Tính đến nay Việt Nam đã tham gia khoảng 20 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 16 FTA đã được thực thi trong thời gian dài.
Các FTA thế hệ mới như CPTPP (Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) hay EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu) mở ra cơ hội lớn khi nhiều thị trường áp thuế nhập khẩu gạo ở mức 0% hoặc rất thấp.
Tuy nhiên thực tế cho thấy xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào các thị trường truyền thống trong khu vực như Philippines và Indonesia – những quốc gia áp thuế nhập khẩu khá cao – lần lượt khoảng 35% và 25%.
Đáng chú ý trong khuôn khổ RCEP (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực), Philippines không tự do hóa ngành gạo, còn Indonesia vẫn duy trì mức thuế cao. Dù vậy hai thị trường này có thời điểm chiếm tới 60% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.
Trong khi đó các thị trường thuộc CPTPP như Canada áp thuế 0% đối với gạo Việt Nam, Mexico áp 10% với gạo và 0% đối với sản phẩm từ gạo. Đặc biệt theo EVFTA, Liên minh châu Âu dành hạn ngạch 80.000 tấn gạo/năm được miễn thuế, nhưng Việt Nam vẫn chưa tận dụng hết cơ hội này.
Nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên thị trường dễ tiếp cận như Philippines, Indonesia do khoảng cách địa lý gần, thủ tục đơn giản. Tuy nhiên, theo các chuyên gia và doanh nghiệp, nguyên nhân không chỉ dừng lại ở việc “chọn dễ”.
Ông Phạm Thái Bình – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An (TP Cần Thơ) – cho rằng doanh nghiệp không phải không muốn vào các thị trường FTA, mà chủ yếu do thiếu đơn hàng và gặp nhiều rào cản kỹ thuật.
Theo ông Bình, các thị trường khó tính như châu Âu hay Nhật Bản yêu cầu quy trình sản xuất chặt chẽ, truy xuất nguồn gốc rõ ràng và chất lượng ổn định. Trong khi đó phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn này, nên thường lựa chọn thị trường truyền thống có điều kiện nhập khẩu dễ hơn.
“Bên cạnh đó ngành lúa gạo Việt Nam vẫn mang tính nhỏ lẻ, sản xuất phân tán, thiếu liên kết chuỗi. Việc đầu tư cho thương hiệu, công nghệ chế biến và tiêu chuẩn chất lượng còn hạn chế, khiến khả năng tiếp cận các thị trường cao cấp chưa tương xứng với tiềm năng”, một doanh nghiệp ngành lúa gạo thừa nhận.
Dù dễ tiếp cận, các thị trường truyền thống lại tiềm ẩn nhiều rủi ro về giá. Theo ghi nhận, đã có thời điểm doanh nghiệp Việt Nam phải chịu lỗ khi xuất khẩu gạo sang Philippines do biến động thị trường.
Lãnh đạo một doanh nghiệp xuất khẩu gạo thừa nhận nhu cầu từ Philippines và Indonesia là “nhu cầu thực”, giúp doanh nghiệp dễ tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên việc lựa chọn thị trường này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận biên lợi nhuận thấp, thậm chí rủi ro thua lỗ, trong khi áp lực về giá thường chuyển sang người nông dân.
“Ngoài ra chi phí logistics, giá xăng dầu và vật tư đầu vào tăng cao cũng ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu. Những yếu tố này khiến doanh nghiệp khó mở rộng sang các thị trường đòi hỏi đầu tư lớn về tiêu chuẩn và quy trình sản xuất”, vị này nói.
Một lãnh đạo Tập đoàn Tân Long cũng cho biết hoạt động xuất khẩu gạo vẫn diễn ra bình thường, không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thuế nhập khẩu tại các thị trường. Theo vị này, doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu theo điều kiện FOB (giao hàng lên tàu), nên trách nhiệm về thuế và thủ tục nhập khẩu thuộc về đối tác nước ngoài. Do đó doanh nghiệp không trực tiếp nắm rõ mức thuế tại từng thị trường, mà chủ yếu sản xuất và bán hàng theo nhu cầu của khách hàng.
