Rạng sáng 7.4, tại một quán bánh bèo vỉa hè trên đường Hoàng Văn Thụ (ở phường Quy Nhơn Nam, Gia Lai), bà Trần Thị Lan (60 tuổi), bị một thanh niên chửi bới, nhổ nước bọt, ném ghế, dùng dao hăm dọa và tát liên tục vào mặt.
Con trai bà đến can ngăn cũng bị nhóm 3 người đấm đá, rượt đuổi. Clip từ camera lan truyền trên mạng xã hội. Cộng đồng mạng phẫn nộ. Công an tỉnh Gia Lai tạm giữ khẩn cấp Nguyễn Văn Ý (35 tuổi) về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Câu chuyện trên quen thuộc đến mức cư dân mạng có thể đoán trước được cái kết. Clip lan truyền, dư luận sôi sục, cơ quan chức năng vào cuộc, đối tượng bị tạm giữ.
Rồi vài ngày sau, một clip khác xuất hiện, một nạn nhân khác, một cơn phẫn nộ khác. Tôi gọi đó là vòng lặp, bởi nó lặp đi lặp lại mà không có gì thay đổi ở phần gốc rễ.
Chỉ tính riêng từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 4.2026, báo chí đã phản ánh một chuỗi vụ hành hung nơi công cộng với mật độ đáng lo ngại.
Đêm 31.3, tại Đắk Lắk, nhóm thanh niên mang hung khí truy sát người đi đường trên tỉnh lộ 2.
Ngày 5.4, tại Nghệ An, một phụ nữ bị 2 đối tượng bịt mặt dùng hung khí hành hung giữa ban ngày.
Ngày 7.4, tại Huế, một người đàn ông đánh học sinh trong tiệm tạp hóa.
Cùng ngày, tại Lâm Đồng, một sản phụ bị hành hung ngay trước giờ sinh tại bệnh viện. Và cũng trong ngày 7.4, bà Lan bị đánh ở Quy Nhơn Nam.
Năm vụ trong chưa đầy một tuần, trải dài từ Tây nguyên đến Bắc Trung bộ, với nạn nhân đủ mọi lứa tuổi và hoàn cảnh.
Tại Thanh Hóa, theo thống kê của cơ quan chức năng, chỉ trong 3 tháng từ 15.12.2025 đến 15.3.2026, địa bàn tỉnh này đã xảy ra 34 vụ gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích và giết người với khoảng 200 đối tượng liên quan.
Vụ Đặng Chí Thành đánh phụ nữ tại sảnh chung cư Sky Central ở Hà Nội (tháng 8.2025) vừa kết thúc phúc thẩm đầu tháng 4.2026 với mức án 6 tháng tù. Vụ hành hung hàng xóm tại chung cư CT5-ĐN2 tại Hà Nội vào tháng 1.2026 cũng xử lý theo tội gây rối trật tự công cộng.
Những con số ấy cho thấy bạo lực đời thường không phải hiện tượng cá biệt mà đang trở thành một dạng “rối loạn xã hội” có tính hệ thống. Nhưng cách xã hội phản ứng lại mang tính sự vụ. Dư luận chỉ bùng lên khi có clip đủ sốc, đủ rõ nét, đủ biểu tượng.
Clip của bà Lan gây chấn động vì hội tụ tất cả các yếu tố kích hoạt cảm xúc tập thể. Nạn nhân là người già, hành vi côn đồ diễn ra trắng trợn trước camera, lời bà Lan nhẫn nhịn “tôi già rồi, anh cứ chửi thoải mái” trở thành biểu tượng cho sự bất lực. Nhưng không phải vụ nào cũng có camera. Không phải nạn nhân nào cũng đủ “điển hình” để viral (lan truyền).
Tôi không phủ nhận vai trò tích cực của mạng xã hội trong việc đẩy nhanh xử lý. Nếu không có clip, rất có thể vụ bà Lan sẽ kết thúc bằng việc gia đình Nguyễn Văn Ý đến thăm hỏi, hỗ trợ tiền, và bà Lan chấp nhận bỏ qua, đúng như bà đã bày tỏ khi nói rằng vợ người đó đang mang thai nên không muốn làm lớn chuyện.
Áp lực dư luận đã buộc Công an tỉnh Gia Lai phải tạm giữ khẩn cấp Nguyễn Văn Ý thay vì để vụ việc lắng xuống ở cấp phường. Nhưng chính sự phụ thuộc vào áp lực dư luận ấy lại là triệu chứng của một vấn đề sâu hơn.
