Mục Lục
ToggleĐại học RMIT Việt Nam vừa tổ chức lễ tốt nghiệp, vinh danh thành tựu của hơn 3.100 tân khoa.
Từ giảng đường cơ sở Nam Sài Gòn đến các lớp học ở Hà Nội, thế hệ sinh viên tốt nghiệp năm nay đại diện đầy đủ các ngành đào tạo hiện có tại RMIT Việt Nam, từ kỹ thuật, kinh doanh, truyền thông, thiết kế công nghệ số, thời trang, du lịch và nhiều lĩnh vực khác.
Trong số hơn 3.100 sinh viên tốt nghiệp năm nay, khoa kinh doanh chiếm số lượng lớn nhất với 1.811 tân khoa từ các ngành kinh doanh, digital marketing, kinh tế và tài chính, quản lý chuỗi cung ứng và logistics, kinh doanh quốc tế, quản trị, cùng nhiều chuyên ngành khác.
Khoa truyền thông và thiết kế có 680 tân khoa từ các ngành truyền thông chuyên nghiệp, thiết kế ứng dụng sáng tạo, truyền thông số, ngôn ngữ, sản xuất phim kỹ thuật số, quản trị doanh nghiệp thời trang và thiết kế game.
Khoa khoa học, kỹ thuật và công nghệ góp 397 tân khoa ở các lĩnh vực kỹ thuật phần mềm, kỹ thuật điện tử và hệ thống máy tính, robot và cơ điện tử, công nghệ thông tin, tâm lý học, hàng không, và công nghệ thực phẩm và dinh dưỡng.
Năm nay ba ngành của Đại học RMIT Việt Nam có lứa sinh viên tốt nghiệp đầu tiên gồm thiết kế game, công nghệ thực phẩm và dinh dưỡng và kế toán.
Ở bậc sau đại học, có 232 tân khoa hoàn thành các chương trình thạc sĩ, tiến sĩ và chứng chỉ sau đại học.
GS Scott Thompson-Whiteside, Tổng giám đốc RMIT Việt Nam, đã gửi lời chúc mừng đến các tân khoa của trường, đồng thời đặt ra thách thức cho họ trên chặng đường phía trước.
“Tốt nghiệp đại học và sau đại học là một thành tựu vô cùng to lớn, thế nên các bạn hoàn toàn có quyền hãnh diện về bản thân vì những nỗ lực cũng như tâm huyết các bạn đã dành ra để theo đuổi tri thức”, ông nói.
Theo ông, khi bước sang chương tiếp theo của cuộc đời, hãy khắc ghi một điều rằng việc học của các bạn sẽ không dừng lại tại đây. Thế giới không ngừng xoay vần, vậy nên điều tối quan trọng là không ngừng học hỏi và phát triển.
GS Thompson-Whiteside khích lệ các tân khoa hãy lấy các giá trị cốt lõi của Đại học RMIT, bao gồm niềm đam mê, khả năng tạo tác động, tính bao hàm, sự liêm chính, sự can đảm và trí tưởng tượng, vào những gì họ làm.
“Hỡi các lãnh đạo tương lai, tôi tin rằng các bạn sẽ kiến tạo nên những đóng góp tích cực cho xã hội và cho cộng đồng các bạn phụng sự”, ông nói.
Các tân khoa của khóa 2026 chính thức gia nhập mạng lưới hơn nửa triệu cựu sinh viên Đại học RMIT trải rộng trên các châu lục.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Vụ việc liên quan đến sách tin học 3 phát hành bởi Nhà xuất bản Đại học Huế và Đại Trường Phát Education Solutions đang gây chú ý khi phát hiện link website không phù hợp. Vào chiều 9.4, PGS-TS Nguyễn Xuân Huy, Chánh văn phòng Đại học Huế, đã xác nhận sự việc đang được Phòng PA03 của Công an thành phố Huế tiến hành xác minh, điều tra.