“Điều này cho thấy hoạt động xuất khẩu gạo hiện nay vẫn mang tính “theo đơn hàng”, phụ thuộc nhiều vào nhu cầu thị trường, thay vì chủ động định hướng chiến lược khai thác các thị trường FTA”, vị này thừa nhận.
Các chuyên gia cho rằng để tận dụng hiệu quả các FTA, ngành lúa gạo Việt Nam cần chuyển đổi mạnh sang sản xuất quy mô lớn, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu. Doanh nghiệp cần đầu tư bài bản vào chuỗi sản xuất – chế biến – xuất khẩu, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc.
Đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong việc khai thác các ưu đãi từ FTA trong bối cảnh nhu cầu gạo thế giới vẫn ở mức cao, cơ hội mở rộng thị trường vẫn còn lớn. “Nếu không thay đổi cách tiếp cận, ngành gạo Việt Nam có thể tiếp tục phụ thuộc vào các thị trường “dễ tính”, với giá trị gia tăng thấp và rủi ro cao”, một chuyên gia khuyến cáo.
Ngày 7-4, Công ty cổ phần Nhiên liệu sinh học dầu khí miền Trung (BSR-BF) - đơn vị quản lý, vận hành Nhà máy nhiên liệu sinh học Dung Quất - cho biết mục tiêu đạt công suất tối đa trong tháng 4 nhằm đảm bảo nguồn cung ethanol (E100) để phối trộn xăng E10.
Trước đó, vào tháng 1-2026, nhà máy đã chính thức hoạt động trở lại sau thời gian bảo dưỡng, sửa chữa tổng thể. Ngay đầu tháng 2, lô sản phẩm ethanol đầu tiên với sản lượng hơn 462m³ đã được xuất xưởng, chuyển sang Nhà máy lọc dầu Dung Quất để phối trộn xăng sinh học.
Theo ông Phạm Văn Vượng - Giám đốc BSR-BF - quá trình vận hành được triển khai theo lộ trình thận trọng. Trong tháng 3, nhà máy duy trì ở mức 60% công suất nhằm phục vụ nuôi cấy vi sinh và tối ưu hệ thống xử lý nước thải.
Đến nay công suất đã nâng lên khoảng 75% và dự kiến chạm mốc 100% vào giữa tháng 4.
Hiện nhà máy sử dụng nguyên liệu chính là sắn lát trong nước. Song song đó, doanh nghiệp cũng chủ động phương án nhập khẩu nguyên liệu từ Lào để đảm bảo nguồn cung liên tục cho sản xuất.
Không dừng lại ở đó, BSR-BF đang nghiên cứu đa dạng hóa nguyên liệu, trong đó có kế hoạch sử dụng ngô cao sản nhập khẩu từ các thị trường như Mỹ và Brazil…
Về công nghệ, nhà máy cũng đang triển khai nhiều giải pháp kỹ thuật nhằm tối ưu hiệu suất. Trong đó có việc thay thế enzyme và men vi sinh thế hệ mới để rút ngắn thời gian lên men, tăng khả năng chuyển hóa nguyên liệu.
Đồng thời, các khâu tách và chưng cất cũng được cải tiến nhằm gia tăng sản lượng ethanol.
Để phục vụ cho hoạt động phối trộn xăng sinh học, BSR-BF đang phối hợp với Công ty lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) nâng cấp tuyến đường ống vận chuyển ethanol từ nhà máy sang khu vực cảng và khu phối trộn.
Khi hoàn thiện, sản phẩm E100 có thể được vận chuyển trực tiếp qua đường ống, giúp giảm chi phí logistics và tăng tính chủ động trong cung ứng.
Theo lãnh đạo BSR-BF, việc nhà máy vận hành trở lại, hướng đến công suất tối đa có thể sản xuất khoảng 330m³/ngày. Nguồn cung này được kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan trọng trong lộ trình mở rộng sử dụng xăng sinh học E10, qua đó góp phần đảm bảo an ninh năng lượng và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh, bền vững.
Thông tin trên được ông Lê Mạnh Hùng chia sẻ tại phiên thảo luận tổ về kinh tế xã hội, ngày 10/4.
Theo Bộ trưởng Công Thương, xung đột tại Trung Đông đã tạo ra khủng hoảng năng lượng toàn cầu lớn nhất từ 1970, trong đó Việt Nam cũng chịu tác động lớn.
