Mục Lục
Toggle“Mưa vàng” giải nhiệt đã xuất hiện ở nhiều khu vực trong cả nước từ miền Bắc, Trung và cả khu vực Tây nguyên; nhưng TP.HCM và Nam bộ nói chung vẫn tiếp tục nắng nóng hầm hập, hầu như không mưa.
Th.S Lê Thị Xuân Lan, chuyên gia khí tượng thủy văn cho biết: Theo ảnh mây vệ tinh và radar thời tiết, trong vài ngày qua trên địa bàn TP.HCM và một số nơi ở Nam bộ vẫn có mưa nhưng trong diện rất hẹp và chỉ là các cơn mưa rào thoáng qua. Bầu trời xuất hiện mây giông nhưng chủ yếu là những đám mây nhỏ và rời rạc nên gây mưa rải rác. Thời tiết khu vực về cơ bản đã không xuất hiện mưa trái mùa giải nhiệt đúng như các dự báo trước đó. Sự bất thường của thời tiết hiện nay là do rãnh thấp xích đạo ở phía nam suy giảm nhanh khiến nguồn ấm ít. Đầu tháng 4 có một vài ngày xuất hiện gió tây nam ở tầng thấp, nhưng hiện tại cũng chuyển hướng đông nam.
Áp cao cận nhiệt đới đang hoạt động tốt khống chế thời tiết toàn bộ khu vực, nén các luồng hơi ẩm từ biển vào khiến mây đối lưu không thể bốc lên cao để tạo mưa. Bên cạnh đó, vùng thấp nóng từ phía lục địa liên tục đẩy luồng khí khô nóng tràn xuống, triệt tiêu khả năng phát sinh mưa giông.
Hiện tại, không khí lạnh cường độ yếu ở phía bắc đang suy yếu, áp thấp nóng ở phía tây sẽ lấn sang TP.HCM và Nam bộ những ngày tới có xu hướng nắng nóng gia tăng trở lại. Nhưng từ nay đến giữa tháng 5, các đợt nắng nóng chỉ kéo dài khoảng 3 – 5 ngày vì khoảng 1 tuần nữa sẽ có thêm một đợt không khí lạnh mới ở phía bắc tràn về, bên cạnh đó Nam bộ chuẩn bị bước vào giai đoạn chuyển từ mùa khô sang mùa mưa.
Từ nay đến cuối tháng 4, các nhiễu động gió đông bắt đầu hoạt động trở lại gây mưa trái mùa rải rác ở một số khu vực, chủ yếu vào chiều tối.
Khác với sự mòn mỏi mong mưa của người dân TP.HCM và các tỉnh thành Nam bộ, trong tuần qua, Tây nguyên mưa xuất hiện thường xuyên, có nơi kéo dài 3 – 4 ngày liên tiếp, nhất là ở tỉnh Lâm Đồng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Từ công trường '3 không', T&T Group làm nên kỳ tích Savan 1 trong 16 tháng

Tính tới nay, nhà máy đã vận hành ổn định, đưa 0,9 tỉ kWh mỗi năm về hệ thống lưới điện quốc gia - một kết quả đạt được trong thời gian được xem là kỷ lục với một dự án điện gió xuyên biên giới.
Savan 1 được xem là một trong những dự án tiêu biểu cho mô hình doanh nghiệp tư nhân đầu tư nguồn điện tái tạo tại nước ngoài và chủ động xây dựng hạ tầng truyền tải riêng để đưa điện về phục vụ hệ thống trong nước. Cách tiếp cận này giúp kiểm soát đầu ra, tránh điểm nghẽn "xây xong không phát được điện" - vấn đề từng xuất hiện trong nhiều dự án năng lượng.