Theo PGS-TS Nguyễn Xuân Huy, công an đã làm việc với người đứng đầu Nhà xuất bản Đại học Huế và đang tiếp tục điều tra, làm rõ, bước đầu cơ quan chức năng nghi rằng đường link đó có thể bị hack vì link ban đầu là địa chỉ rất tốt.
Như Thanh Niên đã thông tin, vừa qua một số phụ huynh vô cùng bức xúc khi cùng con sử dụng cuốn "Vở bài tập Tin học 3" và phát hiện đường link in bên trong chứa toàn nội dung đồi trụy.
Cụ thể, ở trang 59 cuốn "Vở bài tập Tin học 3" chủ biên là ông Nguyễn Tương Tri, do Nhà xuất bản Đại học Huế xuất bản, có nội dung "trang web video thiếu nhi có địa chỉ: "thieunhixxxx.xxx" hướng dẫn các em truy cập vào đây để tiếp cận thông tin và trả lời câu hỏi. Trên sách có in rõ Giám đốc – Tổng biên tập: TS Trần Bình Tuyên. Tuy nhiên, trang web này lại là trang web "đen", có nội dung đồi truỵ.
Liên quan vụ việc này, trên fanpage và website chính thức của Đại Trường Phát Education Solutions (DTP Group), doanh nghiệp này phát đi thông báo khẩn, gửi tới các ban giám hiệu, thầy cô, phụ huynh, học sinh.
Thông báo khẩn viết: "Để bảo vệ an toàn cho học sinh trên không gian mạng và tránh những tác động tiêu cực về tâm lý, khuyến cáo khẩn cấp tuyệt đối không truy cập vào các liên kết (link) hoặc quét mã QR liên quan đến tài liệu bổ trợ trong các quyển sách giáo khoa nêu trên dưới bất kỳ hình thức nào. Kính mong quý thầy cô và phụ huynh phối hợp nhắc nhở các em học sinh không tò mò nhấn vào các liên kết này để đảm bảo an toàn thông tin cá nhân và tránh tiếp cận các nội dung độc hại", DTP Group khuyến cáo.
Theo DTP Group, ngay sau khi phát hiện sự việc, công ty chủ động trình báo hành vi xâm phạm và chiếm dụng hạ tầng giáo dục lên Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an) để điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật; khẩn trương phối hợp với các đơn vị viễn thông để chặn các truy cập độc hại và xây dựng lại hệ thống học liệu trên nền tảng mới với tiêu chuẩn bảo mật cao nhất.
Hiện đường link trong sách tin học 3 được phản ánh là dẫn tới trang web đồi trụy này đã bị vô hiệu hóa, không thể truy cập.

Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, các em có thể tiếp cận hàng nghìn đề thi thử, video bài giảng, khóa học trực tuyến và cả lộ trình ôn tập sẵn. Tuy nhiên, chính sự phong phú ấy lại đặt ra câu hỏi lớn: đây là cơ hội mở hay một "ma trận" khiến người học dễ lạc lối?
Điểm tích cực rõ nhất là khả năng tiếp cận được mở rộng mạnh mẽ. Trước đây, tài liệu ôn thi chất lượng chủ yếu tập trung ở đô thị và các trung tâm lớn; nay, nhờ internet, học sinh (HS) ở vùng sâu, vùng xa cũng có thể học cùng bài giảng, làm cùng đề thi như ở thành phố. Điều này góp phần thu hẹp khoảng cách vùng miền, ít nhất về cơ hội tiếp cận tri thức - một bước tiến đáng kể về công bằng giáo dục.
Bên cạnh đó, sự phong phú của học liệu cho phép cá nhân hóa việc học. HS có thể chọn nội dung phù hợp với trình độ và mục tiêu: người yếu học lại từ nền tảng, người khá giỏi tiếp cận chuyên đề nâng cao. Đây là điều lớp học truyền thống khó đáp ứng trọn vẹn.