Khi việc xử lý bạo lực phụ thuộc vào sức nóng truyền thông thay vì quy trình tố tụng, pháp luật không còn vận hành theo nguyên tắc bình đẳng nữa. Một vụ hành hung được xử lý nhanh vì clip có hàng triệu lượt xem. Một vụ khác với mức độ côn đồ tương đương nhưng không có camera thì liệu có trôi vào im lặng?
Chi tiết đáng suy nghĩ nhất trong vụ này là phản xạ đầu tiên của bà Lan. Khi bị hành hung lúc rạng sáng, bà không gọi công an. Bà gọi con trai đến đưa đi bệnh viện.
Phản xạ ấy không phải của riêng bà Lan. Nó phản ánh một thực tế phổ biến rằng với rất nhiều nạn nhân bạo lực đời thường ở Việt Nam, pháp luật không phải nơi họ nghĩ đến đầu tiên khi bị xâm hại.
Có thể vì họ chưa tin vào tốc độ phản ứng của cơ quan chức năng? Có thể vì họ biết rằng với thương tích nhẹ, vụ việc sẽ chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính? Có thể vì văn hóa nhẫn nhịn và dĩ hòa vi quý khiến người bị hại tự cắn răng chịu đựng?
Dù lý do nào thì kết quả cũng giống nhau. Nạn nhân không tìm đến pháp luật và pháp luật cũng không chủ động tìm đến nạn nhân.
Vòng lặp ấy vận hành bằng 3 bước. Thứ nhất là bạo lực xảy ra và nạn nhân chọn im lặng. Thứ hai là clip lan truyền phá vỡ sự im lặng, dư luận phẫn nộ, cơ quan chức năng xử lý theo sức ép. Thứ ba là mọi thứ lắng xuống, không có thay đổi nào về cơ chế phòng ngừa, không có đánh giá nào về lỗ hổng xử lý cho đến khi clip tiếp theo xuất hiện.
Điều 318 bộ luật Hình sự 2015 quy định tội gây rối trật tự công cộng với khung hình phạt cơ bản từ phạt tiền 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.
Khung tăng nặng theo khoản 2 lên đến 7 năm tù khi có tổ chức, dùng hung khí, hoặc gây cản trở giao thông nghiêm trọng.
Nhưng phần lớn các vụ bạo lực gặp trong đời thường rơi vào khung 1 với mức án phổ biến quanh 6 tháng tù. Mức chế tài ấy có đủ sức răn đe hay không? Tần suất các vụ việc gây rối trong thời gian gần đây đang tự trả lời.
Để phá vỡ vòng lặp ấy cần thay đổi ở cả 3 bước cùng lúc. Nạn nhân cần được khuyến khích và hỗ trợ để trình báo thay vì im lặng. Cơ quan chức năng cơ sở cần chủ động xử lý theo quy trình thay vì chờ áp lực dư luận. Và chế tài cần đủ nghiêm khắc để người có ý định bạo lực phải cân nhắc trước khi hành động thay vì chỉ hối hận sau khi clip lên mạng.
Camera quán bánh bèo của bà Lan đã ghi lại toàn bộ hành vi côn đồ của Nguyễn Văn Ý. Nhưng camera chỉ là “nhân chứng” thụ động. Nó ghi lại được vòng lặp nhưng không phá vỡ được vòng lặp. Việc phá vỡ ấy là phần việc của pháp luật, của thiết chế và của cả xã hội.
Nếu chúng ta tiếp tục chỉ phẫn nộ theo từng clip rồi quên thì vòng lặp sẽ tiếp tục quay. Và nạn nhân tiếp theo có thể là bất kỳ ai.
Nhờ đất đai màu mỡ, địa thế bằng phẳng và nằm bên sông lớn, Đồng Nai trở thành lựa chọn ưu tiên của những nhóm người Việt đầu tiên vào phương Nam khai hoang, lập nghiệp. Các khu vực Biên Hòa, Long Thành, Bà Rịa... thuộc lưu vực sông Đồng Nai là những nơi sớm đón bước chân những người mở cõi.
Theo Gia Định Thành Thống Chí, năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu "vào kinh lược đất Đồng Nai", lập phủ Gia Định gồm hai huyện: Phước Long dựng dinh Trấn Biên, Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng, xác lập chủ quyền và bộ máy quản lý nhà nước, đặt nền móng cho sự hình thành vùng Biên Hòa - Đồng Nai ngày nay.