Trở lại giai đoạn đầu tiên, ngày 9.1.2025, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào chính thức trao hợp đồng tô nhượng cho Công ty TNHH MTV Điện gió Savan 1 – đơn vị thành viên của T&T Group. Hợp đồng có thời hạn 25 năm, quy mô dự án 495 MW, tổng mức đầu tư khoảng 768 triệu USD. Ngay khi ký kết, dự án đã xác lập 3 trụ cột then chốt: có hợp đồng mua bán điện với EVN, có phương án thu xếp vốn, và có chủ trương đầu tư tuyến truyền tải 220 kV riêng để đưa điện về Việt Nam.
T&T Group cũng đặt ra tham vọng lớn: Hoàn thành giai đoạn 1 của dự án, với công suất dự kiến 300MW ngay trong tháng 12.2025. Đây là một tiến độ hiếm thấy với các dự án điện gió cùng loại, đặc biệt trong bối cảnh các dự án xuất khẩu điện từ Lào về Việt Nam trước đó đều cần nhiều năm triển khai, chủ yếu do phụ thuộc vào tiến độ lưới truyền tải và các thủ tục liên chính phủ.
Từ Việt Nam, một tổ công tác đặc biệt được thành lập với 5 thành viên chủ chốt. Nhiệm vụ của tổ là tới thực địa khảo sát, lên phương án chi tiết, chuẩn bị những bước đi đầu tiên cho giấc mơ đưa điện gió từ Lào về nước.
Anh Nguyễn Quốc Hạnh, Phó phòng Thi công phụ trách về cơ điện vẫn chưa thể quên những tháng ngày đầu tiên ấy. Sau hơn 2 giờ đi xe từ cửa khẩu Lao Bảo, khu vực công trường tương lai hiện ra trước mắt anh với một màu… xám xịt và 3 cái không: Không hạ tầng, không điện nước, không tiện ích.
Gió thổi tứ bề, cát bụi phủ trắng hai bên đường, nhiệt khô rang khiến việc thi công trở nên khắc nghiệt ngay từ những ngày đầu. Chưa kịp quen với thời tiết, tổ tiền phong ngay lập tức đối diện với khó khăn đầu tiên: Không có đường vào.
"Lúc đó đứng giữa rừng mới thấy bài toán lớn đến mức nào. Muốn làm điện gió thì phải đưa được thiết bị vào. Nhưng ngay cả việc vào được vị trí sẽ đặt turbine đã là chuyện rất khó", anh Hạnh nhớ lại.
Theo thiết kế, vị trí nhà máy nằm ở huyện Phin, tỉnh Savannakhet. Đây là khu vực cách cửa khẩu Lao Bảo khoảng 100km về phía Tây Nam. Thời điểm tổ công tác đặc biệt có mặt, tuyến đường 9E chỉ kéo dài tới thị trấn Keng Huapa. Để tiếp tục tới công trường, cả nhóm buộc phải di chuyển theo các tuyến đường mòn dài hơn 50km với chiều rộng chỉ vừa đúng 1 thân xe.
"Hằng ngày, anh em dậy từ sớm, chuẩn bị xôi, cơm nắm để di chuyển vào vị trí khảo sát. Tới đoạn ngã ba Nabo, xe ô tô cũng không thể tiến tiếp. Tất cả lại nai nịt, khoác balo thiết bị cuốc bộ gần 30km qua những lối mòn xuyên rừng", anh Hạnh nhớ lại.
Không nơi ở. Không sóng điện thoại. Không nước sạch. Cũng chẳng có đường đi. Tất cả việc khảo sát giai đoạn đầu đều được tiến hành bằng sức người thuần túy. Khó khăn đến độ, 1 tuần đầu tiên đã có người… bỏ về Việt Nam. 3 tháng sau, thành viên thứ hai trong tổ tiền phương cũng rời đi vì không chịu nổi. Nhưng, Nguyễn Quốc Hạnh cùng 2 người khác vẫn quyết định ở lại, với niềm tin vào lựa chọn phía trước…
Không có đường, những máy móc, vật tư và trang thiết bị cỡ lớn sẽ không thể vào được rừng sâu. Bài toán bắt buộc phải đặt ra lúc này là mở lối vào công trường. Để đáp ứng tiến độ, T&T Group yêu cầu nhà thầu nhanh chóng mở rộng đường mòn sẵn có; đồng thời lên phương án xây mới các tuyến huyết mạch.
