Mục Lục
ToggleĐến 20h ngày 17/4, giá dầu Brent giảm 10% xuống 89 USD một thùng. Dầu WTI sụt 11% về 83 USD.
Giá dầu đi xuống sau khi Iran tuyên bố eo biển Hormuz được mở hoàn toàn cho hoạt động vận tải thương mại trong thời gian ngừng bắn giữa Israel và Lebanon.
“Việc di chuyển của tất cả tàu thương mại qua eo biển Hormuz được mở hoàn toàn trong thời gian còn lại của lệnh ngừng bắn”, Bộ trưởng Ngoại giao Iran Seyed Abbas Araghchi viết trên mạng xã hội ngày 17/4. Tuy nhiên, các tàu phải di chuyển theo “tuyến đường được điều phối” do cơ quan hàng hải của Iran thông báo, ông cho biết.
Israel và Lebanon trước đó đồng ý ngừng bắn 10 ngày kể từ 5h ngày 17/4. Chiến dịch quân sự của Israel tại Lebanon nhằm vào lực lượng Hezbollah đang là điểm nghẽn trong đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Iran.
Eo biển Hormuz chuyên chở khoảng 20% dầu thô và khí hóa lỏng toàn cầu. Tuy nhiên, tuyến đường thủy này đã gần như bị phong tỏa sau khi chiến sự nổ ra cuối tháng 2. Việc này khiến giá năng lượng toàn cầu tăng vọt thời gian qua do thiếu cung.
Giá vàng thế giới hiện cũng tăng mạnh sau thông tin eo biển Hormuz mở lại. Mỗi ounce tăng hơn 70 USD lên 4.860 USD.
Xung đột Trung Đông hạ nhiệt có lợi cho kim loại quý. Thời gian qua, vàng chịu sức ép khi chiến sự kéo giá năng lượng lên cao, khiến lạm phát nhiều nơi tăng tốc. Lạm phát cao khiến các ngân hàng trung ương ngần ngại giảm lãi suất. Giá vàng vì thế gặp bất lợi, do không trả lãi cố định. Từ đầu chiến sự, vàng đã mất giá khoảng 10%.
Tin tức tích cực từ Trung Đông cũng giúp thị trường chứng khoán Mỹ khởi sắc. Chỉ số DJIA tăng 1,5% ngay khi mở cửa. S&P 500 và Nasdaq Composite đều tăng 1%. Wall Street gần đây liên tiếp lập kỷ lục mới, do nhà đầu tư lạc quan về khả năng chiến sự tại Trung Đông chấm dứt. S&P 500 và Nasdaq Composite đều đã đi lên hơn 10 phiên qua. Tính chung từ đầu chiến sự, hai chỉ số này đều đang tăng điểm.
Tin Gốc: Vnexpress
Kinh Doanh
Hộ kinh doanh cần làm gì để khai, nộp thuế đúng ngay từ đầu?

Ngày 17-4, tại Hội thảo "Hộ kinh doanh: Minh bạch dòng tiền, mở rộng cơ hội kinh doanh", bà Lê Thị Chinh - Phó trưởng Ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) - đã chỉ "bí kíp" để người nộp thuế làm đúng ngay từ đầu, yên tâm kinh doanh.
Hôi thảo diễn ra tại trụ sở của Thuế TP.HCM, với sự tham gia của gần 400 hộ kinh doanh, tiểu thương trên địa bàn thành phố, cùng đại diện các cơ quan quản lý, chuyên gia trong lĩnh vực thuế, công nghệ, tài chính.
Bà Lê Thị Chinh cho biết ngày 20-4 này là hạn cuối hộ kinh doanh bước vào kỳ kê khai đầu tiên. Vậy làm thế nào để người nộp thuế làm đúng ngay từ đầu, yên tâm kinh doanh.
Theo bà, Nghị định 68 và Thông tư 18 của Bộ Tài chính vừa mới ban hành đã quy định cụ thể về chính sách và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh. Các đối tượng này sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân và thuế giá trị gia tăng.
Để hỗ trợ người nộp thuế, bà Chinh nêu rõ: hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống không phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân. Mức này tới đây đang được nghiên cứu để điều chỉnh, nhằm hỗ trợ bà con hộ kinh doanh.
