Đó là nội dung đáng chú ý của dự thảo thông tư quy định trình tự, thủ tục kiểm định, miễn kiểm định lần đầu cho xe cơ giới, xe máy chuyên dùng; trình tự, thủ tục chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới cải tạo, xe máy chuyên dùng cải tạo; trình tự, thủ tục kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy đang được Bộ Xây dựng lấy ý kiến góp ý.
Dự thảo thông tư vẫn giữ nguyên chu kỳ kiểm định khí thải xe máy có thời gian sản xuất dưới 5 năm là 60 tháng, xe từ 5 năm đến 12 năm là 24 tháng, xe trên 12 năm là 12 tháng như thông tư 47/2024/TT-BGTVT.
Theo quy định hiện hành, với xe máy có thời gian tính từ năm sản xuất đến 5 năm, chủ xe không phải nộp hồ sơ kiểm định khí thải và không phải mang xe đến cơ sở đăng kiểm để đo khí thải.
Cục Đăng kiểm sẽ tra cứu dữ liệu của cơ quan này về giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe, kết hợp cơ sở dữ liệu về đăng ký xe của Bộ Công an để cấp giấy chứng nhận kiểm định khí thải lần đầu cho xe.
Với xe máy đã sản xuất trên 5 năm, chủ xe phải mang xe đến cơ sở đăng kiểm, xuất trình giấy tờ đăng ký xe để kiểm định khí thải.
Tuy nhiên theo dự thảo thông tư, xe máy dưới hay trên 5 năm tuổi đều được quy định chặt chẽ hơn về hồ sơ kiểm định lần đầu, nhằm phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và việc thực hiện thủ tục trên môi trường điện tử.
Theo đó, xe kiểm định lần đầu cần phải nộp hồ sơ gồm: bản chụp, bản chà số khung số máy; bản sao phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng (xe sản xuất, lắp ráp trong nước), giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (xe nhập khẩu) trong trường hợp mà dữ liệu của Cục Đăng kiểm Việt Nam chưa chia sẻ được; hai ảnh chụp xe chéo góc thể hiện rõ biển số xe (thể hiện thời gian thực khi chụp); bản chính giấy chứng nhận cải tạo của xe (đối với xe cải tạo) đối với trường hợp dữ liệu về cải tạo của xe chưa chia sẻ được từ Cục Đăng kiểm.
Bên cạnh đó, chủ xe phải xuất trình giấy đăng ký xe, giấy tờ về chủ xe (là một trong các giấy tờ: bản chính căn cước công dân hoặc căn cước điện tử tích hợp trên tài khoản định danh mức độ 2 trở lên).
Chủ xe lựa chọn bất kỳ cơ sở đăng kiểm nào trên phạm vi cả nước để nộp 1 bộ hồ sơ theo quy định tương ứng trực tuyến hoặc nộp trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính tới cơ sở đăng kiểm.
Với xe máy kiểm định khí thải lần đầu có thời gian không quá 5 năm từ ngày sản xuất, chủ xe chỉ nộp hồ sơ mà không phải mang xe đến cơ sở đăng kiểm.
Từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ sở đăng kiểm sẽ cấp giấy chứng nhận kiểm định khí thải cho chủ xe trong 3 giờ làm việc (bản giấy cho chủ xe nộp hồ sơ giấy, bản điện tử cho chủ xe nộp hồ sơ trực tuyến).
Đối với xe máy có thời gian quá 5 năm từ ngày sản xuất, khi thực hiện kiểm định khí thải lần đầu, ngoài hồ sơ, chủ xe phải mang xe đến cơ sở đăng kiểm. Hồ sơ đạt yêu cầu, cơ sở đăng kiểm sẽ thực hiện kiểm định khí thải, cấp giấy chứng nhận kiểm định.
Với xe kiểm định khí thải định kỳ, cần phải xuất trình giấy đăng ký xe, giấy tờ về chủ xe, bản chính giấy chứng nhận cải tạo xe (đối với xe cải tạo mà dữ liệu về cải tạo của xe chưa chia sẻ được từ Cục Đăng kiểm)
Subaru Forester phiên bản 2.0 iL EyeSight hiện giao dịch ở mức 869 triệu đồng, thấp hơn giá niêm yết 230 triệu đồng. Với bản iS EyeSight, giá bán đến tay khách hàng ở mức 919 triệu đồng, giảm 280 triệu đồng so với giá gốc.
Số lượng những mẫu Forester nhập khẩu Thái Lan còn khá ít. Các đại lý dự đoán lô xe này có thể được bán hết trong quý II.
