Những cam kết từ chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đang mở ra kỳ vọng đưa kim ngạch thương mại song phương lên 500 tỉ USD.
Chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đạt được những kết quả quan trọng và thiết thực khi các cam kết và thỏa thuận hợp tác đều hướng đến lợi ích trực tiếp của người dân và doanh nghiệp.
Đáng chú ý, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã đề nghị Trung Quốc tạo điều kiện để Việt Nam tham gia hiệu quả chương trình “Chia sẻ thị trường lớn – Xuất khẩu Trung Quốc”, đồng thời mở cửa cho các mặt hàng nông thủy sản và chăn nuôi của Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn.
Thủ tướng Lý Cường đã lắng nghe và khẳng định Trung Quốc sẵn sàng thúc đẩy hợp tác thương mại cân bằng hơn, nhập khẩu nhiều hơn nông sản chất lượng cao của Việt Nam và cùng hợp tác xây dựng khu hợp tác kinh tế qua biên giới.
Tại cuộc hội đàm với Bộ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Vương Văn Đào trong khuôn khổ chuyến thăm, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng đề nghị phía Trung Quốc tăng cường nhập khẩu hàng hóa Việt Nam, mở rộng danh mục mặt hàng được hưởng ưu đãi thuế quan, công nhận lẫn nhau kết quả kiểm dịch động thực vật đối với hàng nông lâm thủy sản, và tạo điều kiện cho hàng Việt xuất khẩu qua thương mại điện tử xuyên biên giới.
Bộ trưởng Vương Văn Đào nhất trí và cho biết Bộ Thương mại Trung Quốc sẽ tiếp tục ủng hộ Việt Nam thành lập các văn phòng xúc tiến thương mại, đồng thời mời Việt Nam tích cực tham gia 5 hoạt động trong khuôn khổ chương trình năm 2026 và làm quốc gia chủ đề trong chuỗi sự kiện năm 2027.
Với doanh nghiệp, đây là tín hiệu đáng mừng. Ông Nguyễn Đình Tùng – Tổng giám đốc Vina T&T Group, đơn vị đang xuất khẩu sầu riêng và dừa vào Trung Quốc – nhận định chuyến thăm là một “cú hích” mang tính chiến lược. Việc Thủ tướng Lý Cường khẳng định mở cửa cho hàng nông thủy sản Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn đã tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng, thúc đẩy chuyển dịch mạnh từ xuất khẩu tiểu ngạch sang chính ngạch.
Điều này giúp doanh nghiệp giảm rủi ro ùn tắc tại cửa khẩu, giảm chi phí logistics và bảo vệ thương hiệu nông sản Việt. Khi vào được chính ngạch, sản phẩm Việt Nam không còn quanh quẩn ở các tỉnh biên giới mà có thể thâm nhập sâu vào các siêu thị tại Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu.
Trong chuyến thăm, Trung Quốc cũng cam kết mở cửa chính ngạch cho bưởi và chanh (gồm chanh không hạt, chanh có hạt và chanh leo) – tin vui với ngành rau quả. Bưởi da xanh Việt Nam có chất lượng đặc trưng khác biệt so với sản phẩm bản địa, khi vào chính ngạch có thể tự tin cạnh tranh ở phân khúc cao cấp.
Với chanh, nhu cầu tại thị trường này đang tăng mạnh; việc ký nghị định thư sẽ giúp ổn định đầu ra cho các vùng trồng lớn ở Long An và miền Tây, thay vì phụ thuộc vào buôn bán biên mậu bấp bênh.
Dù vậy, các chuyên gia và doanh nghiệp đều nhấn mạnh rằng để thực sự khai thác được những thỏa thuận cấp cao này, Việt Nam cần tuân thủ nghiêm “luật chơi” mới. Ông Tùng lưu ý doanh nghiệp phải quản lý chặt mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói, vì chỉ một sai sót nhỏ về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật có thể làm mất uy tín cả ngành hàng.
Thay vì xuất hàng thô, doanh nghiệp cần đầu tư vào bao bì, nhãn mác đúng chuẩn và xây dựng câu chuyện sản phẩm để người tiêu dùng Trung Quốc nhận diện được “đây là nông sản Việt Nam chất lượng cao”.