Đối với trường hợp doanh thu trên 500 triệu đồng/năm, hộ kinh doanh sẽ nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp doanh thu nhân (X) tỉ lệ phần trăm, tùy theo từng ngành nghề. Đơn cử ngành bán lẻ thương mại áp dụng mức 1%, dịch vụ ăn uống là 3% trên doanh thu...
Về thuế thu nhập cá nhân, hộ kinh doanh được áp dụng hai phương pháp, tùy theo quy mô doanh thu trong năm.
Cụ thể với doanh thu trên 500 triệu đến 3 tỉ đồng/năm, người nộp thuế được chọn một trong hai cách tính thuế. Một là doanh thu nhân với tỉ lệ thuế. Hai là thu nhập tính thuế (nghĩa là doanh thu trên 500 triệu đồng trừ (-) chi phí hợp lý, hợp lệ) nhân với thuế suất 15%. Bà con được quyền chọn lựa phương pháp có lợi hơn.
Đối với nhóm có doanh thu trên 3 tỉ đồng đến 50 tỉ đồng/năm, hộ kinh doanh sẽ áp dụng phương pháp thu nhập tính thuế nhân với thuế suất tương ứng là 17%. Nhóm doanh thu trên 50 tỉ đồng/năm áp dụng thuế suất 20% theo phương pháp này.
Một điểm mới là quy định về kê khai, trong đó, theo bà Chinh, hộ, cá nhân kinh doanh đặc biệt cần lưu ý thời hạn kê khai, chứ không chỉ nộp thuế,
Hộ, cá nhân kinh doanh tự xác định mức doanh thu trong năm từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ để thực hiện kê khai, nộp thuế.
Cụ thể, doanh thu từ 500 triệu đồng trở xuống (tức là thuộc ngưỡng không chịu thuế) thì nộp thông báo doanh thu của năm 2026 với cơ quan thuế duy nhất 1 lần, chậm nhất là ngày 31-1-2027 tiếp theo.
Về khai và nộp thuế giá trị gia tăng, trường hợp có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 50 tỉ đồng/năm, thì khai và nộp thuế giá trị gia tăng theo quý. Như thuế quý 1 này, hộ kinh doanh sẽ khai và nộp, hạn muộn nhất là ngày 4-5 tới.
Trường hợp có doanh thu năm trên 50 tỉ đồng/năm, hộ thực hiện khai theo tháng.
Về khai và nộp thuế thu nhập cá nhân, hộ kinh doanh, cá nhân sẽ lựa chọn nộp thuế một trong hai phương pháp như ở trên.
Nếu như chọn phương pháp thuế suất nhân với doanh thu tính thuế thì hộ kê khai và nộp thuế theo quý, cùng với hạn khai và nộp thuế giá trị gia tăng. Quy định này rất thuận lợi cho người nộp thuế, nộp cùng một thời điểm trên cùng một mẫu.
Trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp thu nhập tính thuế nhân với thuế suất sẽ tạm nộp thuế thu nhập cá nhân theo tháng, quý trên cùng hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng.
"Để hỗ trợ hộ, cá nhân kinh doanh có thể kê khai dễ dàng và thuận lợi nhất ngay trong kỳ kê khai đầu tiên, hồ sơ khai thuế của các tháng 1, 2 và 3 năm nay đối với hộ có doanh thu trên 50 tỉ đồng/năm sẽ nộp chậm nhất là ngày 20-4", bà Chinh nhấn mạnh.
Bà cũng nói thêm trường hợp đã khai thuế, nộp thuế theo Thông tư 40 thì người nộp thuế không phải điều chỉnh lại. Những hộ chưa khai thuế sẽ thực hiện kê khai theo quy định, thủ tục mới tại Thông tư 18 và không bị xử phạt.
Một nội dung nữa được bà Chinh lưu ý là quy định hộ kinh doanh phải thông báo bằng phương thức điện tử cho cơ quan thuế tất cả tài khoản ngân hàng, ví điện tử liên quan đến hoạt động kinh doanh. Tất cả các hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, kể cả nhóm có doanh thu chưa đến mức phải nộp thuế phải thực hiện quy định này.
"Việc thông báo tài khoản phục vụ kinh doanh sẽ giúp hộ kinh doanh minh bạch dòng tiền, chứng minh dòng tiền để vay vốn, kêu gọi đầu tư. Trên cơ sở minh bạch dòng tiền, cơ quan thuế cũng có tờ khai gợi ý về thuế cho hộ kinh doanh" - bà Chinh trao đổi.