Cũng tham gia từ những ngày đầu, ông Tống Văn Bình, Phó Giám đốc Nhà máy Savan 1 nhớ lại: Với quyết tâm cao, chỉ sau một thời gian ngắn, 27,7km đường tiếp cận dự án được hình thành, có thể cho phép các xe siêu trường di chuyển. Ngoài ra còn phải kể đến hơn 45 km đường nội bộ phục vụ thi công, lắp đặt.
Có đường, nhưng một huyết mạch khác vẫn tắc. Sông Sê Pôn đoạn chảy qua Lào mỗi khi mùa mưa đến lại xuất hiện lũ lớn. Cầu tạm, đập tràn không thể chống chịu lại sức mạnh thời tiết. Chỉ cần mưa lớn kéo dài, cầu có thể bị cuốn trôi, kéo theo nguy cơ việc đưa thiết bị vào công trường bị đình trệ. Trước đó, việc vận chuyển phải dùng phà tự chế (thuyền gắn máy) rất nguy hiểm và thường bị gián đoạn.
Một dự án với vòng đời ít nhất 25 năm cần hệ hạ tầng và tầm nhìn lớn và xa hơn. Trước thực tế ấy, tháng 3.2025, T&T Group quyết định xây cầu kiên cố thay cho đập tràn đang xuống cấp. Với thiết kế dài hơn 80m, rộng 6m, cầu Tangatay đủ sức chịu tải cho các đoàn xe vận chuyển lớn vào Savan 1. Đây cũng được coi là điểm mấu chốt để đẩy nhanh tiến độ toàn dự án trong các tháng tiếp theo.
Nhớ lại khoảng thời gian đặc biệt này, anh Hạnh kể: Ngày cây cầu hoàn thành, một trận mưa lớn kéo về, cuốn trôi toàn bộ tuyến đường tạm phía dưới. Cây cầu vẫn đứng đó, trở thành lối đi duy nhất để công trường vận hành ổn định.
Khi đường bộ và cầu Tangatay đã hình thành, Savan 1 bước sang một trạng thái khác. Các đoàn xe vận chuyển thiết bị vào được đều đặn. Tiến độ thi công không còn bị chia cắt bởi mùa mưa. Hạ tầng cứng gồm hơn 70 km đường mới và cây cầu bê tông trở thành nền móng cho toàn bộ giai đoạn triển khai tiếp theo.
Song song với hạ tầng mặt đất, tuyến truyền tải 220 kV từ nhà máy về Việt Nam cũng được khởi động gần như ngay sau khi ký hợp đồng tô nhượng. Tuyến đường dây dài gần 70km, đấu nối trực tiếp về Trạm biến áp 220kV Lao Bảo, hoàn thành chỉ hơn 6 tháng sau đó - một mốc tiến độ hiếm gặp với các dự án truyền tải xuyên biên giới.
Trong nước, lãnh đạo T&T Group bám sát tiến độ thực tế, hỗ trợ các thủ tục xuất nhập, xin phép để có thể đưa nhân lực, máy móc vào vị trí thi công. Tại thực địa, hơn 1.000 kỹ sư, cán bộ, công nhân của chủ đầu tư và các nhà thầu cũng căng mình theo áp lực mỗi ngày một gia tăng. Tất cả đều xác định quyết tâm vượt qua mọi khó khăn để đưa dự án về đích đúng hẹn.
Theo Phó Giám đốc Tống Văn Bình: Anh em ở công trường phải đối mặt với một loạt khó khăn… không tên. Thiếu nước, cả công trường phải mua từ huyện lỵ cách đó 60 cây số với giá cao điểm lên tới… 1 triệu đồng mỗi khối để nấu ăn. Tắm rửa, sinh hoạt khác đều phải dùng nước bơm lên từ hồ thủy điện lân cận.