Ông Đặng Phúc Nguyên – Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam – cho rằng sự hợp tác của hai Đảng, hai Chính phủ ngày càng mở rộng, thể hiện qua việc mỗi chuyến thăm cấp cao đều có thêm nghị định thư cho phép xuất khẩu các mặt hàng mới.
Nhờ đó, chỉ trong quý 1 năm nay, xuất khẩu trái cây đạt hơn 1,5 tỉ USD, trong đó Trung Quốc chiếm tới 2/3 kim ngạch.
Bên cạnh kênh thương mại truyền thống, ông Nguyên đặc biệt kỳ vọng vào thương mại điện tử – xu hướng đang được nhiều lĩnh vực khai thác hiệu quả. Dù ngành trái cây có đặc thù riêng về bảo quản và vận chuyển, kênh này vẫn mở ra cơ hội tìm kiếm và mở rộng khách hàng đáng kể.
Để nắm vững và phát triển thị phần, ông Nguyên nhấn mạnh doanh nghiệp cần chú trọng chất lượng, mẫu mã và tuân thủ quy định của thị trường Trung Quốc – vốn ngày càng khắt khe hơn. Song song đó, cần có sự hỗ trợ mạnh hơn từ cơ quan chức năng trong đàm phán, mở rộng ký kết nghị định thư để bổ sung thêm các mặt hàng như bơ, na dai, roi, cũng như hướng dẫn doanh nghiệp tham gia các sàn giao dịch trực tuyến để hiện thực hóa các hợp đồng giao thương qua thương mại điện tử.
Tại đại hội cổ đông thường niên ngày 16/4, ông Phan Chiến Thắng, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Masan High-tech Materials (MSR), cho rằng sau làn sóng tỷ phú nhờ trí tuệ nhân tạo (AI), giới siêu giàu tiếp theo sẽ là những người nắm giữ các vật liệu thiết yếu cho ngành này. Ông nhắc tới vonfram (tungsten), loại vật liệu đóng góp phần lớn trong cơ cấu doanh thu doanh nghiệp.
Do đó, MSR đặt mục tiêu doanh thu năm nay tới 20.300 tỷ đồng, tăng gần gấp 3. Còn lợi nhuận sau thuế khoảng 1.700-2.500 tỷ đồng, tăng hơn 150-220 lần so với năm ngoái.
Nhờ chịu nhiệt trên 3.400 độ C, độ cứng gần bằng kim cương và dẫn điện tốt, vonfram được dùng làm vật liệu kết nối vi mạch, hệ thống điện toán trong ngành bán dẫn và sản xuất đạn lĩnh vực quốc phòng. Vật liệu này hầu như không có giải pháp thay thế hoàn hảo, giá tăng cả chục lần trong một năm qua, biến động mạnh nhất trong hơn hai thập kỷ.
Theo ông Thắng, mức giá ammonium paratungstate (APT, sản phẩm trung gian của vonfram) phản ánh trong báo cáo tài chính năm 2025 trung bình là 500 USD mỗi 10 kg (mtu). Trong khi đó, giá vật liệu này niêm yết tại công ty nghiên cứu thị trường Shanghai Metals Market ở mức 180.000 USD mỗi tấn (khoảng 1.800 USD một mtu) vào trưa ngày 16/4. Vật liệu này từng tăng hơn 3.000 USD vào cuối tháng 3, do xung đột Trung Đông và tình trạng siết xuất khẩu của Trung Quốc - thị trường cung ứng lớn nhất thế giới, theo CNBC.
Ông Danny Le, Chủ tịch HĐQT MSR, cho biết với mỗi 100 USD APT tăng giá, họ có thêm 50 triệu USD doanh thu và 10 triệu USD lợi nhuận sau thuế. "Nếu giá mỗi mtu ở mức 1.500 USD, chúng tôi trả hết nợ trong năm 2028", ông nói. Thời điểm xóa nợ sẽ sớm hơn một năm nếu giá này đạt 2.000 USD. Điều này đồng nghĩa, công ty sẽ có nguồn lực để trả cổ tức cho cổ đông vào 2027.