Về sử dụng hóa đơn, theo quy định hộ có doanh thu trên 1 tỉ đồng/năm phải sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế.
Trường hợp hộ có doanh thu trên 500 triệu đến 1 tỉ đồng/năm, người nộp thuế có nhu cầu sử dụng thì đăng ký với cơ quan thuế.
Nhằm giúp hộ, cá nhân kinh doanh hiểu chính sách thuế và thực hiện đúng ngay từ đầu, cơ quan thuế đã biên soạn sổ tay hướng dẫn để hỗ trợ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh khai, nộp thuế, sử dụng hóa đơn điện tử…
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Kinh Doanh
Chủ tịch Rồng Việt nêu khó khăn của công ty chứng khoán không có ngân hàng 'hậu thuẫn'

Tại phiên họp thường niên của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) chiều 16/4, một cổ đông nêu ý kiến trong bối cảnh nhiều công ty chứng khoán đang được các ngân hàng hỗ trợ, VDSC thu xếp nguồn tài chính như thế nào để có thể cạnh tranh.
Trả lời vấn đề trên, Chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Miên Tuấn cho biết Chứng khoán Rồng Việt là một công ty độc lập, không thuộc hệ sinh thái của bất kỳ ngân hàng nào. Việc này khiến công ty gặp khó khăn trong việc có nguồn vốn đủ mạnh và chủ động để đẩy mạnh hoạt động cho vay ký quỹ (margin).
Thực tế, trong năm qua, mảng margin của Chứng khoán Rồng Việt chỉ tăng trưởng hơn 40%. Con số này chậm hơn so với mức tăng trưởng chung của toàn thị trường, xấp xỉ 60%. Tính đến cuối năm 2025, dư nợ margin của toàn ngành chứng khoán vượt mốc 400.000 tỷ đồng, mức cao kỷ lục trong lịch sử. Nếu cộng thêm giá trị ứng trước tiền bán, quy mô cho vay toàn thị trường đạt khoảng 410.000 tỷ đồng.
Theo định hướng, công ty luôn duy trì chính sách cân bằng, đảm bảo an toàn thanh khoản và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động cho vay. Mục tiêu là đưa cho vay margin thành mảng đóng góp tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu doanh thu, nhưng phải không phát sinh rủi ro nợ xấu.
Ông Tuấn nhận định việc chủ động và ổn định nguồn vốn rất quan trọng vì hoạt động cho vay hiện nay đang ghi nhận mức độ cạnh tranh rất lớn. Trong khi đó, VDSC gặp bất lợi do chi phí vốn không thấp.
Nếu muốn tăng trưởng mạnh mảng cho vay, công ty phải cho các nhóm nhà đầu tư lớn vay để thực hiện các thương vụ (deal) lớn, từ đó mới có thể duy trì dư nợ ổn định. Tuy nhiên, đặc thù của cho vay theo deal là lãi suất thấp. Do đó, họ sẽ cân bằng giữa việc sử dụng vốn hiệu quả nhất và việc đảm bảo tăng trưởng dư nợ.
Hiện tại, Rồng Việt đang giao dịch với nhiều ngân hàng như BIDV, VietinBank, Vietcombank, các ngân hàng cổ phần và ngân hàng nước ngoài để có hạn mức tín dụng. Nguồn tài chính này chủ yếu phục vụ cho vay ký quỹ, ứng trước và một phần cho hoạt động kinh doanh vốn.
Song, ông Tuấn thừa nhận không dễ dàng thu xếp vốn từ các đối tác do quy mô của VDSC chỉ ở mức tầm trung. Tuy nhiên, trong 5 năm qua, công ty vẫn tăng vốn chủ sở hữu từ khoảng 1.000 tỷ lên gần 3.000 tỷ đồng. Ban lãnh đạo đang nỗ lực làm việc với các đối tác trong và ngoài nước để có thêm các cổ đông chiến lược nhằm tiếp tục tăng cường năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh.
