Khi thời tiết oi bức, cơ thể phải tăng cường tiết mồ hôi để làm mát, kéo theo nguy cơ mất nước và điện giải. Điều này khiến nhiều người rơi vào trạng thái mệt mỏi, giảm tập trung, thậm chí có thể bị say nắng.
Ngoài các biện pháp như hạn chế rượu bia, giảm caffeine hay giữ không gian sống thông thoáng, chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cơ thể thích nghi với nhiệt độ cao ngày nắng nóng.
Dưới đây là những thực phẩm quen thuộc, dễ bổ sung vào bữa ăn hằng ngày, có thể giúp cơ thể cảm thấy dễ chịu hơn trong mùa nóng.
Dưa hấu: Dưa hấu chứa hơn 90% là nước, giúp bù lại lượng nước mất đi khi cơ thể đổ mồ hôi. Ngoài ra, loại quả này còn cung cấp vitamin C, kali và magiê, góp phần cân bằng điện giải và hỗ trợ hoạt động của hệ tim mạch.
Các vitamin nhóm B trong dưa hấu cũng tham gia vào quá trình chuyển hóa năng lượng, giúp giảm cảm giác uể oải khi thời tiết nắng nóng kéo dài.
Dưa chuột: Đây là lựa chọn phổ biến trong mùa hè nhờ hàm lượng nước cao và giàu chất xơ. Sự kết hợp này giúp cơ thể vừa được cấp nước vừa hỗ trợ tiêu hóa, hạn chế cảm giác đầy bụng khó chịu.
Dưa chuột còn cung cấp vitamin C, vitamin K và vitamin B6, giúp duy trì sức khỏe tổng thể mà không làm tăng gánh nặng chuyển hóa.
Hành tây đỏ: Bổ sung chất chống oxy hóa. Hành tây đỏ chứa quercetin, một hợp chất chống oxy hóa có thể hỗ trợ cơ thể trước tác động của nhiệt độ cao. Một số nghiên cứu cho thấy quercetin có thể góp phần giảm nguy cơ say nắng, dù vẫn cần thêm bằng chứng khoa học để khẳng định.
Ngoài ra, hành tây còn cung cấp chất xơ và nhiều vi chất có lợi cho hệ miễn dịch và tim mạch.
Nước dừa: Bù nước và điện giải hiệu quả. Nước dừa được xem là thức uống giải nhiệt tự nhiên nhờ chứa các chất điện giải như kali, natri, magiê và canxi.
Những thành phần này giúp cơ thể phục hồi nhanh sau khi mất nước do vận động hoặc thời tiết nóng.
Một số nghiên cứu cũng ghi nhận nước dừa dễ hấp thu hơn và ít gây khó chịu dạ dày so với một số loại đồ uống thể thao.
Trái cây họ cam quýt: Giàu vitamin và hỗ trợ tiêu hóa. Các loại trái cây họ cam quýt như cam, bưởi, chanh chứa nhiều nước và vitamin C, giúp tăng cường khả năng chống oxy hóa của cơ thể. Điều này đặc biệt hữu ích khi cơ thể phải đối mặt với stress nhiệt.
Hàm lượng chất xơ trong nhóm thực phẩm này cũng giúp hệ tiêu hóa hoạt động hiệu quả hơn, từ đó giảm cảm giác nặng nề trong thời tiết nóng.
Quả bơ: Hỗ trợ chuyển hóa và giảm sinh nhiệt. Quả bơ cung cấp chất béo không bão hòa và chất xơ, giúp quá trình tiêu hóa diễn ra ổn định hơn. Khi hệ tiêu hóa hoạt động hiệu quả, cơ thể sẽ ít sinh nhiệt hơn trong quá trình chuyển hóa thức ăn.
Bơ có thể được kết hợp linh hoạt trong nhiều món ăn, từ salad đến các bữa ăn nhẹ giàu dinh dưỡng.
Bạc hà: Tạo cảm giác mát tự nhiên. Bạc hà chứa menthol, hợp chất có khả năng kích hoạt các thụ thể cảm nhận lạnh trong khoang miệng. Nhờ đó, bạc hà mang lại cảm giác mát mẻ nhanh chóng, giúp giảm cảm giác nóng bức trong những ngày hè.
Bạn có thể thêm bạc hà vào nước uống, salad hoặc các món ăn lạnh để tăng hiệu quả làm mát.