Ngoài ra, tài liệu miễn phí mở "cửa vào" cho HS khó khăn, trong khi tài liệu có phí - nếu được xây dựng bài bản - mang lại giá trị gia tăng như hệ thống hóa kiến thức, phân tích lỗi sai, theo dõi tiến bộ. Sự song song này, về lý thuyết, tạo nên một hệ sinh thái học tập đa lựa chọn và linh hoạt hơn.
Tuy nhiên, chính sự phong phú ấy lại tạo ra nghịch lý: càng nhiều tài liệu, HS càng dễ mất phương hướng. Thứ nhất, nhiều em rơi vào tình trạng "sưu tầm" hơn là học. Một HS ôn thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM vừa qua, chia sẻ: "Em bị loạn giữa quá nhiều tài liệu, mỗi nơi một kiểu, không biết tin nguồn nào".
Thứ hai, không ít HS tải hàng chục bộ đề, đăng ký nhiều khóa học nhưng không theo được lộ trình nào đến cùng. Việc học dàn trải, thiếu trọng tâm khiến hiệu quả giảm, học liệu từ công cụ hỗ trợ trở thành "nhiễu thông tin".
Thứ ba, chất lượng tài liệu không đồng đều. Nhiều tài liệu miễn phí chưa được kiểm chứng, có thể sai lệch; trong khi tài liệu có phí không phải lúc nào cũng tương xứng. Thị trường thiếu chuẩn mực khiến "vàng thau lẫn lộn".
Thứ tư, nguy cơ lệch hướng học tập ngày càng rõ. Khi học liệu ôn thi phát triển mạnh, việc học dễ bị thu hẹp thành luyện dạng, học mẹo, thay vì hiểu bản chất. Điều này đi ngược xu hướng đánh giá năng lực.
Thứ năm, yếu tố thương mại hóa tạo áp lực mới. Quảng cáo bị thổi phồng, nhiều gia đình bỏ ra chi phí lớn với kỳ vọng "mua" lợi thế, từ đó hình thành một dạng bất bình đẳng mới.
Trong "ma trận" học liệu, HS không thể tiếp tục học theo kiểu bị dẫn dắt mà cần chuyển sang học có chiến lược.
Cần nhớ không phải càng nhiều tài liệu càng tốt; một nguồn phù hợp, được học sâu, làm đi làm lại và phân tích lỗi sai kỹ lưỡng thường hiệu quả hơn việc "lướt" qua nhiều nguồn. HS cần biết chọn lọc để đánh giá độ tin cậy, so sánh và tự kiểm chứng tài liệu - đây là năng lực thiết yếu trong thời đại số. Ngoài ra, phải giữ mục tiêu học để hiểu; khi nền tảng vững, kết quả thi sẽ là hệ quả tự nhiên.
Trong bối cảnh học liệu tràn ngập, giáo viên cần giữ vững vai trò định hướng. Không chỉ dạy kiến thức, thầy cô cần giúp HS xác định học gì, học từ đâu và học như thế nào; đồng thời giới thiệu nguồn tin cậy, cảnh báo "bẫy" học liệu.
Nhà trường nên xây dựng "ngân hàng học liệu" riêng, được kiểm duyệt để làm chuẩn tham chiếu. Cùng với đó là tổ chức ôn tập bài bản: thi thử, tư vấn học tập, hướng dẫn kỹ năng làm bài. Khi nhà trường làm tốt, sự phụ thuộc vào thị trường bên ngoài sẽ giảm.
Ở cấp quản lý, cần một trục định hướng rõ ràng. Trước hết, Bộ GD-ĐT giao một đơn vị thuộc bộ chuyên trách xây dựng nền tảng học liệu quốc gia, cung cấp tài liệu chuẩn với chi phí thấp, đảm bảo công bằng tiếp cận.
Quan trọng hơn là đổi mới đề thi theo hướng đánh giá năng lực thực chất, hạn chế học tủ, học mẹo, học máy móc, không hiểu bản chất. Đồng thời, cần cơ chế kiểm soát chất lượng học liệu, đặc biệt với sản phẩm có phí, nhằm minh bạch thông tin, bảo vệ người học và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Hiện tượng "bùng nổ học liệu ôn thi" không chỉ có ở VN. Tại Mỹ, các kỳ thi như SAT, ACT đã tạo ra cả một ngành luyện thi; ở Hàn Quốc với CSAT hay Trung Quốc với Gaokao cũng tương tự. Điểm chung là ở đâu thi cử cạnh tranh cao, ở đó học liệu phát triển mạnh.