Tính đến cuối năm 2025, MSR nợ ròng gần 10.400 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ/EBITDA (chỉ số đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp bằng lợi nhuận trước lãi vay, thuế, khấu hao) là 4,8 lần, cải thiện so với mức 6 lần của năm trước đó.
Năm ngoái, mỏ Núi Pháo (trữ lượng 55 triệu tấn) của công ty được kéo dài thời gian khai thác đến năm 2044. Họ cũng được cấp phép khai thác thêm một mỏ trữ lượng 28 triệu tấn, dự kiến vận hành trong quý tới.
MSR cũng nhập khẩu thêm quặng ngoài để tinh chế, nhằm tối ưu hóa công suất cho nhà máy tinh luyện tại Công ty con Vonfram Masan (MTC). Hiện họ có hơn 20 nhà cung cấp, gồm "ông lớn" Mitsubishi từ Nhật Bản.
Đại diện MSR dẫn các dự báo cho thấy làn sóng đầu tư vào hạ tầng AI toàn cầu có thể đạt 5.000-8.000 tỷ USD tới năm 2030, thúc đẩy nhu cầu vonfram lên 24.000 tấn. Trong 5 năm qua, công ty nắm giữ trung bình 21% nguồn cung vật liệu này ngoài Trung Quốc.
Ngoài vonfram, quặng đa kim từ mỏ Núi Pháo còn chế biến ra các vật liệu khác gồm fluorspar, tinh quặng đồng, bismuth - các vật liệu quan trọng trong ngành công nghiệp và điện khí hóa.
Ban điều hành cho biết kết quả kinh doanh đầu năm khá thuận lợi. Quý I, họ đạt lợi nhuận sau thuế gần 540 tỷ đồng, tương đương 20 triệu USD. Công ty dự tính chuyển niêm yết từ sàn UPCoM sang Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE), sau khi công ty mẹ Masan bán thêm 2% tổng lượng cổ phiếu, nhằm giảm tỷ lệ sở hữu tại MSR.
Theo công ty phân tích thị trường Kpler, xuất khẩu dầu của Mỹ trong tháng 4 có thể đạt 5,2 triệu thùng/ngày, tăng gần một phần ba so với mức 3,9 triệu thùng/ngày của tháng 3.
Đáng chú ý, nhu cầu từ châu Á dự kiến tăng vọt 82%, lên khoảng 2,5 triệu thùng/ngày, biến khu vực này trở thành động lực chính thúc đẩy làn sóng xuất khẩu.
Theo báo Financial Times ngày 10-4, diễn biến này phản ánh sự dịch chuyển nhanh chóng của dòng chảy năng lượng toàn cầu, trong bối cảnh nguồn cung từ Trung Đông - đặc biệt qua eo biển Hormuz - bị gián đoạn nghiêm trọng.
Khu vực châu Á, vốn phụ thuộc lớn vào tuyến vận tải này, buộc phải tìm đến các nguồn cung thay thế ổn định hơn, trong đó Mỹ nổi lên như lựa chọn hàng đầu.
Dữ liệu từ Kpler cho thấy hoạt động vận chuyển cũng đang gia tăng đáng kể. Hiện có tới 68 tàu chở dầu trống đang trên đường tới Mỹ để nhận hàng, cao gấp gần ba lần so với mức 24 tàu trong tuần trước. Con số này cũng vượt xa mức trung bình 27 tàu của năm ngoái, cho thấy nhu cầu vận chuyển dầu Mỹ đang tăng đột biến.
"Cả một đội tàu chở dầu đang đổ về Mỹ", ông Matt Smith, chuyên gia phân tích tại Kpler nhận định, nhấn mạnh quy mô chưa từng có của làn sóng vận chuyển hiện tại.
Sự bùng nổ xuất khẩu cũng củng cố vai trò ngày càng quan trọng của Mỹ như một "nhà cung cấp điều tiết" trên thị trường dầu mỏ toàn cầu. Trong bối cảnh các nguồn cung truyền thống gặp gián đoạn, khả năng đẩy nhanh xuất khẩu giúp Mỹ linh hoạt lấp đầy khoảng trống, đặc biệt tại các thị trường tiêu thụ lớn ở châu Á.