Từ đầu năm đến nay, nhóm Nutifood thông qua hai công ty con gồm Kido Foods và Nutifood Bình Dương đã sở hữu 24,72% vốn tại Chứng khoán Rồng Việt và trở thành nhóm cổ đông lớn nhất. Ông Tuấn cho biết nhóm cổ đông này từ trước vốn là khách hàng và đối tác đồng hành hơn 10 năm qua. Sau khi phát triển lên thành cổ đông lớn, họ có định hướng nắm giữ lâu dài, đồng thời đồng hành cùng công ty thông qua việc sử dụng sản phẩm dịch vụ, kết nối phát triển khách hàng và hỗ trợ nguồn vốn nhàn rỗi thông qua cho vay hoặc mua trái phiếu của Rồng Việt.
Trong năm 2026, VDSC sẽ đẩy mạnh mảng margin vì dư nợ cho vay trên vốn chủ sở hữu đến cuối năm trước khoảng 120%. Theo quy định, công ty chứng khoán không được cho vay ký quỹ vượt quá 2 lần vốn chủ sở hữu tại cùng thời điểm.
Năm nay, Rồng Việt có phương án tăng vốn điều lệ từ 2.720 tỷ lên 4.500 tỷ đồng thông qua việc phát hành tối đa 178 triệu cổ phiếu. Số tiền huy động được chủ yếu dùng cho hoạt động cho vay margin, đầu tư tự doanh và các mảng kinh doanh khác. Theo đó, họ đề ra mục tiêu doanh thu khoảng 1.318 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế khoảng 408 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng lần lượt khoảng 20% và 45%.
Tin Gốc: Vnexpress

Một trái xoài chín vàng trên cành, một trái bưởi căng mọng, một hạt gạo trắng trong… tất cả đều mang trong mình công sức của người nông dân, khí hậu của vùng đất và ký ức của mùa vụ.
Nhưng khi bước ra thị trường, nhiều sản phẩm trong số đó lại trở nên "vô danh", không tên tuổi, không câu chuyện, không định vị.
Chúng ta vẫn thường nói đến chuyện nâng cao giá trị nông sản. Nhưng giá trị không chỉ nằm ở năng suất hay chất lượng. Giá trị nằm ở cách một sản phẩm được nhận diện và được nhớ đến. Nói cách khác, đó là câu chuyện của thương hiệu ngành hàng.
Và câu hỏi đặt ra là: Ai là người làm thương hiệu cho nông sản Việt Nam?
Khi mỗi người làm một phần, nhưng thiếu người "dệt tấm vải"
Trong cấu trúc quản lý ngành nông nghiệp hiện nay, mỗi đơn vị đều đang làm rất tốt phần việc của mình. Có nơi lo sản xuất, nâng cao năng suất, cải tiến giống. Có nơi kiểm soát chất lượng, tiêu chuẩn, an toàn thực phẩm. Có nơi xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường.
Nhưng nếu nhìn toàn cục, có thể thấy một khoảng trống.
Không phải là thiếu việc, mà là thiếu một cách tiếp cận xuyên suốt. Mỗi nơi giống như một người đang dệt một sợi chỉ. Nhưng thiếu một "người thợ dệt" để kết nối những sợi chỉ đó thành một tấm vải hoàn chỉnh mang tên thương hiệu ngành hàng.
Bởi thương hiệu không phải là một khâu riêng lẻ. Thương hiệu là kết quả của cả một hệ thống: từ vùng trồng, giống cây, quy trình canh tác, tiêu chuẩn chất lượng, đến câu chuyện văn hóa và cách tiếp cận thị trường.
Thương hiệu không phải là cái tem dán sau cùng
Ở nhiều nơi, khi nói đến xây dựng thương hiệu, người ta thường bắt đầu từ bao bì, nhãn mác, logo. Nhưng đó chỉ là phần "nhìn thấy được".
Thương hiệu ngành hàng thực chất là một quá trình đi từ gốc đến ngọn:
Định danh rõ sản phẩm là gì, đến từ đâu. Thiết lập tiêu chuẩn ổn định. Tổ chức sản xuất có kỷ luật. Và cuối cùng mới là kể câu chuyện với thị trường. Kết nối sản xuất với thị trường. Biến tiêu chuẩn thành câu chuyện. Biến sản phẩm thành định vị và biến giá trị thành niềm tin.
Nếu không có ba lớp đầu, lớp cuối cùng chỉ là hình thức. Một logo đẹp không thể cứu được một chuỗi giá trị thiếu ổn định. Một chiến dịch truyền thông không thể thay thế cho sự thiếu nhất quán về chất lượng.
Chính vì vậy, thương hiệu không phải là "việc của cuối chuỗi", mà là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị.