Không có thực phẩm nào có thể thay thế hoàn toàn các biện pháp chống nóng, nhưng chế độ ăn giàu nước, dễ tiêu hóa và bổ sung điện giải sẽ giúp cơ thể duy trì trạng thái ổn định hơn.
Kết hợp dinh dưỡng hợp lý với việc ngủ đủ giấc, uống đủ nước và hạn chế tiếp xúc với nhiệt độ cao sẽ giúp bạn vượt qua mùa hè một cách dễ chịu và an toàn.
Việc kết hợp thuốc, phục hồi chức năng và các can thiệp chuyên sâu đang giúp người bệnh sống chủ động lâu dài nếu được phát hiện sớm và theo dõi đúng cách. Tuy nhiên, các dấu hiệu ban đầu như run tay nhẹ, chậm vận động, giảm linh hoạt thường diễn ra âm thầm, dễ bị nhầm với thay đổi tuổi tác, khiến nhiều trường hợp chẩn đoán muộn.
Nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng, nhân ngày Parkinson Thế giới, Trung tâm Truyền thông phối hợp cùng Đơn nguyên Rối loạn vận động - Khoa Thần kinh, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM tổ chức chương trình sinh hoạt cộng đồng với chủ đề “Chẩn đoán và điều trị bệnh Parkinson”. Chương trình cung cấp kiến thức y khoa, đồng thời tạo không gian kết nối để người bệnh và gia đình chia sẻ kinh nghiệm, nâng cao tinh thần và tuân thủ điều trị.
Phát biểu tại chương trình, bác sĩ chuyên khoa 2 Lê Minh, Ban Chuyên gia, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, cho biết Parkinson là bệnh mạn tính, tiến triển chậm nhưng kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến vận động và chất lượng cuộc sống. Trong quá trình điều trị, sự phối hợp giữa người bệnh, gia đình và bác sĩ đóng vai trò then chốt. Người bệnh cần hiểu đúng và tuân thủ điều trị, gia đình hỗ trợ tâm lý, sinh hoạt, trong khi bác sĩ hướng dẫn và điều chỉnh phác đồ phù hợp.
Theo thạc sĩ - bác sĩ Võ Ngọc Chung Khang, Khoa Thần kinh, Parkinson là bệnh thoái hóa thần kinh thường gặp ở người lớn tuổi, với các triệu chứng điển hình như run khi nghỉ, đơ cứng, chậm vận động và mất thăng bằng. Khi bệnh tiến triển, người bệnh có thể xuất hiện thêm các triệu chứng ngoài vận động, khiến việc điều trị phức tạp hơn. Vì vậy, nhận diện sớm có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát bệnh.
Về điều trị, thạc sĩ - bác sĩ Hà Ngọc Lê Uyên, Khoa Thần kinh, cho biết Parkinson hiện chưa thể chữa khỏi hoàn toàn, nên việc dùng thuốc cần duy trì lâu dài và điều chỉnh theo từng giai đoạn. Người bệnh phải tuân thủ đúng liều, đúng thời điểm, tránh tự ý thay đổi hoặc ngưng thuốc. Phác đồ điều trị cần được cá thể hóa để kiểm soát triệu chứng và duy trì khả năng sinh hoạt.
Bên cạnh thuốc, phục hồi chức năng đóng vai trò quan trọng. Cử nhân Bùi Đức Huy, Khoa Phục hồi chức năng, cho biết các bài tập nên được thực hiện sớm và duy trì xuyên suốt, giúp cải thiện dáng đi, thăng bằng và khả năng vận động, từ đó giảm nguy cơ té ngã và nâng cao chất lượng sống.
Trong quá trình điều trị, tiến sĩ - bác sĩ Đặng Thị Huyền Thương, Khoa Thần kinh, lưu ý người bệnh có thể gặp biến chứng do levodopa như dao động vận động hoặc loạn động. Những thay đổi này cần được nhận diện sớm để điều chỉnh phác đồ phù hợp, có thể kết hợp thêm thuốc hoặc các phương pháp can thiệp khác.
Đối với một số trường hợp phù hợp, phẫu thuật kích thích não sâu là lựa chọn hiện đại. Tiến sĩ - bác sĩ Trần Ngọc Tài, Phó trưởng Khoa Thần kinh, Trưởng đơn nguyên Rối loạn vận động, cho biết phương pháp này giúp điều chỉnh tín hiệu thần kinh, cải thiện rõ các triệu chứng như run, đơ cứng và chậm vận động, nếu được chỉ định đúng thời điểm.
