Trong cảnh báo mới đây, ông Fatih Birol, Giám đốc Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết châu Âu chỉ còn nhiên liệu máy bay dự trữ cho “khoảng sáu tuần”. Thậm chí, một số nước còn dưới 20 ngày.
Kể từ 2020, châu Âu chưa từng chứng kiến dự trữ xuống dưới 29 ngày. Nếu giảm xuống dưới 23 ngày, IEA cho rằng một số sân bay sẽ thiếu nhiên liệu trên thực tế, dẫn đến khả năng hủy chuyến và giảm nhu cầu đi lại vì giá vé tăng.
Áo, Bulgaria và Ba Lan còn dự trữ dồi dào trong khi tình hình ngược lại ở Anh, Iceland và Hà Lan, trong khi Pháp ở mức trung bình. Tuần trước, Hội đồng Sân bay Quốc tế châu Âu gửi thư cho Ủy ban châu Âu rằng tình trạng thiếu nhiên liệu máy bay có thể bắt đầu trong ba tuần nữa, nếu eo biển Hormuz vẫn tắc.
Nhiên liệu máy bay là sản phẩm tinh chế từ dầu hỏa (kerosene). Châu Âu tự sản xuất phần lớn nhu cầu nhưng vẫn thiếu hụt khoảng 20-25% kể từ xung đột Trung Đông. Ông Amaar Khan, phụ trách định giá nhiên liệu máy bay châu Âu tại Argus Media, cho biết khoảng 40% nguồn nhập khẩu của khối đi qua eo biển Hormuz.
Từ khi chiến sự nổ ra, không còn các chuyến hàng nào lưu thông. “Mỗi ngày trôi qua mà eo biển vẫn đóng thì châu Âu tiến gần hơn đến nguy cơ thiếu nguồn cung”, ông cảnh báo.
Claudio Galimberti, nhà kinh tế của Rystad Energy, nói tình hình có thể trở nên nghiêm trọng trong vòng 3-4 tuần tới. “Vì vậy, khả năng sẽ có những đợt cắt giảm lớn các chuyến bay ở châu Âu, bắt đầu từ tháng 5 và 6”, ông dự báo.
Khu vực châu Á – Thái Bình Dương thậm chí phụ thuộc vào nhiên liệu máy bay từ Trung Đông nhiều hơn châu Âu. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng khó nhận định được tổng quan tình hình, vì thực tế dự trữ từng nước và các hãng khác nhau. Ví dụ, Nhật Bản phụ thuộc lớn vào nhập khẩu nhưng có lượng dự trữ đáng kể.
Mỹ ít bị ảnh hưởng hơn do là nhà sản xuất lớn. Nước này cũng đang đẩy mạnh xuất khẩu nhiên liệu máy bay sang châu Âu, đạt khoảng 150.000 thùng mỗi ngày trong tháng 4, gấp 6 lần bình thường.
“Chúng ta có thể không thiếu nhiên liệu hoàn toàn nhưng giá sẽ cao hơn và một số nơi có thể thực sự cạn kiệt”, ông Jacques Rousseau, chuyên gia của Clearview Energy Partners, nhận định.
Rủi ro thiếu nhiên liệu cũng khác nhau với từng hãng hàng không. Thông thường, họ tự mua từ nhà máy lọc dầu hoặc công ty năng lượng, tương tự người dân mua xăng, nhưng ở quy mô lớn hơn nhiều. Chúng được vận chuyển bằng tàu và đường ống, rồi lưu trữ tại các sân bay. Một khu vực thiếu nhiên liệu không đồng nghĩa ngừng bay hoàn toàn vì một số hãng có dự trữ nhiều hơn hãng khác. Các hãng lớn có lợi thế hơn nhờ tiềm lực tài chính mạnh, theo ông Jacques Rousseau.
Do thiếu hụt, giá nhiên liệu bay đã gần như tăng gấp đôi kể từ khi chiến sự bùng phát, đạt 165 USD mỗi thùng hôm 16/4, so với dưới 100 USD trước chiến sự. Giá từng vượt trên mốc 200 USD đầu tháng này, đạt 201 USD mỗi thùng hôm 2/4, theo nhà cung cấp thông tin năng lượng Platts. Đáng lưu ý, nhiên liệu cũng chiếm chi phí lớn nhất của các hãng hàng không, chiếm khoảng 30% tổng chi phí, Theo Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA).
