Sở hữu hơn 30 khu công nghiệp (KCN) và nhiều nhà xưởng cho thuê tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước, ông Trần Việt Anh – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu Tư SCC (SCCI) – nêu thực trạng: Để xây dựng được một KCN hoàn chỉnh, vốn đầu tư bỏ ra ban đầu rất lớn. Chẳng hạn, 1 KCN quy mô 400 ha thì ngay từ đầu đã phải đầu tư hạ tầng hết 400 ha đó. Thế nhưng, các KCN không thể ngay lập tức lấp đầy mà phải cần thời gian dài. Điều này nghĩa là thời gian hoàn vốn cho bất động sản công nghiệp (BĐS CN) là rất lớn.
Trong khi đó, đây là ngành khá nhạy cảm với những tác động từ bên ngoài. Chiến tranh vừa nổ ra là lập tức đứt gãy chuỗi cung ứng, nhiều khách hàng của SCCI chuẩn bị ký hợp đồng lập tức chậm lại, chờ, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của công ty.
Thế nhưng, ông Trần Việt Anh cho rằng một điều bất hợp lý là NHNN, các ngân hàng thương mại hiện không tách riêng BĐS CN như 1 trường hợp riêng mà gom chung hết vào BĐS và không coi đây là 1 động lực phát triển kinh tế. Việt Nam là trường hợp rất riêng vẫn còn gom chung BĐS CN với các loại BĐS khác.
Ở Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, họ tách BĐS CN ra thành 1 dòng riêng, gắn với động lực sản xuất, gắn với hoạt động thương mại. Khi đã gắn BĐS CN với động lực sản suất thì định hướng dòng vốn của ngân hàng sẽ có khác. Các DN BĐS CN sẽ có lợi thế khi tiếp cận vốn tín dụng.
Để chứng minh quan điểm này, ông Trần Việt Anh dẫn chứng: Trong chuyến thăm Trung Quốc vừa qua, đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam do Tổng Bí Thư Tô Lâm dẫn đầu đã tới thăm KCN ở Hùng An. Nơi đây được nhà nước quy hoạch tổng thể ngay từ đầu, huy động nguồn tài chính lớn, chủ động nguồn nhân lực. Nhờ vậy, chỉ sau gần 10 năm, Hùng An đã thu hút tới 400 DN lớn, hình thành 1 hệ sinh thái công nghệ, công nghiệp rất tốt.
Điển hình, tất cả thủ tục, kể cả tín dụng ở đây DN chỉ trong 1 tháng là hoàn thành xong. Ngân hàng cho vay đánh giá trên hiệu quả 1 dự án mang lại chứ không đánh giá trên tài sản thế chấp như tại Việt Nam. Có trường hợp 1 DN chỉ sau 10 năm về Hùng An hoạt động đã trở thành DN nằm top 3 nhà cung cấp giải pháp điện thông minh của Trung Quốc.
“Có thể thấy, chính phủ Trung Quốc coi Hùng An là 1 cực tăng trưởng mới của Trung Quốc. Họ xác định rõ BĐS không phải để đầu cơ, mà là hạ tầng cho tăng trưởng dài hạn. Vì thế, các chính sách của họ và nguồn tín dụng cũng được nắn theo hướng này. Trong khi đó, ở Việt Nam, chúng tôi phát triển 1 khu BĐS CN ở Gia Lai 20 năm, cho thuê giá rất thấp nhưng đến giờ mới lấp đầy khoảng 70%. Nếu vay ngân hàng hàng, chịu lãi suất 20 năm thì chỉ có “chết” – ông Việt Anh nói thẳng
Từ câu chuyện của Hùng An, Tổng giám đốc SCCI khẳng định: Vốn tín dụng cho BĐS nếu buông lỏng sẽ thành rủi ro nhưng nếu niểm soát quá sẽ thành điểm nghẽn. Việt Nam cần thống nhất quan điểm coi BĐS là động lực tăng trưởng, nhất là BĐS CN, logistics. Từ đó, nhận diện vấn đề không phải siết hay nới mà là định hướng dòng vốn.
Ông đề xuất: Cơ quan quản lý cần phân loại tín dụng bất động sản theo mục tiêu sử dụng, ưu tiên cho bất động sản công nghiệp, logistics. Bên cạnh đó, thiết kế cơ chế tín dụng dài hạn, phù hợp chu kỳ đầu tư. Quan trọng là kiểm soát tín dụng dựa trên chất lượng dự án và năng lực doanh nghiệp, không cào bằng. Cuối cùng là cần nhìn nhận bất động sản nói chung như hạ tầng kinh tế, tương tự giao thông hay năng lượng.
“Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển, Việt Nam đang có cơ hội rất lớn. Nhưng cơ hội đó chỉ trở thành hiện thực khi dòng vốn đi đúng chỗ. Nếu chúng ta chỉ nhìn bất động sản dưới góc độ rủi ro tín dụng, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội. Nếu nhìn đúng bản chất, bất động sản chính là hạ tầng của tăng trưởng” – ông Trần Việt Anh nhấn mạnh.
Phát họa bức tranh tổng thể của ngành cà phê Việt Nam, ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) nói: Năm 2025, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,59 triệu tấn, giá trị kim ngạch 9 tỉ USD nhưng xuất khẩu nguyên liệu vẫn là chủ yếu. phân khúc cà phê rang xay, hòa tan và phối trộn đạt hơn 1,4 tỉ USD nhưng phần lớn nằm trong tay của các doanh nghiệp FDI.
Để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, chế biến sâu là con đường trực tiếp nhất. Thực tế, các sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu đồng đều, có khả năng truy xuất và đạt chuẩn. Vì vậy, càng đi sâu vào chế biến, doanh nghiệp càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu qua đó nâng cao giá trị cà phê nguyên liệu Việt Nam.
"Bên cạnh đó, chế biến sâu còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi giá trị hiện đại không chỉ dừng ở hạt cà phê mà còn khai thác hiệu quả các phụ phẩm như cascara, vỏ quả, sinh khối… Đây là lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng tại Việt Nam", ông Tài nhận định.
Ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam xác nhận, Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam nhiều nhất nhiều người dân EU, kể cả một số cán bộ công chức cũng không biết gì về cà phê Việt Nam. Nguyên nhân vì Việt Nam chủ yếu xuất cà phê nhân vào thị trường nàynên sản phẩm không có thương hiệu dẫn đến người tiêu dùng thông thường không ai biết gì về cà phê Việt Nam.
Theo ông Công, EU hiện là một trong 2 trung tâm tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới quy mô thị trường trên 26 tỉ USD và sản lượng hàng năm khoảng 2,7 triệu tấn. Đây là thị trường có sức mua rất lớn, với mức tiêu thụ bình quân gần 20 kg/ người/ năm nhưng Việt Nam mới xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỉ USD, đứng thứ hai sau Brazil. Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi - cung cấp nguyên liệu,nhưng còn hạn chế ở các khâu có giá trị gia tăng cao, dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều cơ hội nâng cao giá trị. "Những con số trên cho thấy tiềm năng, cơ hội và dư địa cho hạt cà phê Việt Nam còn rất lớn nếu biết cách đầu tư khai thác hiệu quả ở phân khúc chế biến sâu nhằm tạo ra giá trị gia tăng", ông Công lưu ý.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty CP SX-TM-XNK Cà phê Napoli cho biết, tính chung cả nước, Việt Nam ước có khoảng 10.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cà phê nhưng ít doanh nghiệp mạnh và đặc biệt không có doanh nghiệp mạnh trên thị trường quốc tế. Trong khi như cả Trung Quốc chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp, nhưng có rất nhiều doanh nghiệp tên tuổi. Tại Mỹ, số lượng doanh nghiệp cũng không nhiều nhưng đa số đều có năng lực cạnh tranh cao.
Ông Thái Anh Tuấn Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2.9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất Việt Nam hiện nay nói rằng: Để phát triển chế biến sâu, doanh nghiệp cần hội đủ ba yếu tố: vốn, công nghệ và thị trường. Doanh nghiệp phải đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, đồng thời có nguồn cung ổn định từ các HTX. Hiện nay, hoạt động xuất khẩu được thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc tế, với hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Người mua có thể truy xuất đến từng container, từng hộ nông dân và vùng trồng cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhưng vấn đề đầu tư vào công nghệ chế biến, xây dựng và phát triển thị trường gắn với thương hiệu sản phẩm riêng thì cần phải có vốn lớn và lộ trình phù hợp. Hiện doanh nghiệp đang lựa chọn thị trường phù hợp, triển khai từng bước chắc chắn trước khi đầu tư mạnh vào chế biến sâu.
Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê nhận định: Doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng - lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng. Trong khi đó, khối doanh nghiệp nước ngoài (FDI) được hậu thuẫn mạnh từ hệ thống tài chính để giữ vững vị trí trong chuỗi.
TS Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cũng khẳng định: Nếu so với gạo hay thủy sản chính sách cho cà phê vẫn chưa tương xứng. "Một ngành đạt giá trị xuất khẩu đến 9 tỉ USD nhưng lại chưa có chính sách riêng để tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa là vấn đề cần lưu ý", ông Hà trăn trở.