Chuyện ăn ở cũng chẳng khá hơn. Do nằm xa khu dân cư, đồ ăn đều phải được mua và tích trữ theo tuần. Không có rau, anh em chia nhau về tận Đông Hà (Quảng Trị) mua giống và đất sang gieo. Đối mặt với gió Lào khắc nghiệt, cây chỉ mọc lên từng nửa gang tay… là đã héo rụi.
Một thử thách khác là gió. Với tốc độ trung bình lên tới 11m/s, đây là "mỏ vàng" cho những turbine phát điện, nhưng lại là ác mộng với người lao động khi khiến cánh kỹ sư, công nhân… triền miên ốm.
Nhưng tất cả không ngăn được quyết tâm của người T&T Group. Những dấu mốc đầu tiên lần lượt hình thành. Trụ turbine số 34 - "cột gió" đầu tiên được dựng lên sau vài tháng thi công, trong niềm vui vỡ òa của tất cả. Nối tiếp đó, 47 turbine khác lần lượt hiện diện, như biểu tượng của ý chí, năng lực những người T&T trên thực địa. Cách dãy nhà điều hành không xa, trạm biến áp 220kV cũng hình thành, bề thế, khang trang.
Các cuộc giao ban được tổ chức ngay tại công trường, tập trung xử lý từng hạng mục cụ thể, tránh tình trạng "báo cáo vòng vo". "Chậm một ngày có thể kéo theo cả chuỗi chậm trễ phía sau," Phó Giám đốc dự án Tống Văn Bình cho biết.
Tất cả được đền đáp khi ngày 26.12, ngay trước thềm năm mới, dòng điện từ Savannakhet chính thức được vận hành Thương mại, hòa vào lưới điện quốc gia. Với đội ngũ tại công trường, COD không phải là điểm kết thúc, mà là điểm chuyển trạng thái. Dự án bắt đầu chịu trách nhiệm thật với hệ thống điện, với hợp đồng mua bán điện, và với chính những con số tài chính đã được đặt ra từ đầu.
Đến nay, sau gần 4 tháng vận hành, nhà máy đã đưa hàng trăm triệu kWh điện về Việt Nam. Tổng thể, dự án sẽ cung cấp tới 0,9 tỉ kWh mỗi năm cho hệ thống lưới điện quốc gia.
Quan trọng hơn, Savan 1 cho thấy khả năng hiện thực hóa một mô hình mà trong đó doanh nghiệp tư nhân không chỉ đầu tư nguồn phát, mà còn chủ động giải bài toán truyền tải và vận hành thương mại.
Những gì diễn ra tại Savannakhet cho thấy đây không chỉ là một dự án điện gió xuyên biên giới đơn thuần, mà trở thành một trường hợp thực tiễn về năng lực triển khai hạ tầng năng lượng của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Không chỉ bổ sung nguồn điện sạch cho Việt Nam, dự án còn góp phần cụ thể hóa các hiệp định hợp tác năng lượng Việt - Lào, tăng cường kết nối hạ tầng, mở rộng không gian phát triển kinh tế.
Cách tiếp cận này cũng cho thấy Savan 1 không phải một quyết định mang tính thời điểm, mà là kết quả của quá trình chuẩn bị dài hạn của T&T, khi năng lượng được nhìn như một hạ tầng đòi hỏi chu kỳ dài và tư duy vượt ra ngoài khuôn khổ một dự án đơn lẻ.