Những năm đầu khai mở, nhờ vị trí thuận lợi bên sông Đồng Nai thông ra biển Cần Giờ, vùng đất Biên Hòa sớm phát triển sầm uất thành đô thị nhộn nhịp. Trên cù lao Phố (nay thuộc phường Trấn Biên), Nông Nại đại phố từng được xem là một trong những thương cảng lớn nhất Nam Bộ vào thế kỷ XVII-XVIII.
Theo ông Trần Quang Toại, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Đồng Nai, truyền thống thương mại cùng giao lưu kinh tế, văn hóa hình thành rất sớm đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình đô thị hóa của địa phương ở các giai đoạn sau.
Đến năm 1808, dưới triều vua Gia Long, dinh Trấn Biên được đổi thành trấn Biên Hòa, trở thành một trong năm trấn thuộc Gia Định thành, với địa giới rộng lớn bao trùm phần lớn vùng đất thuộc Đồng Nai và TP HCM ngày nay. Trải qua nhiều biến động lịch sử và điều chỉnh địa giới, nơi đây vẫn luôn giữ vai trò quan trọng trong việc định hình không gian kinh tế - xã hội Nam Bộ.
Từ những tiền đề đó, các tuyến giao thông huyết mạch như đường thủy, quốc lộ, đường sắt dần được xây dựng qua Đồng Nai, kết nối Sài Gòn với duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
"Cù lao Phố vẫn còn nhiều dấu tích văn hóa, cho thấy Đồng Nai là cái nôi phát triển kinh tế - xã hội của Nam Bộ hơn 325 năm", ông Trần Quang Toại nói.
Theo ông, sau khi chiếm Nam Bộ, người Pháp bắt đầu khai thác tài nguyên với hàng loạt nông trường cao su, tập trung chủ yếu ở Đồng Nai. Từ nền kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp manh mún, người dân dần làm quen với máy móc qua các nhà máy chế biến mủ cao su, gỗ, từ đó hình thành lực lượng công nhân đông đảo, thu hút lao động từ nhiều nơi.
Ông Toại cho rằng vị trí giáp Sài Gòn, giao thông thuận lợi và nguồn lao động dồi dào là những yếu tố thúc đẩy sự ra đời của nhiều nhà máy trong thế kỷ XX, tiêu biểu khu kỹ nghệ Biên Hòa, được xem là khu công nghiệp đầu tiên của Việt Nam.
Từ khi xây dựng năm 1962 đến 1975, khu kỹ nghệ Biên Hòa có 94 nhà máy, xí nghiệp, với phần lớn máy móc nhập từ Nhật, Đức, Pháp, Đài Loan... Đến năm 1990, Đồng Nai thành lập Công ty Phát triển khu công nghiệp Biên Hòa (Sonadezi Biên Hòa) để đầu tư, nâng cấp hạ tầng và thu hút vốn nước ngoài.
Từ khu công nghiệp Biên Hòa, địa phương tiếp tục mở rộng hàng loạt khu công nghiệp lớn như Biên Hòa 2, Amata, Long Bình, Long Thành, Nhơn Trạch, Chơn Thành...
Với quy mô kinh tế lớn và cơ cấu chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ hiện đại, Đồng Nai từng bước khẳng định vị thế là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của khu vực phía Nam và cả nước.
Hiện tỉnh nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về phát triển khu công nghiệp với 89 khu công nghiệp được quy hoạch, tập trung tại Biên Hòa, Nhơn Trạch, Long Thành, Chơn Thành... Các khu này thu hút doanh nghiệp từ 45 quốc gia, với 2.269 dự án và tổng vốn đăng ký 44,38 tỷ USD.
Giai đoạn 2021-2025, kinh tế - xã hội Đồng Nai tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng cải thiện, tiếp tục khẳng định vai trò là trung tâm công nghiệp lớn của khu vực phía Nam.
Ông Nguyễn Văn Út, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, cho biết địa phương đang đứng trước thời cơ lịch sử để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, trung tâm công nghiệp, logistics và đô thị hiện đại hàng đầu cả nước.
Theo ông, Đồng Nai có nền tảng công nghiệp vững chắc, vị trí chiến lược tại Đông Nam Bộ và hệ thống hạ tầng đang được đầu tư đồng bộ, nhất là các dự án động lực quốc gia. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh không thể đi theo lối mòn cũ mà phải đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, cách làm và phương thức quản trị.