EasyJet cho biết chi phí nhiên liệu trong tháng 3 tăng thêm khoảng 25 triệu bảng Anh (34 triệu USD). Hãng dự kiến sẽ lỗ trước thuế từ 540 triệu đến 560 triệu bảng Anh (khoảng 731 triệu đến 758 triệu USD) trong nửa đầu năm tài chính 2026.
Các hãng hiện phản ứng khá thận trọng, vừa thừa nhận rủi ro về nhiên liệu, vừa trấn an khách hàng. Delta (Mỹ) cho biết “nhận thức được vấn đề tiềm tàng về nguồn cung nhiên liệu máy bay” và đang theo dõi tình hình.
Một số đã bắt đầu chuyển chi phí sang hàng khách, bằng cách tăng phí hành lý, phụ phí hoặc giá vé. Tại Mỹ, Delta, United, American Airlines, Southwest Airlines và JetBlue đều đã tăng phí hành lý ký gửi những tuần gần đây.
Cathay Pacific (Hong Kong) tăng phụ phí nhiên liệu khoảng 34% trên tất cả các tuyến bay. Air India thu phí thêm đến 280 USD một số chuyến. Emirates, Lufthansa và KLM cũng điều chỉnh phí hoặc giá vé để theo kịp biến động giá cả. Ngoài ra, khoảng một nửa số tuyến vận chuyển hàng hóa đường hàng không toàn cầu đã tăng giá từ 20% trở lên, theo nhà cung cấp dịch vụ logistics Metro Global.
Cùng với tăng phí, các hãng còn giảm chuyến bay. Hôm 16/4, KLM cho biết sẽ cắt 160 chuyến tháng tới, chiếm khoảng 1% tổng số tuyến bay châu Âu, dẫn lý do “không còn khả thi về mặt tài chính để vận hành”.
Lufthansa (Đức) cho biết tranh chấp lao động và giá nhiên liệu cao buộc hãng phải đóng cửa ngay lập tức hãng hàng không trung chuyển CityLine sớm hơn kế hoạch và loại bỏ 27 máy bay cũ không hiệu quả về năng lượng.
Cathay Pacific thông báo giảm công suất khoảng 2% từ giữa tháng 5 đến tháng 6 và tạm ngừng một số tuyến đến Trung Đông. Các hãng khác như United Airlines, Air India và Air New Zealand cũng đã thực hiện các bước tương tự.
Theo Metro Global, các hãng hàng không đang xem lại kế hoạch dự phòng, bao gồm giảm thêm công suất, xếp xó các máy bay cũ và phân bổ lại đội bay để tiết kiệm nhiên liệu hơn. Trong một số trường hợp, họ có sẵn phương án giảm đến 5% công suất nếu tình hình xấu đi.
“Đây không còn chỉ là câu chuyện về giá nhiên liệu nữa. Đối với các hãng hàng không, giờ là câu chuyện về lập kế hoạch mạng bay”, Giáo sư Christopher Anderson tại Đại học Cornell, nhận định.
Ông khuyến nghị du khách nên chuẩn bị nhiều hơn, không chỉ tiền mua vé. Theo đó, nếu nguồn cung nhiên liệu bay tiếp tục siết chặt đến cao điểm hè, hành khách không chỉ khó săn vé rẻ mà có thể chứng kiến lịch bay biến động nhiều hơn.
Thông tin trên được ông Lê Mạnh Hùng chia sẻ tại phiên thảo luận tổ về kinh tế xã hội, ngày 10/4.
Theo Bộ trưởng Công Thương, xung đột tại Trung Đông đã tạo ra khủng hoảng năng lượng toàn cầu lớn nhất từ 1970, trong đó Việt Nam cũng chịu tác động lớn.
Ông Hùng cho biết mục tiêu điều hành được các cấp có thẩm quyền yêu cầu trong bối cảnh hiện nay là "phải đảm bảo an ninh năng lượng". Việc này dựa trên ba trụ cột, gồm đủ nguồn cung, tổ chức phân phối không đứt gãy và đảm bảo khả năng tiếp cận của người dân, hạn chế tối đa ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô.