Không chỉ cung cấp kiến thức, chương trình còn tạo không gian kết nối với các hoạt động văn nghệ, hướng dẫn tập luyện và giao lưu với chuyên gia. Qua đó, người bệnh được chia sẻ, nâng cao tinh thần và thêm động lực trong hành trình điều trị...
Trong y khoa, căn bệnh này có tên khoa học là Melioidosis, hay còn gọi là bệnh Whitmore. Khi vi trùng xâm nhập, nó gây ra những triệu chứng rất dễ nhầm lẫn các bệnh thông thường giống viêm phổi: sốt cao, lạnh run, ho, khó thở; giống bệnh lao: sốt nhẹ kéo dài, sụt cân, ho dai dẳng; giống viêm da: nổi mụn mủ, áp xe, sưng đau ngoài da.
Nguy hiểm nhất là khi vi trùng đi vào máu gây nhiễm trùng huyết. Lúc này, bệnh diễn tiến cực nhanh, gây suy đa tạng, khiến bác sĩ và người nhà nhiều khi không kịp trở tay. Tỉ lệ tử vong của căn bệnh này có nơi lên đến 40%, một con số rất đáng giật mình.
Vi trùng gây bệnh sốt đất có tên Burkholderia pseudomallei. Nó sống rất dai trong đất ẩm và nước bẩn. Nó vào cơ thể chúng ta qua ba con đường chính:
1 Qua da: Đây là đường phổ biến nhất. Chỉ cần một vết trầy xước nhỏ xíu khi lội ruộng, làm vườn mà tiếp xúc với bùn đất bẩn, vi trùng sẽ theo đó mà vào.
2 Qua đường thở: Hít phải bụi đất chứa vi trùng, nhất là sau những trận mưa lớn hoặc giông lốc.
3 Qua đường ăn uống: Sử dụng nguồn nước ao hồ chưa qua xử lý, không đảm bảo vệ sinh.
Hiện nay, chúng ta chưa có vắc xin phòng ngừa bệnh Whitmore. Việc điều trị cũng cực kỳ gian nan, đòi hỏi phải dùng kháng sinh mạnh truyền tĩnh mạch liên tục ít nhất hai tuần, sau đó phải uống thuốc duy trì cả nửa năm trời để tránh tái phát.
Vì vậy, bà con mình nên nhớ nguyên tắc bệnh hơn chữa bệnh, bằng 4 biện pháp đơn giản sau:
- Bảo hộ kỹ càng: Khi ra ruộng, xuống mương hay làm vườn, ráng mang ủng và găng tay cao su.
- Sơ cứu ngay vết thương: Nếu lỡ bị trầy xước, hãy rửa sạch bằng xà phòng dưới vòi nước chảy, sát trùng ngay và hạn chế để vết thương tiếp xúc với bùn đất cho đến khi lành hẳn.
- Ăn chín, uống sôi: Tuyệt đối không dùng nước chưa qua xử lý để ăn uống, sinh hoạt. Thực phẩm thủy sinh phải ngâm rửa qua nước muối. Đặc biệt là nhóm nguy cơ cao: những người có bệnh nền như đái tháo đường, bệnh thận mãn tính hay nghiện rượu thì sức đề kháng yếu hơn, nếu mắc bệnh này sẽ rất nặng.
"Chi phí khám chữa bệnh gia tăng mạnh, đặc biệt từ các bệnh mạn tính không lây nhiễm như tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch, rối loạn chuyển hóa đang tạo áp lực ngày càng lớn lên quỹ bảo hiểm y tế (BHYT)", Phó Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Đức Hòa nói tại hội thảo Hướng tới hệ thống bảo hiểm y tế bền vững tại Việt Nam, do cơ quan này phối hợp với Đại sứ quán Đan Mạch và Novo Nordisk Việt Nam tổ chức hôm 16/4 tại Hà Nội.
Báo cáo của BHXH Việt Nam tại hội thảo cho thấy năm 2025 cả nước có gần 98 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ hơn 95% dân số. Tổng số lượt khám chữa bệnh BHYT vượt 195 triệu, tăng 6,5% so với năm trước, trong khi chi phí đề nghị thanh toán lên tới 166.400 tỷ đồng, tăng hơn 16%.