Ngoài ra việc Mỹ gia tăng nhập khẩu dầu thô từ Venezuela trong thời gian gần đây cũng gián tiếp hỗ trợ hoạt động xuất khẩu.
Khi các nhà máy lọc dầu sử dụng nguồn dầu nặng nhập khẩu, lượng dầu nhẹ trong nước - đặc biệt là dầu chuẩn WTI - có xu hướng được chuyển hướng ra thị trường nước ngoài nhiều hơn.
Theo các chuyên gia, xu hướng này có thể tiếp diễn trong ngắn hạn, khi nhu cầu từ châu Á vẫn ở mức cao và nguồn cung từ Trung Đông chưa ổn định hoàn toàn. Trong bối cảnh đó, Mỹ nhiều khả năng tiếp tục duy trì vai trò trung tâm trong việc tái cân bằng thị trường dầu mỏ toàn cầu.
Tuy nhiên mức độ bền vững của đà tăng này sẽ phụ thuộc vào diễn biến địa chính trị trong thời gian tới, cũng như khả năng duy trì sản lượng và hạ tầng xuất khẩu của Mỹ.
Ngày 14/4, Tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố số liệu thương mại tháng 3. Theo đó, kim ngạch nhập khẩu tăng 27,8% so với cùng kỳ năm ngoái, lên gần 270 tỷ USD. Tốc độ này cao hơn dự báo và cũng là mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 11/2021.
Báo cáo trên nối dài xu hướng tăng tốc nhập khẩu của Trung Quốc năm nay, nhờ nhu cầu nội địa cải thiện, nhu cầu hàng hóa tăng và các công ty bổ sung lại hàng tồn kho. Trong 2 tháng đầu năm, nhập khẩu nước này tăng gần 20%.
Đây là tín hiệu lạc quan với mục tiêu thúc đẩy tiêu dùng của Trung Quốc. Từ nhiều năm qua, các nhà kinh tế học đã kêu gọi nước này chuyển từ mô hình tăng trưởng phụ thuộc đầu tư và xuất khẩu sang dựa vào đột phá về tiêu dùng. Trong kế hoạch 5 năm công bố tháng trước, Bắc Kinh cũng cam kết tăng đáng kể tiêu dùng của các hộ gia đình.
Trong khi đó, xuất khẩu tháng 3 chỉ tăng 2,5% so với cùng kỳ năm ngoái, lên 321 tỷ USD. Hoạt động này chịu ảnh hưởng chủ yếu từ xung đột tại Trung Đông.
Hơn một tháng qua, xung đột liên quan đến Iran, Mỹ và Israel đã khiến eo biển Hormuz gần như bị phong tỏa, đe dọa nguồn cung năng lượng toàn cầu và làm gián đoạn các tuyến vận tải biển. Giá dầu Brent hiện vẫn trên 90 USD một thùng, tăng mạnh so với khoảng 60 USD trước khi xung đột nổ ra.
Chi phí nhiên liệu và bảo hiểm tăng đã đẩy cước vận tải lên cao. Việc phải đi đường vòng qua Mũi Hảo Vọng cũng khiến năng lực vận tải suy giảm. Gián đoạn nguồn cung hóa dầu và phân bón cũng làm tăng rủi ro đối với sản xuất công nghiệp và nông nghiệp.
Người phát ngôn Tổng cục Hải quan Trung Quốc Lu Daliang cho biết xung đột tại Trung Đông đã khiến giá nhiên liệu tăng mạnh trong thời gian dài, làm chi phí vận chuyển dầu tăng đáng kể. Đà tăng hiện đã lan sang chuỗi cung ứng toàn cầu, đẩy chi phí sản xuất và logistics của hàng hóa trên khắp thế giới đi lên, từ đó gây sức ép lên thương mại hàng hóa toàn cầu.
"Số liệu của chúng tôi cho thấy trong tháng 3, xuất nhập khẩu của Trung Quốc với Trung Đông đã chuyển từ tăng trưởng sang sụt giảm. Chúng tôi hy vọng tất cả các bên sẽ hành động để hạ nhiệt tình hình càng sớm càng tốt, khôi phục hòa bình và ổn định tại eo biển này cũng như Trung Đông", ông nói.