Bộ Công Thương đã xây dựng ba kịch bản ứng phó. Theo đó, kịch bản cơ sở thứ nhất là chiến sự kết thúc trong 4 tuần. Với kịch bản thứ hai, xung đột Trung Đông có thể kết thúc trong "4 tuần cộng 2" và kịch bản 3 là nhiều hơn 4 tuần. "Đến nay, tình hình cơ bản diễn ra theo kịch bản thứ hai", ông Hùng nói.
Với diễn biến thời gian qua, nhà điều hành đã triển khai đồng bộ 5 nhóm giải pháp, trong đó bảo đảm đủ nguồn cung trong nước, nâng số ngày dự trữ lưu thông theo quy định tại Nghị định 95 và có dự phòng nếu chiến sự tiếp tục kéo dài.
Bộ trưởng Công Thương cho biết nhờ loạt giải pháp, đến nay dự trữ xăng dầu trong nước "đã tăng từ 15 lên 26 ngày".
Tại họp báo Chính phủ tuần trước, Thứ trưởng Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết hai nhà máy lọc dầu trong nước là Dung Quất và Nghi Sơn đảm bảo đủ nguyên liệu để sản xuất đến hết tháng 4. Trong tháng 3, các thương nhân đầu mối cũng nhập khẩu 3,2 triệu m3 xăng dầu. Cùng với hàng tồn kho hiện tại (2,6-2,8 triệu m3), nguồn cung xăng dầu trong nước có thể đảm bảo cho sản xuất và tiêu dùng hết tháng này.
Hiện Việt Nam chưa có kho dự trữ xăng dầu quốc gia riêng biệt. Hàng dự trữ đang được tồn trữ tại kho của doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu lớn thông qua hợp đồng, trả phí theo định mức với các đơn vị. Mức dự trữ này chỉ khoảng 7-10 ngày tiêu thụ.
Vừa qua, Chính phủ đã giao Bộ Công Thương sớm làm việc với các đối tác nước ngoài để triển khai ngay việc xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Nghi Sơn (Thanh Hóa).
Cũng theo Bộ trưởng Hùng, hai nhà máy lọc dầu trong nước (Dung Quất và Nghi Sơn) đảm bảo công suất cao, cơ cấu lại sản phẩm (tăng sản phẩm năng lượng, giảm phi năng lượng). Đồng thời, các nhà máy ethanol trong nước cũng được phục hồi sản xuất để đưa xăng E10 vào tiêu thụ trên cả nước vào cuối tháng 4, sớm hơn một tháng so với kế hoạch. "Nếu sử dụng xăng E10 trên toàn quốc, chúng ta tự chủ xăng dầu thêm được khoảng 14%", ông Hùng nêu.
Nhờ các giải pháp ứng phó khủng hoảng, theo Bộ trưởng, Việt Nam duy trì được giá các mặt hàng xăng dầu, dầu diesel thấp hơn mức bình quân của thế giới là 1,3 USD mỗi lít, tương ứng khoảng 35.000 đồng. Giá xăng RON 95-III hiện bình quân 23.000-24.000 đồng một lít.
Trong khi đó, một số nước trong khu vực vẫn khó khăn vì đứt gãy chuỗi cung ứng. "Cách làm thời gian qua là phù hợp với giai đoạn khủng hoảng", Bộ trưởng Công Thương khẳng định.
Tính toán của Bộ Công Thương cho thấy, nhu cầu năng lượng sơ cấp của Việt Nam khoảng 119,6 triệu TOE (tấn dầu quy đổi). Trong đó, sản xuất trong nước đáp ứng được khoảng 66 triệu và nhập khẩu 53,6 triệu (gần 44%). Về lâu dài, Bộ trưởng Hùng cho rằng cần cập nhật chiến lược, quy hoạch năng lượng để giảm tỷ lệ nhập khẩu năng lượng sơ cấp xuống còn khoảng 30% vào 2030.
Từ cuối tháng 2 đến nay, giá bán lẻ xăng dầu trong nước trải qua 15 kỳ điều hành, hiện mỗi lít xăng RON 95-III là 23.540 đồng, dầu diesel 32.960 đồng. Trước đó, có thời điểm giá hai loại nhiên liệu này lên lần lượt gần 34.000 đồng và 45.000 đồng một lít.