Ông Hùng cho biết mục tiêu điều hành được các cấp có thẩm quyền yêu cầu trong bối cảnh hiện nay là "phải đảm bảo an ninh năng lượng". Việc này dựa trên ba trụ cột, gồm đủ nguồn cung, tổ chức phân phối không đứt gãy và đảm bảo khả năng tiếp cận của người dân, hạn chế tối đa ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô.
Bộ Công Thương đã xây dựng ba kịch bản ứng phó. Theo đó, kịch bản cơ sở thứ nhất là chiến sự kết thúc trong 4 tuần. Với kịch bản thứ hai, xung đột Trung Đông có thể kết thúc trong "4 tuần cộng 2" và kịch bản 3 là nhiều hơn 4 tuần. "Đến nay, tình hình cơ bản diễn ra theo kịch bản thứ hai", ông Hùng nói.
Với diễn biến thời gian qua, nhà điều hành đã triển khai đồng bộ 5 nhóm giải pháp, trong đó bảo đảm đủ nguồn cung trong nước, nâng số ngày dự trữ lưu thông theo quy định tại Nghị định 95 và có dự phòng nếu chiến sự tiếp tục kéo dài.
Bộ trưởng Công Thương cho biết nhờ loạt giải pháp, đến nay dự trữ xăng dầu trong nước "đã tăng từ 15 lên 26 ngày".
Tại họp báo Chính phủ tuần trước, Thứ trưởng Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết hai nhà máy lọc dầu trong nước là Dung Quất và Nghi Sơn đảm bảo đủ nguyên liệu để sản xuất đến hết tháng 4. Trong tháng 3, các thương nhân đầu mối cũng nhập khẩu 3,2 triệu m3 xăng dầu. Cùng với hàng tồn kho hiện tại (2,6-2,8 triệu m3), nguồn cung xăng dầu trong nước có thể đảm bảo cho sản xuất và tiêu dùng hết tháng này.
Hiện Việt Nam chưa có kho dự trữ xăng dầu quốc gia riêng biệt. Hàng dự trữ đang được tồn trữ tại kho của doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu lớn thông qua hợp đồng, trả phí theo định mức với các đơn vị. Mức dự trữ này chỉ khoảng 7-10 ngày tiêu thụ.
Vừa qua, Chính phủ đã giao Bộ Công Thương sớm làm việc với các đối tác nước ngoài để triển khai ngay việc xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Nghi Sơn (Thanh Hóa).
Cũng theo Bộ trưởng Hùng, hai nhà máy lọc dầu trong nước (Dung Quất và Nghi Sơn) đảm bảo công suất cao, cơ cấu lại sản phẩm (tăng sản phẩm năng lượng, giảm phi năng lượng). Đồng thời, các nhà máy ethanol trong nước cũng được phục hồi sản xuất để đưa xăng E10 vào tiêu thụ trên cả nước vào cuối tháng 4, sớm hơn một tháng so với kế hoạch. "Nếu sử dụng xăng E10 trên toàn quốc, chúng ta tự chủ xăng dầu thêm được khoảng 14%", ông Hùng nêu.
Nhờ các giải pháp ứng phó khủng hoảng, theo Bộ trưởng, Việt Nam duy trì được giá các mặt hàng xăng dầu, dầu diesel thấp hơn mức bình quân của thế giới là 1,3 USD mỗi lít, tương ứng khoảng 35.000 đồng. Giá xăng RON 95-III hiện bình quân 23.000-24.000 đồng một lít.
Trong khi đó, một số nước trong khu vực vẫn khó khăn vì đứt gãy chuỗi cung ứng. "Cách làm thời gian qua là phù hợp với giai đoạn khủng hoảng", Bộ trưởng Công Thương khẳng định.
Tính toán của Bộ Công Thương cho thấy, nhu cầu năng lượng sơ cấp của Việt Nam khoảng 119,6 triệu TOE (tấn dầu quy đổi). Trong đó, sản xuất trong nước đáp ứng được khoảng 66 triệu và nhập khẩu 53,6 triệu (gần 44%). Về lâu dài, Bộ trưởng Hùng cho rằng cần cập nhật chiến lược, quy hoạch năng lượng để giảm tỷ lệ nhập khẩu năng lượng sơ cấp xuống còn khoảng 30% vào 2030.
