Chiến dịch phong tỏa hải quân của Mỹ đối với Iran bắt đầu từ ngày 13/4 và gần như không có tiền lệ trong những thập niên gần đây. Quân đội Mỹ cũng đưa ra rất ít thông tin chi tiết về cách họ có thể thực hiện chiến dịch phong tỏa eo biển Hormuz chiến lược.
Quân đội Mỹ tuyên bố như thế nào?
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ra lệnh phong tỏa Iran và eo biển Hormuz – tuyến hàng hải huyết mạch ngăn cách vịnh Ba Tư và vịnh Oman, nơi trung chuyển phần lớn dầu mỏ của thế giới.
Ngày 13/4, Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM), cơ quan giám sát các hoạt động quân sự của Mỹ tại Trung Đông, dường như đã thu hẹp phạm vi của lệnh phong tỏa khi tuyên bố sẽ ngăn các tàu thương mại đi đến hoặc rời khỏi các cảng của Iran.
Theo một thông báo do CENTCOM gửi tới các thủy thủ trong khu vực, các chi tiết cụ thể của lệnh phong tỏa vẫn “đang được xây dựng”.
CENTCOM cho biết lệnh phong tỏa sẽ được “thực thi một cách công bằng đối với tàu của mọi quốc gia” và áp dụng cho các cảng của Iran ở cả hai phía eo biển.
Khi được hỏi lệnh phong tỏa sẽ hoạt động như thế nào trên thực tế, CENTCOM chỉ dẫn lại một thông cáo báo chí công bố lệnh phong tỏa cũng như một thông báo do tổ chức UK Maritime Trade Operations (do Hải quân Hoàng gia Anh quản lý) ban hành. Tuy nhiên, cả hai văn bản đều không nêu rõ điều gì sẽ xảy ra với các tàu thương mại nếu cố tình vượt qua lệnh phong tỏa.
Hải quân Mỹ hiện có ít nhất 15 tàu chiến tại khu vực Trung Đông gồm một tàu sân bay, 11 tàu khu trục và 3 tàu tấn công đổ bộ để có thể thực hiện lệnh phong tỏa. Hiện chưa rõ vị trí chính xác của từng con tàu hoặc tàu nào sẽ tham gia trực tiếp vào lệnh phong tỏa.
Mỹ sẽ giám sát và chặn tàu ra sao?
Các tàu khu trục của Hải quân Mỹ có thể giám sát các cảng của Iran bằng radar, theo dõi các tàu ra vào từng cảng, nhưng điều này đòi hỏi phải triển khai một số lượng lớn tàu chiến của Mỹ để bao phủ toàn bộ bờ biển dài phía nam của Iran.
Thay vào đó, Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ có thể chọn cách duy trì một đội tàu khu trục ở hai phía eo biển Hormuz để kiểm tra các tàu, đồng thời sử dụng máy bay không người lái trinh sát để giám sát các cảng của Iran.
Khi một tàu được xác định là “mục tiêu cần quan tâm”, tàu khu trục của Mỹ có thể được điều động để chặn tàu khả nghi lại. Sau khi rút ngắn khoảng cách và đưa tàu khả nghi vào tầm nhìn, tàu chiến Mỹ nhiều khả năng sẽ liên lạc qua vô tuyến hàng hải, truy vấn theo một kịch bản được chuẩn bị sẵn như điểm đến của tàu, cảng ghé gần nhất, loại hàng hóa đang chở và số lượng thủy thủ trên tàu.
Sau đó, tàu chiến của Mỹ có thể yêu cầu tàu khả nghi cho phép một “đội kiểm tra” gồm các thủy thủ lên tàu để tiến hành kiểm tra.
Trong trường hợp lý tưởng, tàu thương mại sẽ trả lời qua vô tuyến và đồng ý cho phía Mỹ lên tàu kiểm tra, điều chỉnh hướng đi và tốc độ, đồng thời thả thang dây để việc lên tàu được an toàn và thuận tiện hơn.
Hoặc tàu khả nghi có thể phớt lờ yêu cầu của tàu chiến Mỹ và tìm cách bỏ chạy.
Mark Norman, phó đô đốc hải quân Hoàng gia Canada đã nghỉ hưu và là thành viên của Viện Quan hệ Quốc tế Canada, cho biết quân đội Mỹ sẽ phải thiết lập các khu vực tuần tra bên ngoài vịnh để chặn các tàu cố gắng đi vào eo biển – một quá trình sẽ cần đến sự tham gia của nhiều tàu, trực thăng và máy bay tuần tra tầm xa.