Đặc biệt hơn, câu chuyện của Savan 1 khẳng định: Khi hội đủ năng lực tài chính, tổ chức và tầm nhìn dài hạn, doanh nghiệp rõ ràng có thể chia sẻ một phần gánh nặng đầu tư hạ tầng với Nhà nước và biến các chủ trương chiến lược thành dòng điện vận hành thực tế trong hệ thống.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Doanh nghiệp thủy sản Cà Mau đã được tháo gỡ về giám sát vùng nuôi

Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ NN-MT) vừa có những điều chỉnh, cập nhật trong Chương trình giám sát dư lượng năm 2026 tại khu vực Nam bộ nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là tại Cà Mau. Theo đó, phạm vi giám sát dư lượng năm 2026 tại khu vực Nam bộ, sau khi điều chỉnh, cập nhật có 14 đối tượng được giám sát, bao gồm tôm sú; tôm thẻ chân trắng; tôm bạc thẻ; tôm chì; cá tra; cá diêu hồng; cá trê (trê vàng, trê phi); cá nàng hai; cá chẽm; cá chốt; cá lóc; cá rô phi; cá rô đồng và lươn. Việc bổ sung, cập nhật như nêu trên xuất phát từ phản ánh của doanh nghiệp và Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu tỉnh Cà Mau (CASEP).
Trước đó, như Thanh Niên đã thông tin, CASEP phản ánh các loại thủy sản như tôm sú, tôm bạc thẻ, tôm chì và tôm thẻ chân trắng là những đối tượng nuôi phổ biến của địa phương, nhưng không có trong danh sách kiểm soát của chương trình giám sát dư lượng, chất độc hại năm 2026. Điều này, dẫn đến hệ quả là nguồn tôm nguyên liệu khi đưa vào chế biến không đủ điều kiện cấp chứng thư để xuất khẩu vào thị trường Liên minh châu Âu (EU) và các thị trường tương đương, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu của doanh nghiệp.
Theo giải thích của cơ quan quản lý, xuất phát từ thay đổi của chính quyền hai cấp, trong quá trình tổng hợp, cấp cơ sở ở tỉnh Cà Mau khi lập kế hoạch hàng năm, thống kê bị thiếu một số địa danh và vùng nuôi, dẫn đến hệ quả là nguồn tôm nguyên liệu thu mua từ các địa bàn nêu trên khi đưa vào chế biến không đủ điều kiện cấp chứng thư để xuất khẩu vào thị trường EU và các thị trường tương đương, gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp.
Để tháo gỡ vướng mắc, NAFIQPM đã cập nhật, bổ sung các đối tượng giám sát như nêu ở trên, trong đó, bao gồm tôm thẻ chân trắng, tôm sú, tôm bạc thẻ và tôm chì trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Như vậy, đến nay, vướng mắc này cơ bản đã được giải quyết.

Từ sau khi hoàn thành sáp nhập, mở rộng địa giới hành chính đến nay, gần như không tuần nào, các sở chuyên ngành của TP.HCM không có văn bản khẩn gửi UBND TP để báo cáo thông tin liên quan tới việc triển khai các dự án hạ tầng trọng điểm. Nhu cầu kết nối giao thông nội đô giữa 3 cực tăng trưởng (vùng lõi TP.HCM - Bình Dương - Bà Rịa-Vũng Tàu), giải quyết bài toán ùn tắc giao thông hiện hữu, rồi kết nối tới cảng hàng không, cảng biển…, hàng loạt những bài toán cấp bách về kinh tế tạo sức ép rất lớn lên tiến độ nối thông "huyết mạch" giao thông. Đó là lý do UBND TP.HCM liên tiếp chỉ đạo đưa các dự án trong kế hoạch vào diện khẩn cấp hoặc cấp bách phải làm ngay, còn với các công trình đang "nóng máy" thì quyết liệt đẩy tiến độ tới từng dự án.
Mới nhất, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được đã đề nghị thủ trưởng các sở, ngành, chủ đầu tư và các đơn vị liên quan dồn lực bảo đảm mốc tiến độ các dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Trong đó, dự án xây dựng đường Vành đai 3 TP.HCM và dự án cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu cần hoàn thành toàn bộ, đưa vào khai thác trước 30.6. Đối với tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành - Tham Lương, lãnh đạo UBND TP.HCM yêu cầu các đơn vị đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành toàn bộ dự án và đưa vào vận hành trong năm 2030. Với tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành - Thủ Thiêm, Chủ tịch UBND TP yêu cầu khẩn trương tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt dự án, đảm bảo đủ điều kiện khởi công dự án trước ngày 30.4. Tuyến đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành cũng cần đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư dự án, phấn đấu khởi công trước ngày 30.6.