Lãnh đạo tỉnh cho biết Đồng Nai sẽ tập trung xây dựng mô hình phát triển mới, chuyển từ "tỉnh công nghiệp" sang "thành phố công nghiệp - đô thị - dịch vụ hiện đại", phát triển theo chiều sâu dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.
Phước Tuấn
Bài 3: Sân bay Long Thành sẽ 'nâng hạng' Đồng Nai ra sao
Đại úy quân nhân chuyên nghiệp Nguyễn Thị Thùy Dung vào bộ đội năm 25 tuổi ở vị trí tân binh đặc công Quân khu 7 - độ tuổi nhiều người chọn ổn định công việc, gia đình. Thùy Dung khi ấy đã tốt nghiệp đại học hệ dân sự, đi làm hai năm nhưng vẫn viết đơn tòng quân với nguyện vọng trở thành lính đặc công.
"Tôi chọn đặc công vì mê võ, thích đánh quyền từ năm 10 tuổi", nữ chiến đấu viên chống khủng bố của Lữ đoàn 113, Binh chủng Đặc công - top 10 gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân năm 2025, nhớ lại.
Cho đến trước ngày thi đại học, Dung vẫn quả quyết sẽ chọn trường quân đội để trở thành quân nhân như bố và anh trai. Nữ sinh cao gần 1,6 m nặng 40 kg vẫn hay mặc thử quân phục của anh trai, "chìm nghỉm" trong bộ đồ và tưởng tượng về ngày mình nhập ngũ.
Nhưng bố cô, một quân nhân nhiều năm xa nhà, thấu hiểu những vất vả người lính phải trải qua, đã thuyết phục con gái nên chọn ngành nghề khác. Cũng như bao người cha, ông chỉ mong con gái có cuộc sống nhẹ nhàng, công việc hành chính 8 tiếng, đủ thời gian chăm sóc bản thân và gia đình. Ông từng công tác trong Quân khu 7, đến những năm 1990 mới phục viên về gần nhà.
Thương bố mẹ, Dung chọn thi đại học hệ dân sự. Nhưng hai năm làm nhân viên văn phòng với guồng quay công việc lặp lại mỗi ngày thôi thúc cô nghĩ nhiều về việc nhập ngũ. Dung cuối cùng tình nguyện vào bộ đội đầu năm 2020. "Gian khổ thế nào con cũng chịu, chỉ cần bố mẹ tin tưởng là con làm được", cô thuyết phục gia đình. Nhìn thấy quyết tâm khó lay chuyển của con gái, người cha chỉ dặn dò giữ sức khỏe, luôn tuân thủ kỷ luật để làm tốt nhiệm vụ.
Ba tháng tân binh, Dung được rèn luyện ở đơn vị đặc công thuộc Quân khu 7. Lính mới những ngày đầu bị "lag" vì dậy trước 5h rèn luyện thể dục trong khi trước đây ở ngoài 8h mới đi làm. Thời gian ngủ nghỉ cắt ngắn, chế độ luyện tập dần tăng lên nhưng mọi thứ bắt đầu vào nề nếp. Nữ tân binh từ 53 kg sụt xuống 45 kg, da rám nắng nhưng thấy thể lực, tinh thần tốt hơn trước. Làm nhiệm vụ tại Lữ đoàn 429 trong Nam một thời gian, Dung sau đó chuyển về Lữ đoàn Đặc công 113 ngoài Bắc.
Sáu năm quân ngũ dần bồi đắp cho cô gái những kỹ năng đặc biệt của lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, nhất là võ thuật và bắn súng. Với các chiến đấu viên, rèn luyện thể lực khắc nghiệt mới là khởi đầu, bước vào huấn luyện nâng cao mới là thử thách thể chất, tâm lý và cả sức chịu đựng.
Nhiều năm rèn võ cổ truyền Bình Định, đạt cấp độ đai vàng cho cô gái thể lực tốt lẫn sự dẻo dai, song mỗi lần cầm côn nhị khúc vẫn phải tập trung cao độ, thực hiện đúng động tác. Bởi chỉ cần một phần giây mất kiểm soát có thể gây thương tích cho mình lẫn đồng đội.