Ông nói rằng quân đội Mỹ sẽ sử dụng thông tin có sẵn mà các tàu được yêu cầu cung cấp để biết họ đến từ đâu.
Theo ông Norman, việc kiểm tra và bắt giữ các tàu là hành động “mạo hiểm” và tiềm ẩn nguy cơ xung đột với các quốc gia mà tàu đó mang cờ.
Chuyện gì xảy ra nếu Mỹ đưa đội kiểm tra lên tàu?
Đội kiểm tra của Hải quân Mỹ có thể tiếp cận bằng xuồng máy, sau đó sử dụng thiết bị để móc thang dây vào mạn tàu khả nghi và leo lên tàu. Tuy nhiên, nhiệm vụ này sẽ khó khăn và nguy hiểm hơn nhiều trong trường hợp biển động, vào ban đêm hoặc khi tàu khả nghi tìm cách để ngăn cản phía Mỹ lên tàu kiểm tra.
Lựa chọn tối ưu khi đó là đưa đội kiểm tra lên tàu bằng trực thăng và trượt xuống boong tàu bằng dây chuyên dụng. Nếu có trực thăng và đội kiểm tra được huấn luyện bài bản, phương án này an toàn hơn và nhanh hơn nhiều so với cách móc thang dây và leo lên từ xuồng máy.
Gần đây, các đội Thủy quân lục chiến và Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Mỹ thường xuyên sử dụng phương pháp đu dây nhanh để lên kiểm tra các tàu chở dầu ở vùng Caribe nghi vận chuyển dầu của Venezuela. Tuy nhiên, việc tạm giữ các tàu chở dầu này đã khiến Mỹ tốn hàng chục triệu USD, và chính quyền Tổng thống Trump không thể bán số dầu đó nếu không có sự cho phép của thẩm phán.
Hải quân Mỹ có kinh nghiệm trong việc phong tỏa vịnh Ba Tư không?
Hải quân Mỹ có hơn một thập niên kinh nghiệm.
Sau Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, Liên hợp quốc thiết lập một cơ chế cho phép Iraq xuất khẩu dầu với điều kiện nguồn thu từ việc bán dầu phải phục vụ cho lợi ích người dân nước này – thường được gọi là chương trình “đổi dầu lấy lương thực”.
Các tàu chiến của Hải quân Mỹ thường xuyên kiểm tra các tàu chở dầu bị nghi buôn lậu dầu Iraq ra khỏi vịnh Ba Tư cho đến khi Mỹ mở chiến dịch quân sự vào Iraq năm 2003.
Phần lớn các cuộc kiểm tra này được cho là “hợp tác” – thuật ngữ của Hải quân Mỹ để chỉ việc các tàu bị kiểm tra hợp tác với phía Mỹ.
Các đội thủy thủ Mỹ nhỏ sẽ được bố trí lên các tàu chở dầu bị nghi buôn lậu, sau đó họ sẽ lái tàu đến các khu neo đậu tạm thời trong Vùng Vịnh được đặt mật danh theo các sân vận động bóng chày như Fenway và Comiskey, nơi tàu sẽ thả neo.
Cuối cùng, các tàu sẽ được đưa đến một cảng trong khu vực, nơi quốc gia sở tại sẽ bán dầu để bù đắp chi phí tiếp nhận tàu và thủy thủ đoàn. Các tàu chở dầu sau đó được bán đấu giá, thường được mua lại bởi chính công ty từng sở hữu chúng trước đó.
Quy trình này diễn ra như một “vòng lặp liên hồi”.
Những thỏa thuận mới cho phép Chevron tăng cổ phần từ 35,8% lên 49% trong Petroindependencia, một trong những liên doanh giữa Chevron và công ty dầu khí nhà nước PDVSA của Venezuela.
Petroindependencia đang khai thác dầu từ Vành đai Orinoco của Venezuela, một trong những mỏ dầu lớn nhất thế giới. Đổi lại, Chevron sẽ chuyển giao một số quyền khai thác khí đốt ngoài khơi cho phía Venezuela và giảm cổ phần trong một số liên doanh khác.
Việc hoán đổi tài sản giữa Chevron và PDVSA là "một thỏa thuận cùng có lợi, sẽ củng cố sự tập trung của tất cả các bên vào những tài sản chiến lược" ở Venezuela, theo Reuters dẫn thông cáo báo chí từ tập đoàn Mỹ. Các giám đốc điều hành của Chevron hồi tháng 1 cho hay tập đoàn này có thể tăng sản lượng tại Venezuela khoảng 50% trong hai năm tới trong phạm vi hoạt động hiện có. Các liên doanh của Chevron với PDVSA đang sản xuất 260.000 thùng dầu thô/ngày, chiếm khoảng 25% tổng sản lượng ở Venezuela.