Bên cạnh đó, TP.HCM đang đặt yêu cầu khởi công 3 siêu cảng biển tỉ USD gồm Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ; Cảng tổng hợp và container Cái Mép Hạ (giai đoạn 1) và Cảng Cái Mép Gemadept - Terminal Link (giai đoạn 2) ngay trong tháng này để chào mừng kỷ niệm 51 năm ngày đất nước thống nhất (30.4.1975 - 30.4.2026). Dịp này, dự án Trung tâm Chính trị - Hành chính mới tại Thủ Thiêm và Công viên, quảng trường ven sông tại Bến Nhà Rồng cũng sẽ chính thức được khởi công. Sau khởi công, tiến độ các siêu công trình này cũng rất "căng" khi đa số đều đặt mục tiêu hoàn thành trong giai đoạn 2028 - 2030.
Không chỉ các sở, ngành chạy đua với tiến độ, hàng loạt doanh nghiệp (DN) tư nhân đăng ký nghiên cứu hay đề xuất đầu tư các dự án trọng điểm của TP.HCM cũng phải bật trạng thái "khẩn" cho tất cả các đầu việc. Đơn cử, Liên danh Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Becamex - CTCP (Becamex) - Công ty CP Tập đoàn Trường Hải (Thaco) trong văn bản gửi UBND TP.HCM đề xuất nghiên cứu 2 tuyến metro nối từ trung tâm TP.HCM tới trung tâm hành chính Bình Dương cam kết tối đa trong 3 tháng sẽ hoàn thiện phương án đầu tư, nếu được chấp thuận giao dự án sẽ hoàn thành các thủ tục pháp lý ngay trong năm nay, đảm bảo đủ điều kiện khởi công vào quý 1/2027 và hoàn thành đưa vào khai thác vận hành cả hai tuyến vào năm 2030.
Liên danh Tập đoàn Đèo Cả - Trí Tín kiến nghị thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường trên cao dọc Vành đai 2 phía nam (đường Nguyễn Văn Linh) cũng cam kết dồn mọi nguồn lực triển khai ngay trong năm nay để hoàn thành vào năm 2029.
Có thể thấy, không khí "hầm hập" đang bao trùm toàn ngành xây dựng của TP.HCM.
Đáng nói, nếu như trước đây các dự án chỉ lo không đủ vốn và mặt bằng để khởi công thì hiện nay, nỗi lo lớn nhất của Sở Xây dựng chính là các dự án khởi công nhanh nhưng không có đủ nhiên liệu, vật liệu xây dựng để làm.
Theo thống kê mới nhất của Sở NN-MT TP.HCM, trong giai đoạn 2026 - 2030, có 64 dự án triển khai trên toàn địa bàn TP nhưng nguồn cung vật liệu đang thiếu so với nhu cầu.
Riêng trong năm nay, đối với đá xây dựng, nhu cầu khoảng hơn 28 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ hơn 23 triệu m3, thiếu 4,5 triệu m3; cát xây dựng nhu cầu 15,56 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 0,69 triệu m3, thiếu 14,87 triệu m3. Đối với cát san lấp, nhu cầu khoảng 52,89 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 2,30 triệu m3. Tương tự, đất san lấp nhu cầu khoảng 23,67 triệu m3 nhưng công suất đang khai thác chỉ 12,69 triệu m3, thiếu 11 triệu m3.
Trong khi đó, tình hình nhu cầu và khả năng cung ứng vật liệu xây dựng giai đoạn 2027 - 2030 cho 46 dự án trọng điểm cũng không khả quan. Đơn cử cát xây dựng dù nhu cầu cần đến 61,3 triệu m3 nhưng khả năng cung ứng chỉ được 3 triệu m3, thiếu đến 58,3 triệu m3. Hay cát san lấp, nhu cầu cho 46 dự án trọng điểm đến hơn 177 triệu m3 nhưng chỉ đáp ứng được hơn 2 triệu m3, còn thiếu đến hơn 175 triệu m3.