Tuy nhiên, điều đáng tham khảo là cách ứng xử. Các quốc gia nói trên không hạn chế học liệu mà tập trung định hướng. Tại Mỹ, College Board cung cấp tài liệu chính thức miễn phí, kết hợp với Khan Academy tạo một "chuẩn tham chiếu" rõ ràng. Nhờ đó, HS có điểm tựa đáng tin cậy, không bị lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn bên ngoài; đồng thời, đề thi được thiết kế theo hướng khó "luyện tủ", buộc HS phải hiểu và vận dụng. Khi cách thi thay đổi, thị trường học liệu cũng phải điều chỉnh theo.
Ở Hàn Quốc và Trung Quốc, nhà nước còn can thiệp để kiểm soát thương mại hóa, giảm áp lực và bất bình đẳng. Dù còn tranh luận, điều này cho thấy: không thể buông lỏng hoàn toàn, mà cần sự dẫn dắt để học liệu phục vụ đúng mục tiêu giáo dục.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không thể ngăn chặn sự bùng nổ học liệu, nhưng hoàn toàn có thể biến nó thành một hệ sinh thái lành mạnh. Vấn đề không phải là có bao nhiêu tài liệu, mà là có một "trục định hướng" đủ mạnh hay không.
Khi cơ quan quản lý giáo dục dẫn dắt, nhà trường tổ chức, giáo viên định hướng và HS chủ động, thì sự bùng nổ học liệu sẽ không còn là áp lực mà trở thành nguồn lực quý giá cho một nền giáo dục hiện đại.
Trước mắt, một số tỉnh, thành phố lớn có thể xây dựng hệ sinh thái ôn thi cho riêng địa phương mình, từ đó, sẽ phổ biến kinh nghiệm cho nhiều địa phương khác.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Điểm thi đánh giá năng lực cao nhất 3 năm qua: Điểm chuẩn ra sao?

ĐH Quốc gia TP.HCM chính thức công bố điểm thi đánh giá năng lực (ĐGNL) đợt 1 năm nay. Thống kê sơ bộ từ ĐH này cho thấy, phân bố điểm thi đợt 1 năm 2026 có dạng gần với phân bố chuẩn, có xu hướng đối xứng quanh giá trị trung tâm, giá trị điểm trung bình và trung vị bằng nhau, với mật độ tập trung cao ở vùng điểm trung bình và giảm dần về hai phía.
Độ lệch chuẩn của điểm thi ở mức 141,2 cho thấy mức độ phân tán tương đối cao, phản ánh khả năng phân loại tốt của bài thi. Dải điểm trải rộng từ mức rất thấp đến gần mức tối đa, phản ánh khả năng bao phủ phổ năng lực rộng của đề thi; điều này cho thấy đề thi có khả năng phân hóa tốt, giúp phân loại thí sinh (TS) theo nhiều mức độ năng lực khác nhau. Dải điểm rộng và sự phân bổ hợp lý của các mức điểm góp phần nâng cao hiệu quả của việc sử dụng kết quả thi trong công tác tuyển sinh.
Đợt 1 năm nay phổ điểm có dạng gần phân bố chuẩn với điểm trung bình và trung vị đều bằng 682 điểm. Khoảng 30% TS đạt dưới 600 điểm, 55% dưới 700 điểm và chỉ khoảng 6% đạt từ 900 điểm trở lên, cho thấy sự phân tầng rõ rệt giữa các nhóm năng lực.