Thảo luận sáng nay, một số đại biểu cũng đề nghị sớm xây dựng kho dự trữ xăng dầu quốc gia bởi đây là "bảo hiểm cho nền kinh tế". Phó chủ nhiệm Ủy ban Công tác Đại biểu Đặng Ngọc Huy kiến nghị Thủ tướng có các giải pháp đột phá như bố trí ngân sách, chính sách để khởi công ngay hệ thống xăng dầu quốc gia. Ông cũng đề xuất Chính phủ ban hành lộ trình cụ thể như đến năm 2028 phải đạt được mức dự trữ 60 ngày và 90 ngày vào 2030.
Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết trong tờ Chính phủ báo cáo Quốc hội cũng có phương án xây dựng dự trữ quốc gia về một số mặt hàng thiết yếu, gồm xăng dầu. Theo đó, Chính phủ đặt mục tiêu hình thành hệ thống kho dự trữ xăng dầu ít nhất 90 ngày.
Theo thông tin gửi tới các trái chủ, Công ty TNHH Phát triển Phú Mỹ Hưng báo lợi nhuận sau thuế năm 2025 khoảng 2.945 tỷ đồng, tăng 41% so với năm trước đó. Đây là mức cao nhất trong vòng 3 năm qua. Trung bình mỗi ngày, họ lãi hơn 8 tỷ đồng.
Doanh nghiệp này không công bố phần giải trình biến động lợi nhuận. Thực tế, trong năm qua, họ đã triển khai mở bán Hồng Hạc City - dự án khu đô thị đầu tiên của doanh nghiệp này tại miền Bắc với diện tích hơn 197 ha và tổng mức đầu tư gần một tỷ USD. Còn tại "cứ điểm" phía Nam TP HCM, họ mở bán dự án căn hộ chung cư The Sculptura, giới thiệu dự án The Regency.
Nhờ mức tăng trưởng trong năm 2025, lợi nhuận lũy kế đến nay đạt hơn 15.075 tỷ đồng, cao hơn so với cuối năm trước khoảng 40%. Nhờ đó, vốn chủ sở hữu cũng tăng gần 54% lên khoảng 18.554 tỷ đồng.
Đến cuối năm trước, tổng nợ phải trả của Phú Mỹ Hưng là khoảng 20.864 tỷ đồng, nhích nhẹ so với cùng kỳ. Trong nhóm vay nợ tài chính, vay ngân hàng tăng gần 77% lên 7.112 tỷ đồng. Song, nợ từ phát hành trái phiếu giảm hơn 31% về còn 5.472 tỷ đồng.
Phú Mỹ Hưng phát hành 6 lô trái phiếu trong giai đoạn 2019-2021, còn 5 lô đang lưu hành, đáo hạn lần lượt từ năm nay đến 2027. Trong đó, ba lô chào bán nội địa có tổng trị giá 2.000 tỷ đồng, lãi suất 7,15-8,8% mỗi năm. Còn lại, họ huy động ngoại tệ 225 triệu USD và đưa ra lãi suất phát hành 2-2,58% mỗi năm.
Công ty TNHH Phát triển Phú Mỹ Hưng được thành lập tháng 5/1993, là liên doanh giữa Công ty TNHH Một Thành Viên Phát Triển Công Nghiệp Tân Thuận (IPC) và Phú Mỹ Hưng Asia Holdings (tên cũ là Tập đoàn CT&D, Đài Loan). Trong đó, Tân Thuận IPC góp 30% vốn, còn lại là vốn ngoại.
Công ty nổi danh khi là chủ đầu tư của Khu đô thị Phú Mỹ Hưng (phía Nam TP HCM) - một trong những dự án nổi bật của thành phố khi biến vùng đầm lầy thành khu đô thị sầm uất. Họ muốn xây dựng nên khu đô thị đa chức năng, trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, công nghiệp, khoa học, văn hóa, giáo dục, cư trú, giải trí... tạo động lực cho sự phát triển phía Nam và Đông Nam thành phố. Năm 2008, Bộ Xây dựng và UBND TP HCM công nhận đây là "khu đô thị kiểu mẫu" của Việt Nam.