Đáng chú ý, phần lớn chi phí đến từ các bệnh mạn tính. Quỹ BHYT hiện chi trả cho gần 8 triệu người tăng huyết áp, hơn 3,3 triệu bệnh nhân đái tháo đường, trên 1,1 triệu người mắc bệnh hô hấp mạn tính và khoảng 500.000 bệnh nhân ung thư. Riêng nhóm bệnh không lây nhiễm ghi nhận khoảng 51 triệu lượt khám, với tổng chi gần 20.000 tỷ đồng, tăng gần 18%.
PGS Vũ Thị Thanh Huyền, Trưởng khoa Nội tiết – Cơ xương khớp, Bệnh viện Lão khoa Trung ương, cho hay bệnh đái tháo đường và các rối loạn chuyển hóa không còn xuất hiện đơn lẻ mà thường đi kèm nhiều bệnh lý tim mạch, thận, làm chi phí điều trị tăng vọt và tạo áp lực lớn lên quỹ BHYT. Tại Việt Nam, điểm đáng lo ngại là phần lớn chi phí điều trị không nằm ở giai đoạn sớm mà tập trung vào xử lý biến chứng.
"Bệnh nhân thường không mắc một bệnh riêng lẻ mà đi kèm 2–3 bệnh như tim mạch, thận, rối loạn chuyển hóa", bà Huyền nói, dẫn chứng khoảng 55% bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng tim mạch, 1/3 tiến triển thành bệnh thận mạn. Hơn 80% trường hợp được phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn, khiến chi phí điều trị tăng gấp nhiều lần, thậm chí phải lọc máu hoặc can thiệp chuyên sâu.
Một trong những nguyên nhân chính là tỷ lệ kiểm soát bệnh còn thấp. Hiện chỉ dưới 30% bệnh nhân đạt mục tiêu đường huyết, làm gia tăng nguy cơ biến chứng và kéo theo chi phí tích lũy lớn. Đáng chú ý, thừa cân và béo phì là yếu tố nguy cơ nổi bật. Khoảng 90% bệnh nhân đái tháo đường type 2 có tình trạng này, liên quan đến lối sống ít vận động, chế độ ăn giàu năng lượng và áp lực công việc.
Ông Erik Wiebols, Tổng Giám đốc Novo Nordisk Việt Nam, cho hay các bệnh mạn tính hiện chiếm hơn 70% gánh nặng bệnh tật và trên 80% số ca tử vong tại Việt Nam. Điều này cho thấy sự cần thiết cấp bách của việc chuyển hướng từ điều trị sang phòng ngừa và quản lý bệnh một cách sớm, toàn diện và bền vững. Việc kiểm soát hiệu quả các bệnh lý rối loạn chuyển hóa như béo phì, đái tháo đường, tim mạch và bệnh thận mạn không chỉ giúp giảm biến chứng lâu dài mà còn tối ưu nguồn lực BHYT, giảm chi phí xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy hiệu quả của cách tiếp cận này. Một số quốc gia đã triển khai mô hình phân tầng nguy cơ, can thiệp sớm với nhóm nguy cơ trung bình nhằm tránh chuyển nặng, qua đó giảm chi phí điều trị dài hạn. Như ở Thái Lan, các bệnh không lây nhiễm như béo phì, đái tháo đường đang tạo gánh nặng kinh tế khổng lồ, buộc chính sách y tế phải chuyển hướng sang phòng ngừa sớm và quản lý toàn dân.
PGS Petch Rawdaree, Chủ tịch Liên đoàn Hiệp hội Phòng chống Bệnh không lây nhiễm (Thái Lan), cho biết nước này áp dụng cách tiếp cận phân tầng nguy cơ dân số thành ba nhóm: nguy cơ thấp (khoảng 50%), nguy cơ trung bình (35-40%) và nguy cơ cao. Nhóm nguy cơ trung bình được coi là "điểm chặn" quan trọng, hiện chiếm khoảng 30-35% chi phí y tế. Trong khi đó, nhóm nguy cơ cao dù chỉ chiếm khoảng 5% dân số nhưng lại gánh tới 40-55% tổng chi phí y tế.
Chính sách của Thái Lan vì vậy tập trung đồng thời vào nhiều trụ cột, nâng cao sức khỏe cộng đồng, tăng cường y tế cơ sở, sàng lọc sớm, quản lý liên tục và huy động sự tham gia của toàn xã hội, từ chính phủ đến khu vực tư nhân. "Chiến lược hiệu quả nhất là ngăn họ chuyển nặng, thay vì chỉ tập trung điều trị nhóm đã có biến chứng", ông nói.