Forester thế hệ mới nhập khẩu Nhật Bản (1,299-1,399 tỷ đồng) đã mở bán từ cuối 2025. Nhà máy của Subaru tại Thái Lan đã ngưng hoạt động. Hiện toàn bộ dải sản phẩm của Subaru bán tại Việt Nam đều nhập từ Nhật.
Với giá bán 869-919 triệu đồng, Subaru Forester các bản trang bị hệ thống an toàn EyeSight trở nên dễ tiếp cận hơn với người dùng. Còn so với các đối thủ bán chạy hàng đầu trong phân khúc CUV cỡ C như Mazda CX-5 (749-919 triệu đồng), Ford Territory (739-875 triệu đồng), mức giá này của Forester vẫn cao hơn khá nhiều.
Khách hàng của Forester vốn là những người cá tính và có sự yêu thích đặc biệt với thương hiệu Subaru. Họ đánh giá cao triết lý an toàn, chất lái khác biệt nhờ động cơ đối xứng Boxer và dẫn động bốn bánh toàn thời gian (AWD). Với nhiều chủ xe, giá bán không phải là ưu tiên hàng đầu khi cân nhắc Forester với các lựa chọn khác của phân khúc.
Do giá bán cao, thiết kế và trang bị ít chiều chuộng khách Việt, doanh số của Subaru Forester khó so bì với những mẫu xe Nhật, Hàn, Mỹ lắp ráp trong nước. Hãng không công bố số liệu bán hàng Forester nhưng nói rằng đây là mẫu xe chủ lực của thương hiệu tại Việt Nam.
Subaru Forester nhập Thái Lan lắp động cơ 4 xi-lanh đối xứng dung tích hai lít, công suất 156 mã lực ở vòng tua máy 6.000 vòng/phút, mô-men xoắn cực đại 196 Nm tại 4.000 vòng/phút. Hộp số vô cấp CVT với 7 cấp số ảo, hệ thống dẫn động bốn bánh toàn thời gian.
Sau nhiều năm chỉ xuất hiện dưới dạng tin đồn, kế hoạch hồi sinh dòng SUV Mitsubishi Pajero đã được xác nhận. Đây được xem là bước đi nhằm củng cố danh mục sản phẩm của hãng trong phân khúc SUV địa hình, nơi đang có sự cạnh tranh từ các đối thủ như Toyota Land Cruiser Prado hay Nissan Patrol.
Thông tin được ông Keisuke Kishiura - Chủ tịch kiêm CEO Mitsubishi Motors - chia sẻ tại sự kiện Automobile Council 2026 diễn ra ngày 10-4 tại Chiba (Nhật Bản).
Theo đó, hãng sẽ ra mắt một mẫu SUV việt dã hoàn toàn mới trong năm nay. Dù không nêu trực tiếp tên Pajero, nhưng vị lãnh đạo này nhấn mạnh vai trò của dòng xe trong lịch sử phát triển của Mitsubishi.
Một số dữ liệu đăng ký xe tại Úc trước đó cho thấy mẫu SUV mới có thể được sản xuất tại Thái Lan, thể hiện qua mã VIN bắt đầu bằng ký tự “MMA”. Đây là thay đổi so với trước, khi Pajero từng được sản xuất tại Nhật Bản trước khi dây chuyền này dừng hoạt động vào năm 2021.
Pajero mới được bắt gặp chạy trên đường phố Thái Lan sau khi xuất hiện tại Úc - Ảnh: ST
Việc đặt nhà máy tại Thái Lan có thể tạo lợi thế về chi phí khi phân phối tại các thị trường ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhờ các ưu đãi thuế nhập khẩu nếu đáp ứng tỉ lệ nội địa hóa theo quy định.
Ngoài ra việc đăng ký tên gọi Mitsubishi Pajero tại một số thị trường cũng cho thấy khả năng tên gọi này sẽ được sử dụng trở lại, thay vì tiếp tục gắn với biến thể Pajero Sport.
Về kỹ thuật, mẫu Pajero thế hệ mới nhiều khả năng chuyển sang sử dụng khung gầm rời (ladder-frame), chia sẻ nền tảng với bán tải Triton, thay vì kết cấu liền khối như trước đây.
Các thông tin từ mã VIN cũng gợi ý xe có thể sử dụng động cơ diesel 2.4L tăng áp kép, đồng thời để ngỏ khả năng xuất hiện các biến thể điện hóa như hybrid hoặc plug-in hybrid trong tương lai.
Động cơ mới trên Pajero có thể vừa mạnh hơn, vừa tiết kiệm nhiên liệu nhờ công nghệ hybrid - Ảnh dựng đồ họa: Best Car
Hiện tại các nguyên mẫu thử nghiệm của mẫu SUV này đã được ghi nhận xuất hiện tại Úc trong quá trình chạy thử. Nếu được định vị ở phân khúc cao hơn Pajero Sport, mẫu xe mới có thể cạnh tranh trực tiếp với các SUV địa hình cỡ lớn như Toyota Land Cruiser Prado.