Doanh nghiệp này xây dựng đại lộ Nguyễn Văn Linh có 10 làn xe, trở thành trục giao thông huyết mạch của khu Nam thành phố. Dọc theo đó, Phú Mỹ Hưng được giao phát triển năm cụm đô thị với tổng diện tích 774 ha. Hiện tại, khu đô thị này nổi tiếng với hồ Bán Nguyệt, trung tâm thương mại Crescent Mall, khu nhà phố - biệt thự và loạt căn hộ chung cư đã bàn giao như Garden Plaza, Riverpark Residence, The Panorama, The Peak Midtown...
Năm nay, Phú Mỹ Hưng cho biết sẽ tung thêm giỏ hàng ở dự án The Regency, Hồng Hạc City. Doanh nghiệp này cũng mở rộng địa bàn sang khu vực Thủ Dầu Một (Bình Dương cũ) với dự án Harmonie, hướng tới nhóm khách hàng trẻ.
Phía Trung Quốc cũng bày tỏ sẵn sàng mở rộng nhập khẩu hàng hóa Việt Nam, đặc biệt là nông sản chất lượng cao.
Về đầu tư, tác động quan trọng nhất của chuyến thăm không chỉ là tăng quy mô vốn, mà là nâng chất lượng dòng vốn hợp tác. Sau chuyến thăm, đầu tư Trung Quốc vào Việt Nam sẽ có xu hướng dịch chuyển rõ hơn vào các lĩnh vực sản xuất chế biến, công nghiệp hỗ trợ, hạ tầng, logistics, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh và các dự án kết nối lớn.
Việc hai bên trao các biên bản ghi nhớ hợp tác giữa doanh nghiệp trong khuôn khổ chuyến thăm, cùng với định hướng thúc đẩy "3 kết nối" (về lý tưởng niềm tin, lợi ích phát triển và văn hóa, lòng dân) và xây dựng kế hoạch hợp tác giai đoạn 2026 - 2028, sẽ biến quan hệ chính trị tốt đẹp thành các dự án đầu tư cụ thể nhanh hơn và thực chất hơn.
Về triển vọng thời gian tới, tôi cho rằng dòng vốn FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam vẫn sẽ duy trì xu hướng tích cực, nhưng theo hướng "tăng có chọn lọc" hơn là tăng nóng.
Minh chứng cho điều này là trong ba tháng đầu năm 2026, Trung Quốc tuy đứng thứ 4 về tổng vốn, nhưng lại dẫn đầu về số dự án đầu tư mới, số giao dịch góp vốn, mua cổ phần. Điều này cho thấy các nhà đầu tư Trung Quốc vẫn rất quan tâm đến Việt Nam.
Việt Nam và Trung Quốc đang đẩy mạnh kết nối hạ tầng đường sắt, với kế hoạch đầu tư các tuyến đường sắt tốc độ cao Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng, Lạng Sơn - Hà Nội. Sự kết nối giao thông đường sắt sẽ mang lại lợi ích kinh tế, thương mại rất lớn và mang tính hai chiều.
Về lợi ích kinh tế - thương mại đối với Việt Nam, điều lớn nhất là kéo giảm chi phí logistics và thời gian vận chuyển. Hợp tác đường sắt Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm chi phí logistics, rút ngắn thời gian vận chuyển, nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa, đồng thời giảm áp lực ùn tắc tại cửa khẩu đường bộ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với hàng nông sản, hàng công nghiệp, container xuất nhập khẩu và các chuỗi sản xuất đang cần vận hành nhanh, ổn định và chi phí thấp hơn.
Về phía Trung Quốc, lợi ích cũng rất rõ. Những tuyến đường sắt này sẽ giúp các địa phương phía nam và tây nam Trung Quốc tăng kết nối với thị trường Việt Nam, với hệ thống cảng biển phía Bắc Việt Nam và rộng hơn là với ASEAN.
Nếu được triển khai đúng tiến độ và đồng bộ với hạ tầng cửa khẩu, cảng biển, logistics và khu công nghiệp, thì kết nối đường sắt Việt Nam - Trung Quốc không chỉ là câu chuyện giao thông, mà có thể trở thành một đột phá chiến lược trong hợp tác kinh tế song phương giai đoạn tới.