Tổng thống lâm thời Venezuela Delcy Rodriguez khẳng định hai thỏa thuận mới sẽ cho phép Venezuela và Chevron "tiến tới việc tăng sản lượng và đảm bảo doanh thu vì lợi ích của người dân". Hai thỏa thuận này nằm trong số những thỏa thuận mở rộng lớn đầu tiên kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố kế hoạch đầu tư 100 tỉ USD từ các công ty dầu khí Mỹ để tái thiết ngành năng lượng của Venezuela. Kế hoạch đó được đưa ra sau khi lực lượng Mỹ bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro và một cuộc sửa đổi luật dầu mỏ của nước này đã được thông qua vào tháng 1, khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài.
Đến tối qua (4.4, theo giờ VN), số phận phi công điều khiển máy bay tiêm kích F-15 của Mỹ vẫn chưa rõ.
Trước đó, chiều tối 3.4 (theo giờ VN), Lực lượng Vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) tuyên bố bắn rơi thêm một máy bay tiêm kích tàng hình F-35 của Mỹ, nhưng kết quả xác minh sau thì chiến đấu cơ bị bắn hạ là dòng F-15. Chiến đấu cơ này được điều khiển bởi 2 thành viên phi hành đoàn. Trong đó, người phụ trách điều khiển vũ khí của chiến đấu cơ đã được giải cứu thành công, còn phi công trực tiếp điều khiển máy bay thì chưa rõ số phận giữa bối cảnh người này đang bị Iran ra sức truy lùng. Vụ việc tạo ra những thách thức quân sự và ngoại giao cho Mỹ. Vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn nếu phi công Mỹ bị Iran bắt làm tù binh.
Tiếp đến, Iran cũng đã bắn trúng 2 trực thăng UH-60 Blackhawk tham gia tìm kiếm và cứu nạn thành viên phi hành đoàn chiếc F-15. Một số binh sĩ trên 2 trực thăng UH-60 Blackhawk bị thương nhẹ nhưng tất cả đều an toàn.
Không những vậy, đến rạng sáng 4.4, 1 chiếc máy bay cường kích A-10 Thunderbolt II đã bị Iran bắn trúng. Tuy nhiên, phi công đã kịp điều khiển chiếc A-10 ra khỏi lãnh thổ Iran, rồi nhảy dù và được giải cứu. Quân đội Iran tuyên bố chiếc máy bay rơi xuống vịnh Ba Tư sau khi bị hệ thống phòng không của nước này bắn ở gần eo biển Hormuz.
Tờ The Washington Post dẫn lời chuẩn tướng không quân về hưu Houston Cantwell (Mỹ) cho biết lần cuối cùng một chiến đấu cơ của Mỹ bị bắn hạ trong chiến đấu là chiếc A-10 Thunderbolt II. Vụ việc xảy ra trong cuộc chiến Iraq năm 2003. Chính vì thế, việc chiếc F-15 vừa bị bắn hạ được cho là điều chưa từng xảy ra với không quân Mỹ trong hơn 20 năm qua.
Nhận xét về vụ việc, ông Behnam Ben Taleblu, Giám đốc cấp cao chương trình Iran tại Quỹ bảo vệ dân chủ - một tổ chức tư vấn chính sách ở Washington (Mỹ), đánh giá nhiều khả năng phía Iran đã sử dụng tên lửa đối không vác vai để bắn hạ chiếc F-15. Khi tác chiến, chiến đấu cơ có thể phải bay rất thấp.
Bộ Tư lệnh trung tâm Mỹ (CENTCOM) ngày 1.4 công bố quân đội nước này đã tiến hành hơn 13.000 lượt không kích trong cuộc tấn công Iran từ ngày 28.2, và đã đánh trúng 12.300 mục tiêu.
Mỹ cũng đã tự tin rằng đã vô hiệu hóa hoàn toàn hệ thống phòng không Iran. Cách đây vài ngày, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth cho biết hệ thống phòng không của Iran đã bị phá hủy đến mức Mỹ triển khai máy bay ném bom B-52 dễ dàng tấn công lãnh thổ nước này. Ra đời và chiến đấu hơn 70 năm, oanh tạc cơ B-52 có ưu thế mang lượng vũ khí lớn, nhưng tốc độ bay chậm hơn các dòng oanh tạc cơ hiện đại và cũng thiếu khả năng tàng hình. Việc tăng cường triển khai B-52 trực tiếp tấn công cho thấy Mỹ tự tin đã phá hủy năng lực phòng không của Iran.