Sự trở lại của Pajero được kỳ vọng sẽ bổ sung lựa chọn trong phân khúc SUV khung gầm rời, đồng thời tận dụng lợi thế sản xuất trong khu vực để tăng sức cạnh tranh về giá tại các thị trường Đông Nam Á.
Trong nhiều năm, Mazda được xem là thương hiệu “vượt tầm” trong phân khúc phổ thông, với nội thất cao cấp, cảm giác lái hướng người dùng và độ tin cậy cao. Thậm chí, hãng từng vươn lên vị trí thứ hai trong bảng xếp hạng độ tin cậy của Consumer Reports.
Tuy nhiên đến năm 2026, Mazda ghi nhận mức sụt giảm mạnh nhất trong số các hãng xe, rơi 8 bậc xuống vị trí thứ 14. Điều đáng chú ý là những nguyên nhân dẫn đến sự tụt hạng này lại xuất phát từ chính các quyết định chiến lược của hãng.
Sự sa sút của Mazda gắn liền với bước chuyển mạnh sang nền tảng và công nghệ mới. Hai mẫu CX-70 và CX-90 (mẫu xe dự kiến bán tại Việt Nam) được phát triển với động cơ, hộp số và khung gầm hoàn toàn mới, đồng thời đánh dấu lần đầu hãng tham gia sâu vào phân khúc xe plug-in hybrid (PHEV).
Việc đưa quá nhiều công nghệ mới ra thị trường cùng lúc khiến các mẫu xe này gặp vấn đề về độ tin cậy. Cả phiên bản động cơ đốt trong lẫn PHEV đều bị đánh giá dưới mức trung bình, trong đó các biến thể PHEV tiếp tục ghi nhận lỗi liên quan đến pin và mô tơ điện.
Ngược lại, các dòng xe Mazda trước đây vốn sử dụng nền tảng quen thuộc, động cơ hút khí tự nhiên và hộp số tự động truyền thống lại có độ ổn định cao hơn. Những mẫu như Mazda3 được chấm điểm trên mức trung bình, còn CX-30 và CX-50 đạt mức trung bình.
Giới chuyên môn cho rằng thành công trước đây của Mazda đến từ cách tiếp cận thận trọng, cải tiến từng bước. Khi hãng thay đổi chiến lược theo hướng “nhảy vọt” về công nghệ, chất lượng sản phẩm cũng bị ảnh hưởng.
Không chỉ thay đổi về nền tảng, Mazda còn đẩy mạnh xu hướng số hóa nội thất. Dù người dùng bắt đầu phản ánh các vấn đề trên những mẫu xe mới phức tạp, ban lãnh đạo Mazda lại tiếp tục bảo vệ hướng đi này. Hãng ủng hộ việc trang bị màn hình cảm ứng 26inch trên CX-6e, cho rằng màn hình lớn giúp hiển thị thông tin rõ ràng hơn.
Đồng thời, Mazda tiến hành thiết kế lại toàn bộ giao diện người dùng, loại bỏ nhiều nút bấm vật lý trên bảng táp lô dựa trên phản hồi khách hàng.
Sự trớ trêu nằm ở chỗ, nội thất “toàn màn hình” trên Mazda CX-5 2026 xuất hiện đúng lúc nhiều hãng xe khác đang quay lại với các nút bấm vật lý.
Mazda từng xây dựng danh tiếng dựa trên triết lý thiết kế tối giản, an toàn và tập trung vào người lái. Việc chuyển hướng sang nội thất “toàn màn hình” cùng lúc với sự suy giảm về độ tin cậy khiến không ít khách hàng tỏ ra thất vọng.
Dữ liệu mới nhất cho thấy người dùng đã nhận ra sự thay đổi này, và phản ứng của họ không mấy tích cực.
Ngược lại với Mazda, Tesla tăng 8 bậc so với năm trước, vươn lên vị trí thứ 9. Kết quả này chủ yếu đến từ hiệu suất ổn định của Model 3 và đặc biệt là Model Y. Dù Cybertruck vẫn có điểm số dưới trung bình, tổng thể cho thấy Tesla đang dần cải thiện các vấn đề về hoàn thiện và lỗi phần cứng từng bị phàn nàn trước đây.
Trong khi đó, top 5 là những cái tên quen thuộc với Toyota đứng đầu, theo sau lần lượt là Subaru, Lexus, Honda và BMW. Báo cáo cũng chỉ ra rằng xe hybrid truyền thống vẫn là lựa chọn an toàn cho những khách hàng muốn tiết kiệm nhiên liệu nhưng vẫn ưu tiên động cơ đốt trong.