Từ cuối tháng 2 đến nay, giá bán lẻ xăng dầu trong nước trải qua 15 kỳ điều hành, hiện mỗi lít xăng RON 95-III là 23.540 đồng, dầu diesel 32.960 đồng. Trước đó, có thời điểm giá hai loại nhiên liệu này lên lần lượt gần 34.000 đồng và 45.000 đồng một lít.
Thảo luận sáng nay, một số đại biểu cũng đề nghị sớm xây dựng kho dự trữ xăng dầu quốc gia bởi đây là "bảo hiểm cho nền kinh tế". Phó chủ nhiệm Ủy ban Công tác Đại biểu Đặng Ngọc Huy kiến nghị Thủ tướng có các giải pháp đột phá như bố trí ngân sách, chính sách để khởi công ngay hệ thống xăng dầu quốc gia. Ông cũng đề xuất Chính phủ ban hành lộ trình cụ thể như đến năm 2028 phải đạt được mức dự trữ 60 ngày và 90 ngày vào 2030.
Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết trong tờ Chính phủ báo cáo Quốc hội cũng có phương án xây dựng dự trữ quốc gia về một số mặt hàng thiết yếu, gồm xăng dầu. Theo đó, Chính phủ đặt mục tiêu hình thành hệ thống kho dự trữ xăng dầu ít nhất 90 ngày.
Tối 5-4, Ngày hội Du lịch TP.HCM lần thứ 22 với chủ đề "Rộn ràng hè về" (Vibrant Summer Fest) chính thức bế mạc tại công viên 23-9, khép lại 4 ngày sôi động.
Phát biểu tại lễ bế mạc, ông Phạm Huy Bình, Giám đốc Sở Du lịch TP.HCM, cho biết ngày hội năm nay không chỉ đạt kết quả tích cực về quy mô mà còn tạo hiệu ứng thị trường rõ nét, góp phần kích cầu du lịch trong giai đoạn cao điểm hè.
Theo đó, lượng khách tham quan và trải nghiệm ước đạt hàng trăm nghìn lượt, phân bổ đều theo các khung giờ và tăng mạnh vào buổi tối cũng như những ngày cuối tuần.
Đáng chú ý, doanh thu từ hoạt động bán tour, dịch vụ và sản phẩm du lịch ước đạt 120 tỉ đồng.
Khoảng 1.000 sản phẩm du lịch được giới thiệu với mức ưu đãi lên đến 50%, kết hợp nhiều hình thức khuyến mại, quà tặng và bốc thăm trúng thưởng.
Trên các nền tảng số như Facebook, Instagram, TikTok và YouTube, ban tổ chức đã triển khai hơn 100 bài viết, Reels và video clip, thu hút gần 1,9 triệu lượt tiếp cận và gần 40.000 lượt tương tác từ cộng đồng doanh nghiệp, người dân và du khách.
Những con số này cho thấy sức lan tỏa mạnh mẽ của Ngày hội Du lịch TP.HCM năm 2026, đồng thời khẳng định nỗ lực quảng bá hình ảnh TP.HCM - Việt Nam như một điểm đến sống động, thân thiện và hội nhập quốc tế.
Đáng chú ý, sự tham gia tích cực của cộng đồng nhà sáng tạo nội dung trên các nền tảng số đã góp phần lan tỏa hình ảnh ngày hội thông qua nhiều video, bài đăng với góc nhìn đa dạng, sáng tạo và gần gũi, qua đó tiếp cận hiệu quả hơn nhóm công chúng trẻ.
Từ những kết quả đạt được, ngày hội tiếp tục khẳng định vai trò của TP.HCM như một trung tâm kết nối du lịch của cả nước. Không chỉ là nơi khởi đầu của các hành trình, thành phố đang dần trở thành điểm hội tụ của các nguồn lực, ý tưởng và mô hình hợp tác mới.
Với đà tăng trưởng hiện nay, ngành du lịch TP.HCM được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và nâng tầm hình ảnh Việt Nam trên bản đồ du lịch khu vực và thế giới.