Nhà báo Tô Đình Tuân, Tổng biên tập Báo Người Lao Động, nhấn mạnh: Nếu thúc đẩy chế biến sâu hiệu quả, theo hướng chuẩn mực và nghiêm túc, ngành cà phê Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức 8 - 9 tỉ USD mà trong vài năm tới hoàn toàn có thể hướng đến những cột mốc hàng chục tỉ USD. Để đạt được những kỷ lục mới, cần xác định chế biến sâu là một trục chiến lược quốc gia, với sự tham gia của doanh nghiệp, các cơ quan, ban ngành, các đơn vị liên quan và cả cơ quan truyền thông. Bên cạnh đó, cần tạo cú hích về tài chính cho doanh nghiệp, vì đây là điểm nghẽn lớn nhất. Muốn vậy, cần có chính sách miễn, giảm thuế; giảm thuế nhập khẩu máy móc. Ngoài ra cần phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa. Nếu không có nguồn nguyên liệu đạt chuẩn thì không thể phát triển chế biến sâu.
Theo thỏa thuận, hai bên sẽ phối hợp triển khai các giải pháp tài chính toàn diện cho cả khách hàng doanh nghiệp và cá nhân, đồng thời thúc đẩy các chương trình marketing, khách hàng thân thiết nhằm gia tăng khả năng tiếp cận và mức độ gắn kết với người dùng. Việc tích hợp các dịch vụ tài chính trên nền tảng viễn thông được kỳ vọng sẽ tạo ra trải nghiệm liền mạch, thuận tiện, góp phần thúc đẩy thanh toán không tiền mặt và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính tới nhiều phân khúc khách hàng hơn.
Bên cạnh đó, hợp tác sẽ tập trung phát triển các nền tảng tài chính số, trung gian thanh toán, đồng thời ứng dụng mạnh mẽ dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm nâng cao năng lực phân tích, cá nhân hóa dịch vụ. Hai bên cũng đẩy mạnh kết nối hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây, song hành với việc triển khai các giải pháp an ninh thông tin, xác thực danh tính điện tử và bảo mật giao dịch, đảm bảo nền tảng vận hành an toàn, bền vững và có khả năng mở rộng trong dài hạn.
Không dừng lại ở phạm vi hợp tác kinh doanh, thỏa thuận giữa Techcombank và MobiFone còn thể hiện tầm nhìn dài hạn trong việc đồng hành cùng Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới - nơi công nghệ, dữ liệu và kết nối trở thành động lực cốt lõi cho tăng trưởng. Hai bên hướng tới xây dựng một hệ sinh thái mở, tích hợp sâu các dịch vụ tài chính và viễn thông nhằm tạo ra những giá trị gia tăng vượt trội cho người dùng và doanh nghiệp.
Phát biểu tại lễ Ký kết, ông Trần Đức Thành - Quyền Tổng giám đốc Tổng công ty Viễn thông MobiFone - nhấn mạnh: "Với sự bổ trợ thế mạnh lẫn nhau - giữa một bên là hạ tầng viễn thông, công nghệ, dữ liệu, và một bên là năng lực tài chính, ngân hàng, quản trị rủi ro - MobiFone và Techcombank sẽ tạo ra những sản phẩm, dịch vụ khác biệt, mang lại giá trị thiết thực cho khách hàng và thị trường. Việc ký kết ngày hôm nay không chỉ là sự khởi đầu cho một giai đoạn hợp tác mới, mà còn thể hiện cam kết mạnh mẽ của MobiFone và Techcombank trong việc đồng hành cùng tiến trình chuyển đổi số quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế & xã hội số tại Việt Nam".
Tại sự kiện, bà Nguyễn Thu Lan - Phó Chủ tịch HĐQT Techcombank - chia sẻ: "Chúng tôi tin rằng sự đồng điệu trong định hướng số hóa và dữ liệu sẽ giúp hai bên nhanh chóng hiện thực hóa hệ sinh thái toàn diện, để cùng tiếp tục dẫn dắt hành trình số hóa cũng như kiến tạo giá trị vượt trội cho khách hàng và đối tác. Đây là nguồn động lực lớn thúc đẩy sự phát triển của Techcombank và MobiFone lên một tầm cao mới".
Trên nền tảng đó, sự hợp tác được kỳ vọng sẽ góp phần nâng tầm chuẩn mực dịch vụ trong ngành ngân hàng và viễn thông, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia và đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển kinh tế số. Đồng thời, đây cũng là bước đi cụ thể nhằm hiện thực hóa khát vọng vươn mình của đất nước, khi các doanh nghiệp đầu ngành chủ động liên kết, phát huy nội lực và tận dụng cơ hội từ làn sóng công nghệ toàn cầu.
Là doanh nghiệp trực thuộc Bộ Công an, Tổng công ty Viễn thông MobiFone đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm hạ tầng thông tin liên lạc an toàn, tin cậy, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện các nhiệm vụ quốc gia. Với phương châm Lấy khách hàng làm trung tâm, MobiFone cung cấp đa dạng các sản phẩm, dịch vụ viễn và giải pháp số cho hàng chục triệu thuê bao cá nhân và khách hàng doanh nghiệp trên toàn quốc, thông qua hạ tầng mạng lưới phủ rộng và chất lượng dịch vụ uy tín.