Các dự án chưa triển khai đã lo, các công trình đang trong giai đoạn tăng tốc về đích còn khổ gấp nhiều lần vì "vừa chạy vừa chờ". Cụ thể, dự án Vành đai 3 TP.HCM đoạn phía tây theo kế hoạch phải thông xe kỹ thuật chậm nhất ngày 31.12.2025, hướng tới khai thác toàn tuyến vào 30.4.2026. Tuy nhiên, mốc hoàn thành đã được điều chỉnh tới trước ngày 30.6.2026. Dù vậy, ghi nhận thực tế trên công trường cho thấy nhiều đoạn tuyến vẫn còn ngổn ngang, thậm chí chưa hoàn tất đắp cát gia tải, vốn là khâu then chốt thường kéo dài 6 - 9 tháng.
Theo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông TP.HCM - chủ đầu tư, các nhà thầu muốn thi công nhanh cũng không được vì vừa làm vừa phải chờ nguồn nguyên vật liệu "nhỏ giọt". Riêng nhu cầu đá của dự án lên tới 88.000 m3 nhưng hiện mới chỉ cung cấp được khoảng 26.000 m3. Tổng nhu cầu đá cho 5 gói thầu phía tây trong năm 2026 lên tới khoảng 1,2 triệu m3 nhưng nguồn cung từ các mỏ hiện còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu tăng tốc thi công.
Tương tự, cả 10 gói thầu tại dự án cải tạo kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên đều đang chậm so với hợp đồng do vật tư cát, đá khan hiếm, giá tăng cao làm ảnh hưởng đến kế hoạch thi công của các nhà thầu. Công trình hiện cần khoảng 180.850 tấn bê tông nhựa, nhưng đến nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu. Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị TP.HCM (chủ đầu tư) lo ngại mục tiêu hoàn thành toàn bộ dự án vào cuối năm 2026 đang bị đe dọa.
Áp lực thiếu nguyên vật liệu còn nhân lên gấp nhiều lần khi các công trình đang phải gồng mình vượt "bão" giá dầu. Một số nhà thầu cho biết chi phí vận hành máy móc mỗi ngày đã tăng gấp đôi khiến họ phải "cắn răng" chịu lỗ để giữ tiến độ. Chưa kể, giá dầu tăng kéo theo giá nhựa đường tăng đột biến (gần 32%), giá các loại vật liệu như cát, đá, gạch cũng tăng từ 13,5 - 23,3% do chi phí khai thác và vận chuyển đường thủy/đường bộ leo thang. Đó là lý do nhiều gói thầu không thể duy trì phương thức "3 ca, 4 kíp" như trước vì càng làm càng lỗ. Một số đơn vị thậm chí phải tạm dừng các mũi thi công không cấp thiết để chờ điều chỉnh giá. Tiến độ các dự án trọng điểm từ khó chuyển hẳn sang ì ạch.
Trước tình trạng nói trên, Sở NN-MT TP.HCM đã đưa ra hàng loạt giải pháp cho năm 2026 để tăng cung. Đối với 4,5 triệu m3 đá xây dựng còn thiếu, giải pháp được đề xuất là nâng công suất khai thác tại 11 mỏ có chất lượng đá tốt và chủ đầu tư có đủ năng lực khai thác tại Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình Dương (cũ). Dự kiến sau khi nâng công suất, các công trình sẽ có thêm hơn 7 triệu m3 đá, vượt nhu cầu. Đối với 14,87 triệu m3 cát xây dựng còn thiếu, có thể nâng công suất khai thác tại 10 mỏ, đáp ứng được 5,95 triệu m3. Số 8,92 triệu m3 còn lại có thể đẩy nhanh tiến độ từ việc nạo vét 22 hồ của TP. Tương tự, 25,96 triệu m3 cát san lấp còn thiếu cũng đã có kế hoạch chi tiết nạo vét từ nguồn sông nào, tận thu hồ ở đâu, nếu không đủ có thể thay thế bằng cách xay đá, rửa cát biển…
Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng, cát xây dựng, đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu, chỉ riêng cát san lấp vẫn thiếu khoảng 24,6 triệu m3 (46,5%) trong năm 2026. Riêng giai đoạn 2027 - 2030, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng và đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu. Song, cát xây dựng vẫn thiếu 17,17 triệu m3 (tương ứng 28%), cát san lấp thiếu đến 170,74 triệu m3 (96%).