Cũng như đồng đội nam, các chiến đấu viên nữ phải trải qua bài tập công phá chịu sức ép của gạch ngói vỡ vụn trên người, chân trần đi trên mảnh thủy tinh sắc nhọn và đối diện với cơn đau thấu xương khi tam thương cắm tử huyệt. Mỗi bài học lĩnh ngộ được đổi bằng mồ hôi, nhẹ thì bầm tím, nặng thì để lại sẹo.
"Tôi chưa bao giờ hối hận vì đã chọn con đường này, màu áo lực lượng này và vẫn luôn tự hào về điều đó", cô nói, tự nhận mình "lì lợm nên càng khó lại càng phải làm bằng được". May mắn khi đơn vị có những nữ chiến đấu viên trạc tuổi, hơn tuổi nên chị em luôn bao bọc, hỗ trợ nhau trong những lần làm nhiệm vụ.
Năm thứ hai trở thành chiến đấu viên chống khủng bố, Dung đã thành thạo các loại vũ khí đặc chủng của bộ đội đặc công. Trong một lần thực hành huấn luyện, cô cùng với 7 nữ chiến đấu viên lữ đoàn được chọn để đổ treo từ trực thăng và tụt dây chiến thuật từ nhà cao tầng. Với một sợi dây, các nữ quân nhân phải tụt xuôi, ngược, nhảy cóc ngang, nghiêng, chạy vuông góc với tường thật nhanh để chiếm lĩnh vị trí chiến đấu. Bài huấn luyện đặc biệt nguy hiểm chỉ dành cho các quân nhân có sức bền, tâm lý vững và kỹ thuật tốt.
Những ngày đầu tập đổ treo từ độ cao hơn 20 m trên trực thăng xuống nóc nhà cao tầng, cô gái từng khụy gối, rơi nước mắt tưởng không vượt qua. Nhưng sau một tháng tập luyện, nữ đặc công dần làm chủ kỹ năng. Chiến đấu viên, thuộc số hiếm nữ của lực lượng đặc công chống khủng bố, dùng thành thạo dao găm, côn nhị khúc, nhảy dù từ trực thăng, thả treo trên nóc nhà.
Những mùa huấn luyện xen kẽ với các nhiệm vụ liên tục của Quân đội, từ cô gái sợ bắn súng, Dung đã đứng trong hàng ngũ đi thi Army Games năm 2021 và cùng đồng đội giành vị trí thứ tư toàn đoàn. Cô giành thêm 2 huy chương bạc, 5 huy chương đồng trong các hội thao võ thuật chiến đấu tay không và bắn súng quân dụng toàn quân. Dung cũng luôn có mặt trong các cuộc trình diễn khi phái đoàn trong và ngoài nước đến thăm Binh chủng Đặc công.
Ngay sau lễ vinh danh Gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân hôm 2/4, nữ đặc công lại cùng đồng đội chuẩn bị cho nhiệm vụ mới. Danh hiệu cô dành tặng người cha vừa qua đời vì bạo bệnh chỉ ít ngày trước lễ tuyên dương. "Bố gật đầu chờ con về nhưng không kịp. Con cố gắng trong thời gian qua và con đã làm được. Bố yên lòng về con gái bố ạ", trên trang cá nhân, cô viết.
"Ngay cả khi được trao quyền rộng, thành phố vẫn khó tạo bứt phá nếu không khơi lại tinh thần dám nghĩ, dám làm", TS Huỳnh Thế Du, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, nói tại hội thảo tham vấn về dự thảo Luật Đô thị đặc biệt cho TP HCM do UBND TP HCM phối hợp với Đại học Quốc gia TP HCM tổ chức, ngày 4/4.
Theo ông Du, khoảng một thập niên qua TP HCM không thiếu cơ chế đặc thù, song các chính sách chưa tạo động lực tăng trưởng rõ rệt, thậm chí vai trò, đóng góp của thành phố có xu hướng giảm.
Dẫn số liệu, ông cho biết năm 2001, vùng Đông Nam Bộ chiếm 37,6% GDP cả nước, hiện còn 31,1%; trong khi vùng Đồng bằng sông Hồng từ khoảng 25% đã vươn lên dẫn đầu. Cách đây 20-25 năm, khu vực TP HCM (gồm Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương cũ) đóng góp khoảng 50% thu ngân sách, nay còn khoảng một phần ba.