Không ít địa phương có đặc sản nổi tiếng. Có vùng đất, có câu chuyện, có con người tâm huyết. Nhưng khi bước ra thị trường, sản phẩm vẫn bị hòa lẫn, giá cả bấp bênh. Nguyên nhân không phải vì thiếu nỗ lực, mà vì thiếu một "kiến trúc sư ngành hàng".
Người nông dân giỏi sản xuất. Doanh nghiệp giỏi kinh doanh. Nhà khoa học giỏi kỹ thuật. Nhưng rất ít người đứng ở giữa, nhìn toàn bộ hệ thống để trả lời một câu hỏi căn bản: Sản phẩm này là ai trên thị trường?
Không có câu trả lời đó, mọi nỗ lực sẽ rời rạc. Mỗi người làm một phần, nhưng không tạo thành một tổng thể có sức cạnh tranh.
Một thị trường mở không chờ chúng ta hoàn thiện
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, nông sản Việt Nam không chỉ cạnh tranh trong nước mà còn cạnh tranh với nhiều quốc gia khác. Cùng một loại trái cây, nhiều nước cùng trồng. Có những sản phẩm vừa xuất khẩu, lại vừa nhập khẩu.
Thị trường không thiếu hàng. Thị trường chỉ thiếu sự khác biệt.
Nếu không có thương hiệu, sản phẩm sẽ bị cuốn vào vòng xoáy cung - cầu ngắn hạn. Khi được mùa, giá xuống. Khi mất mùa, giá lên. Một đường biểu diễn giống như điện tâm đồ, dao động mạnh và khó kiểm soát.
Thương hiệu chính là cách để "làm phẳng" những dao động đó. Không phải bằng cách can thiệp vào thị trường, mà bằng cách tạo ra một vị trí ổn định trong tâm trí người tiêu dùng.
Trước khoảng trống này, phản xạ quen thuộc có thể là đề xuất thành lập thêm một đơn vị quản lý. Nhưng vấn đề không nằm ở việc có thêm một "cục" hay không.
Vấn đề nằm ở chỗ: hệ thống hiện tại thiếu chức năng kiến tạo thương hiệu ngành hàng. Một chức năng đủ mạnh để:
Chức năng đó không nhất thiết phải nằm ở một cơ quan duy nhất, mà có thể là một cơ chế phối hợp linh hoạt giữa nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và cộng đồng nông dân.
Khi không có thương hiệu, người nông dân bán những gì mình có. Giá cả phụ thuộc vào thị trường.
Khi có thương hiệu, người nông dân bán giá trị sản phẩm. Giá trị gắn với uy tín của vùng đất, với danh dự của người sản xuất.
Lúc đó, một trái xoài không chỉ là trái xoài. Đó là câu chuyện của một vùng đất, một tiêu chuẩn, một lời cam kết. Người tiêu dùng không chỉ mua sản phẩm, mà mua niềm tin.
Ai là người làm thương hiệu?
Câu trả lời, có lẽ, không nằm ở một cá nhân hay một cơ quan cụ thể. Thương hiệu ngành hàng là kết quả của một hệ sinh thái. Nhưng trong hệ sinh thái đó, cần có những người đóng vai trò "kiến trúc sư", những người kết nối, dẫn dắt, nhìn thấy bức tranh lớn và giúp các mảnh ghép khớp lại với nhau.
Đó có thể là một hợp tác xã đủ mạnh. Một doanh nghiệp đầu đàn. Một tổ chức trung gian. Hay một chính sách đúng hướng.
Nhưng trên hết, đó phải là một cách tư duy mới.
Tư duy không dừng lại ở sản xuất. Không dừng lại ở kiểm soát chất lượng. Không dừng lại ở xúc tiến thương mại. Mà đi xa hơn: kiến tạo một ngành hàng có bản sắc, có định danh và có giá trị bền vững.
Một ngày nào đó, khi bước vào siêu thị ở một đất nước xa xôi, người ta không chỉ thấy "mango from Vietnam" hay "rice from Vietnam", mà thấy một cái tên cụ thể, một câu chuyện rõ ràng, một sự khác biệt không thể thay thế.
Khi đó, câu hỏi "ai là người làm thương hiệu?" có lẽ không còn quan trọng nữa. Bởi chính cả hệ thống, từ người nông dân đến nhà quản lý, đã cùng nhau tạo nên câu trả lời.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