So với năm 2025, phổ điểm năm 2026 có xu hướng dịch chuyển nhẹ về phía điểm cao, đồng thời độ phân tán tăng, cho thấy TS đã thích nghi tốt hơn với cấu trúc đề thi mới, trong khi đề thi vẫn đảm bảo tính phân loại hiệu quả. Các chỉ số về độ khó và độ phân biệt của câu hỏi đều đạt mức tốt, với phần lớn câu hỏi nằm trong khoảng độ khó trung bình và hơn một nửa đạt mức phân biệt rất tốt, góp phần nâng cao giá trị sử dụng của kết quả thi trong tuyển sinh ĐH.
Tiến sĩ Phạm Tấn Hạ, cố vấn tuyển sinh và đào tạo Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho rằng nhìn vào thống kê các đặc trưng của kết quả thi đợt 1 trong 3 năm (2024 - 2026), có thể thấy năm nay điểm thi đạt mức cao nhất. Trong đó, điểm trung bình năm nay ở mức 682 điểm (trong khi năm 2024 đạt mức 643,4 và 2025 đạt mức 618,4). Điểm trung vị - khoảng điểm nhiều TS đạt được nhất, năm nay cũng ở mức cao nhất, lên tới 682 điểm (năm 2024 ở mức 638 và 2025 là 609 điểm). Hơn nữa mức điểm thi cao nhất TS đạt được của năm nay cũng ở mức kỷ lục, lên tới 1.098 điểm trên tổng điểm 1.200 toàn bài thi (năm 2024 ở mức 1.076 điểm và 2025 đạt 1.060 điểm).
"Theo xu hướng các năm trước, kết quả thi đợt 2 của TS thường cao hơn đợt 1 do số lượng lớn TS dự thi lại để cải thiện điểm. Nếu theo đúng xu hướng này như các năm trước, kết quả thi của TS dự thi trong toàn năm 2026 dự báo cũng sẽ ở mức cao", tiến sĩ Hạ phân tích thêm.
Thạc sĩ Phùng Quán, chuyên gia tuyển sinh Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), cũng cho rằng phổ điểm năm 2026 hợp lý, phân hóa tốt, giúp các trường thuận lợi trong phân loại và chọn lọc TS. Theo đó, phổ điểm cho thấy một xu hướng rõ rệt: mặt bằng điểm tăng lên đáng kể, đồng thời độ phân hóa vẫn được duy trì. So với năm 2025, phổ điểm năm nay dịch chuyển về phía cao, đặc biệt ở các nhóm điểm từ 750 trở lên. Tỷ lệ TS đạt từ 800 điểm tăng mạnh, trong khi nhóm điểm thấp thu hẹp đáng kể. Điều này cho thấy đề thi không "dễ hóa", mà khả năng làm bài của TS được cải thiện và phổ điểm được kéo giãn ở vùng trên.
Tuy nhiên, theo thạc sĩ Quán, khi nhìn sâu vào cấu trúc phổ điểm, có thể thấy vùng từ 700 - 900 trở thành khu vực tập trung đông TS nhất. Điều này đồng nghĩa việc các mốc điểm từng được xem là an toàn trước đây đang dần mất đi ý nghĩa. Nếu như trước đây 700 điểm đã có thể tạo lợi thế, thì năm nay mốc 800 mới chỉ là điểm khởi đầu cho cạnh tranh ở nhiều ngành. Mặt bằng điểm năm nay cao lên rõ, nhưng không phải theo kiểu "đề dễ nên mất phân loại". Ngược lại, phổ điểm năm 2026 vừa cao hơn, vừa rộng hơn.
Nhìn ở phụ lục khoảng điểm, nhóm 751 - 800 tăng từ 7,2% năm 2025 lên 10,9% năm 2026; nhóm 801 - 850 tăng từ 4,9% lên 9,3%; nhóm 851 - 900 tăng từ 3% lên 7%; nhóm 901 - 950 tăng từ 1,6% lên 4% - tức là phần "đuôi phải" dày lên rất mạnh và đây mới là điểm làm mùa tuyển sinh năm nay khó đoán.