Chính vì thế, việc F-15 bị bắn hạ là lời cảnh báo cho không quân Mỹ trong cuộc chiến chưa hạ nhiệt ở Iran, nhất là khi Tổng thống Trump đe dọa sẽ sử dụng không quân để đưa đối phương "về thời kỳ đồ đá".
Bên cạnh đó, một điểm nghẽn khác của cuộc chiến là eo biển Hormuz - nơi Iran đang phong tỏa để gây áp lực với Mỹ. Để "mở cửa" Hormuz, Mỹ nhiều khả năng có thể sử dụng sức mạnh quân sự. Với giải pháp này, máy bay cường kích A-10 đóng vai trò quan trọng để có thể triệt hạ các ổ tấn công di động mà Iran có thể triển khai ở vùng núi dọc eo biển Hormuz. Các máy bay này cần tiến hành các phi vụ liên tục và đảm bảo một chuỗi tiêu diệt chặt chẽ để có thể nhanh chóng vô hiệu hóa các mục tiêu. Dòng máy bay cường kích này cũng là vũ khí hữu hiệu để hỗ trợ lực lượng Mỹ nếu đổ bộ lên đảo Kharg của Iran. Thực tế, từ ngày 1.4, tờ The New York Times dẫn lời quan chức Mỹ Lầu Năm Góc đang điều động thêm 18 cường kích A-10 để gia nhập 12 chiếc A-10 hiện có ở Trung Đông.
Song song là lớp phòng thủ với trực thăng vũ trang để thiết lập lực lượng yểm trợ chống lại tàu tấn công nhanh, tàu không người lái của Iran. Có như thế, Mỹ mới hạn chế việc các tàu chiến bị tập kích ở vùng biển này. Tuy nhiên, với việc 2 chiến đấu cơ bị bắn hạ và 2 máy bay trực thăng bị tấn công chỉ trong 1 ngày khiến các toan tính trên của Washington gặp thách thức lớn.
Theo Hãng tin AFP, Thủ tướng Ý Giorgia Meloni ngày 14-4 kêu gọi đẩy mạnh đàm phán hòa bình nhằm chấm dứt xung đột giữa Mỹ và Iran, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải sớm mở lại eo biển Hormuz - tuyến vận tải năng lượng quan trọng bậc nhất thế giới.
Phát biểu với báo giới tại thành phố Verona (miền bắc Ý), bà Meloni cho rằng việc ổn định tình hình khu vực là ưu tiên cấp bách, trong đó việc khơi thông eo biển Hormuz có ý nghĩa sống còn với nước này, không chỉ với nguồn cung nhiên liệu mà còn cả phân bón.
"Cần phải tiếp tục nỗ lực để thúc đẩy đàm phán hòa bình, làm mọi cách có thể để ổn định tình hình và mở lại eo biển (Hormuz)", bà nói.
Eo biển Hormuz hiện là một trong những tuyến hàng hải "huyết mạch" toàn cầu, nơi trung chuyển 20% lượng dầu mỏ xuất khẩu từ Trung Đông. Do đó bất kỳ gián đoạn nào tại đây đều có thể gây biến động lớn cho thị trường năng lượng và chuỗi cung ứng quốc tế.
Đặc biệt cùng ngày, bà Meloni cũng thông báo Ý sẽ đình chỉ thỏa thuận quốc phòng với Israel, trong bối cảnh tình hình khu vực diễn biến phức tạp.
Cụ thể, Rome sẽ không còn tự động gia hạn thỏa thuận hợp tác quốc phòng với Israel. Quyết định này được đưa ra như một phản ứng trước những căng thẳng địa chính trị hiện nay.
Theo báo Corriere della Sera, thỏa thuận này được khởi động từ năm 2005 và tự động gia hạn mỗi 5 năm, nhằm thúc đẩy các thỏa thuận thương mại giữa Ý và Israel, đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng, tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu công nghệ và trao đổi thiết bị quân sự.
Động thái của Ý cho thấy các nước châu Âu đang ngày càng thận trọng trước nguy cơ xung đột lan rộng tại Trung Đông, đồng thời thúc đẩy các giải pháp ngoại giao nhằm hạ nhiệt căng thẳng.
Trong khi đó một quan chức Pakistan cho biết nước này cam kết tham gia đàm phán hòa bình "bao nhiêu vòng cũng được". Phát biểu với kênh Al Jazeera, người này khẳng định Islamabad sẵn sàng đăng cai tiến trình đàm phán nhằm hướng tới hòa bình, bất kể phải trải qua bao nhiêu vòng.