Giám đốc Sở NN-MT TP.HCM Nguyễn Toàn Thắng thông tin: Ngoài các biện pháp trên, Sở cũng đề nghị Thành ủy, UBND TP.HCM chấp thuận cho nâng công suất khai thác mỏ theo Nghị quyết số 66.4. Đồng thời, có cơ chế điều phối nguồn vật liệu, ưu tiên và nâng tỷ lệ cung cấp cho các công trình sử dụng vốn ngân sách của TP, kể cả đối với các mỏ được cấp phép khai thác phục vụ mục đích thương mại. Đồng thời, nguồn vật liệu tăng thêm từ việc "mở rộng, xuống sâu, thông moong, thông vách" được ưu tiên 100% cho các công trình vốn ngân sách của TP. Trường hợp các công trình không có nhu cầu sử dụng thì chủ mỏ mới được phép bán thương mại.
Ông Phan Tấn Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Khoáng sản TP.HCM, nhìn nhận TP.HCM được xác định là cực tăng trưởng quan trọng đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của cả nước. Vì vậy, các dự án cầu đường, hạ tầng cảng, xây dựng đô thị đã, đang và sẽ được triển khai không đơn thuần là xây dựng thêm vài con đường, cây cầu mà là thực hiện một cuộc "đại tu cấu trúc" để thoát khỏi chiếc áo hạ tầng đã quá chật chội, bước vào kỷ nguyên phát triển mới cùng dân tộc. Do đó, các dự án nếu chậm trễ sẽ đánh mất "thời điểm vàng" để TP.HCM chuyển mình. TP cần tập trung quyết liệt đưa ra những giải pháp tháo nút thắt nguồn vật liệu xây dựng để các công trình quan trọng đảm bảo tiến độ, giảm thiểu phát sinh chi phí vốn đầu tư.
Ông Đạt kiến nghị TP nhanh chóng cấp phép nâng công suất tối đa cho các mỏ đang khai thác. Các mỏ cần được phép xuống sâu vì càng xuống sâu thì chất lượng đá càng tốt, tận thu được tối đa, tránh lãng phí nguồn tài nguyên đá xây dựng đang có. Đối với các mỏ đã khai thác hết công suất hoặc còn nhiều trữ lượng đã được cấp giấy phép thì Sở NN-MT và các sở ngành liên quan cần tiếp tục tạo điều kiện hỗ trợ cho DN sớm hoàn thành hồ sơ thủ tục để trình UBND TP xem xét cấp giấy phép điều chỉnh tăng công suất theo nghị Quyết 66.4/2025.
Với các mỏ đã có văn bản chấp thuận chủ trương thăm dò xuống sâu, cho phép được thực hiện ngay hồ sơ thủ tục để xin cấp giấy phép thăm dò, phê duyệt trữ lượng và hoàn thành hồ sơ theo quy định để được cấp giấy phép khai thác khoáng sản mà không cần phải chờ việc khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Song song, giải quyết ngay việc ưu tiên cho các DN đang hoạt động khai thác khoáng sản theo giấy phép đang còn hiệu lực được phép mở rộng xuống sâu mà không phải chờ việc khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/khan-cap-day-tien-do-loat-cong-trinh-trong-diem-185260409220935784.htm