Ở chiều ngược lại, thạc sĩ Quán cho rằng nhóm điểm thấp co lại rõ. Ví dụ nhóm 451 - 500 giảm từ 10,5% xuống 5,6%, nhóm 501 - 550 giảm từ 13,1% xuống 8,2%, nhóm 551 - 600 giảm từ 13,9% xuống 10,7%; nghĩa là phổ điểm không chỉ dịch sang phải, mà còn làm cho vùng 650 - 900 trở thành vùng đông TS nhất. Khoảng 30% TS dưới 600 điểm, 55% dưới 700, 78% dưới 800, và chỉ khoảng 6% từ 900 điểm trở lên. Hay nói cách khác, năm nay 700 điểm không còn là mốc nổi trội, 800 điểm mới bắt đầu là vùng cạnh tranh khá, còn 900 điểm trở lên vẫn mạnh nhưng không còn "hiếm đến mức an toàn tuyệt đối".
Thạc sĩ Quán nhấn mạnh những con số biết nói từ phổ điểm thi đợt 1 năm nay, và cho rằng vùng 700 - 900 điểm có thể trở thành "chảo lửa" khi tập trung đông TS nhất, khiến mốc 700 điểm không còn là lợi thế vượt trội, và 800 điểm mới chỉ là điểm khởi đầu cho cuộc đua vào các ngành khá.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, điều đáng chú ý không nằm hoàn toàn ở số điểm, mà ở sự thay đổi căn bản cách thức tuyển sinh năm nay của nhiều trường.
Tiến sĩ Phạm Tấn Hạ nhìn nhận: "Phổ điểm thi chưa đủ cơ sở để đánh giá mức độ cạnh tranh hoặc xu hướng điểm chuẩn trong xét tuyển. Năm nay, vấn đề quan trọng còn nằm ở việc thay đổi phương thức xét tuyển, khi mà nhiều trường chuyển sang xét tuyển kết hợp đồng thời nhiều tiêu chí. Điểm chuẩn được xác định trên nhiều yếu tố, trong đó riêng cách tính điểm xét tuyển còn phụ thuộc cả điểm thi tốt nghiệp THPT, điểm học bạ…". Do đó, theo tiến sĩ Hạ, điểm chuẩn sẽ khó đoán với những trường lần đầu áp dụng cách thức tuyển sinh mới; tuy nhiên TS có điểm cao bài thi ĐGNL sẽ có nhiều lợi thế trong xét tuyển, đặc biệt những trường tính trọng số cao với điểm bài thi này, ví dụ Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM).
Thạc sĩ Phùng Quán cũng nhấn mạnh: "Năm 2026, nhiều trường chuyển sang mô hình xét tuyển tổng hợp, kết hợp điểm ĐGNL với học bạ và các tiêu chí khác. Khi đó, điểm thi năng lực không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà trở thành một thành phần trong tổng thể hồ sơ".
Chuyên gia này cho rằng điểm chuẩn theo điểm ĐGNL thuần sẽ khó dự báo, vì hai TS cùng 800 điểm bài thi ĐGNL nhưng học bạ khác nhau sẽ tạo ra hai vị trí cạnh tranh khác nhau. Nhóm bị ảnh hưởng mạnh nhất là vùng giữa phổ điểm, trong khoảng 700 - 850 điểm. Đây là vùng năm nay tăng đông nhất nhưng khi xét tổng hợp, nhóm này sẽ bị phân hóa tiếp bởi học bạ. Nhóm TS đạt từ 900 điểm trở lên vẫn có lợi thế lớn, nhưng không tuyệt đối như trước, vì phổ điểm năm nay cho thấy 900 điểm trở lên chiếm khoảng 6% TS, tức không còn quá hiếm.
"Quan trọng vẫn là biến động sẽ khác nhau giữa các trường, các ngành. Ngành "hot" sẽ bị ảnh hưởng mạnh nhất vì TS dồn đông ở vùng 800 - 900 điểm. Ngành trung bình sẽ có hiện tượng "mềm hơn dự đoán", vì phần chênh được giãn sang học bạ", thạc sĩ Quán nhận định.
Tin Gốc: Thanh Niên