Đặc biệt, MobiFone tích cực phát triển và triển khai các giải pháp số phục vụ Chính phủ và các cơ quan nhà nước, góp phần thúc đẩy xây dựng Chính quyền số. Doanh nghiệp cung cấp các nền tảng công nghệ và dịch vụ trong các lĩnh vực như quản lý dữ liệu, định danh điện tử, an toàn thông tin, đô thị thông minh và các hệ thống điều hành số, đáp ứng yêu cầu về bảo mật, ổn định và khả năng mở rộng ở quy mô quốc gia. Thông qua việc tham gia vào các chương trình chuyển đổi số trọng điểm, MobiFone không chỉ hỗ trợ nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước mà còn góp phần xây dựng hạ tầng số vững chắc, phục vụ phát triển kinh tế số và xã hội số tại Việt Nam. Với nền tảng công nghệ vững chắc và chiến lược đổi mới sáng tạo, MobiFone tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những doanh nghiệp viễn thông chủ lực, đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế số tại Việt Nam.
Về Techcombank
Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), với tầm nhìn "Chuyển đổi ngành tài chính, Nâng tầm giá trị sống" là một trong những ngân hàng cổ phần lớn nhất Việt Nam, và là một trong những ngân hàng hàng đầu khu vực châu Á. Theo đuổi chiến lược khách hàng là trọng tâm, Techcombank hiện đang cung cấp các giải pháp tài chính và dịch vụ ngân hàng đa dạng cho khoảng 18,0 triệu khách hàng, bao gồm khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp thông qua mạng lưới điểm giao dịch trải dài khắp Việt Nam cũng như dịch vụ ngân hàng số dẫn đầu thị trường. Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái, hợp tác đối tác của Ngân hàng trong nhiều lĩnh vực kinh tế chủ chốt giúp tạo nên sự khác biệt cho Techcombank tại một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới.
Techcombank hiện được xếp hạng AA- bởi FiinRatings, Ba3 bởi Moody's, BB bởi S&P, và BB- bởi Fitch, nằm trong nhóm những ngân hàng thương mại cổ phần được xếp hạng tín nhiệm cao nhất tại Việt Nam.
Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ NN-MT) vừa có những điều chỉnh, cập nhật trong Chương trình giám sát dư lượng năm 2026 tại khu vực Nam bộ nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là tại Cà Mau. Theo đó, phạm vi giám sát dư lượng năm 2026 tại khu vực Nam bộ, sau khi điều chỉnh, cập nhật có 14 đối tượng được giám sát, bao gồm tôm sú; tôm thẻ chân trắng; tôm bạc thẻ; tôm chì; cá tra; cá diêu hồng; cá trê (trê vàng, trê phi); cá nàng hai; cá chẽm; cá chốt; cá lóc; cá rô phi; cá rô đồng và lươn. Việc bổ sung, cập nhật như nêu trên xuất phát từ phản ánh của doanh nghiệp và Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu tỉnh Cà Mau (CASEP).
Trước đó, như Thanh Niên đã thông tin, CASEP phản ánh các loại thủy sản như tôm sú, tôm bạc thẻ, tôm chì và tôm thẻ chân trắng là những đối tượng nuôi phổ biến của địa phương, nhưng không có trong danh sách kiểm soát của chương trình giám sát dư lượng, chất độc hại năm 2026. Điều này, dẫn đến hệ quả là nguồn tôm nguyên liệu khi đưa vào chế biến không đủ điều kiện cấp chứng thư để xuất khẩu vào thị trường Liên minh châu Âu (EU) và các thị trường tương đương, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu của doanh nghiệp.
Theo giải thích của cơ quan quản lý, xuất phát từ thay đổi của chính quyền hai cấp, trong quá trình tổng hợp, cấp cơ sở ở tỉnh Cà Mau khi lập kế hoạch hàng năm, thống kê bị thiếu một số địa danh và vùng nuôi, dẫn đến hệ quả là nguồn tôm nguyên liệu thu mua từ các địa bàn nêu trên khi đưa vào chế biến không đủ điều kiện cấp chứng thư để xuất khẩu vào thị trường EU và các thị trường tương đương, gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp.
Để tháo gỡ vướng mắc, NAFIQPM đã cập nhật, bổ sung các đối tượng giám sát như nêu ở trên, trong đó, bao gồm tôm thẻ chân trắng, tôm sú, tôm bạc thẻ và tôm chì trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Như vậy, đến nay, vướng mắc này cơ bản đã được giải quyết.