. Cùng ngày, gia đình em Đ. đã đến quầy tạp hóa này, tìm gặp chủ quán để làm rõ, đồng thời yêu cầu trích xuất camera xem lại sự việc. Quá trình đó, phụ huynh em Đ. đã quay lại đoạn clip trên và đăng lên mạng xã hội.
Cũng theo thông tin từ người nhà em Đ., ngày 7.4, gia đình đã đưa em Đ. đi khám tại Bệnh viện T.Ư Huế để thăm khám, tại đây em Đ. được chẩn đoán bị chấn động não.
Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Lê Văn Tài, Phó chủ tịch UBND phường Mỹ Thượng, cho biết công an đang tiếp tục làm việc với người đàn ông đánh em Đ. và khi có thông tin sẽ cung cấp cụ thể.