Diễn biến này cũng thể hiện qua các giai đoạn áp dụng cơ chế đặc thù. Khi ban hành Nghị quyết 54 năm 2017, vùng TP HCM chiếm khoảng 27% GDP cả nước; sau 5-6 năm triển khai, tỷ trọng giảm còn 24,5% và đến năm 2020 còn 23,1%.
Liên hệ giai đoạn đầu Đổi mới, TS Huỳnh Thế Du cho rằng TP HCM từng tăng trưởng mạnh nhờ cách làm linh hoạt, "phá rào" trước những ràng buộc chưa phù hợp. "Luật Đô thị đặc biệt hay việc nới khung thể chế chỉ là điều kiện cần, vấn đề là cách làm và vận hành thực tế của bộ máy", ông nói.
Theo chuyên gia này, điểm mấu chốt nằm ở "thể chế phi chính thức" - cách hệ thống thực sự vận hành, từ phối hợp giữa các cơ quan, xử lý công việc đến tinh thần dám làm và mức độ linh hoạt trong thực thi - có thể chiếm tới 80% động lực đổi mới.
TS Du lưu ý nếu chỉ hoàn thiện quy định trên giấy mà không thay đổi cách vận hành, hiệu quả sẽ hạn chế. Vì vậy, cùng với xây dựng luật, TP HCM cần khơi lại tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm trong đội ngũ thực thi.
"Giả định TP HCM có quyền như Singapore, tôi vẫn lo ngại nếu cách làm không thay đổi", ông nói, dẫn lại việc thành phố đã trải qua nhiều cơ chế như Nghị quyết 54, 98 nhưng chưa tạo được bứt phá rõ rệt.
Đồng quan điểm, TS Huỳnh Thanh Điền, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, cho rằng để luật phát huy hiệu quả cần hướng tới mục tiêu: thành phố phải "được làm, làm được và dám làm", đồng thời triển khai nhanh, sáng tạo và hiệu quả.
Theo ông, dự thảo luật cần thiết kế cơ chế để TP HCM chủ động triển khai các nhiệm vụ cụ thể, kể cả ban hành quy định với những nội dung pháp luật hiện hành chưa đề cập. Tuy nhiên, quyền hạn phải đi kèm năng lực thực thi và trách nhiệm, do đó cần cơ chế bảo vệ cán bộ, nhất là người trực tiếp ra quyết định.
TS Điền nhấn mạnh điểm nghẽn hiện nay nằm ở khâu tổ chức thực hiện, khi chủ trương, định hướng cơ bản đã rõ. Vì vậy, dự thảo cần bổ sung các công cụ hỗ trợ như quy hoạch, kiến tạo không gian phát triển, liên kết vùng, đồng thời cho phép thành phố chủ động với các lĩnh vực mới.
Về tài chính, ông đề xuất tăng quyền tự chủ tài khóa, cho phép TP HCM chủ động thu - chi, áp dụng một số khoản thu đặc thù và sử dụng các công cụ huy động vốn như trái phiếu, quỹ hạ tầng.
Ngoài ra, cần đột phá trong hợp tác công tư, mở rộng sang hạ tầng số, không gian ngầm và các lĩnh vực mới, cùng cơ chế tài chính cho đổi mới sáng tạo. Thành phố cũng cần chủ động hơn về tổ chức bộ máy, chính sách tiền lương để thu hút nhân lực chất lượng cao.
Bộ Chính trị đã đồng ý cho TP HCM xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, tương tự Luật Thủ đô. Thành phố dự kiến hoàn tất dự thảo trong tháng 4, sau đó tổ chức các hội thảo, lấy ý kiến từ tháng 5 đến tháng 6 trước khi trình Quốc hội khóa XVI xem xét vào cuối năm 2026.
Theo Phó chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Mạnh Cường, thành phố không chỉ dừng ở bổ sung cơ chế đặc thù mà hướng tới luật hóa các chính sách ở mức cao nhất, đủ sức giải phóng nguồn lực và tạo động lực tăng trưởng mới.
TP HCM xác định ba nguyên tắc khi xây dựng luật. Thứ nhất, trao quyền tự chủ toàn diện theo phương châm "địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm". Thứ hai, luật hóa các vấn đề thực tiễn chưa có hành lang pháp lý như quản lý không gian ngầm, tài sản công, đường sắt đô thị, phát triển trung tâm tài chính, thu hút nhân tài. Thứ ba, thể chế hóa các cơ chế đặc thù, biến lợi thế riêng của thành phố thành quy định pháp luật để phát huy hiệu quả.