Cứ mỗi dịp tháng tư về, các cán bộ đã và đang làm công tác báo chí, thông tin đối ngoại lại bồi hồi, xúc động xen lẫn vinh dự, tự hào khi hồi tưởng về những năm tháng gắn bó, đồng hành cùng Vụ Thông tin Báo chí, một trong những đơn vị “giàu truyền thống” của Bộ Ngoại giao.
Cách đây 80 năm, ngày 7-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên – đã ký Sắc lệnh 47/SL về tổ chức của Bộ Ngoại giao, trong đó có Phòng Thông tin – Phát ngôn và Phòng Tuyên truyền – Báo chí, tiền đề cho việc thành lập Vụ Thông tin Báo chí.
Trong tám thập kỷ qua, dưới sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và lãnh đạo Bộ Ngoại giao, cùng với tâm huyết và cống hiến của nhiều thế hệ cán bộ, Vụ Thông tin Báo chí tự hào là một trong những đơn vị đã ghi nhiều dấu ấn trong các giai đoạn lịch sử, sự kiện đối ngoại quan trọng của đất nước.
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với muôn vàn thử thách trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
Giữa bối cảnh “thù trong, giặc ngoài”, việc giúp thế giới hiểu đúng về bản chất của cuộc cách mạng và khát vọng độc lập của dân tộc trở thành nhiệm vụ sống còn của công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại.
Những cán bộ ngoại giao đầu tiên, trong đó có các cán bộ Phòng Thông tin – Phát ngôn và Phòng Tuyên truyền – Báo chí, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã mang trên vai sứ mệnh lớn lao, đó là vạch trần âm mưu và hành động gây hấn của các thế lực thực dân, đế quốc, đồng thời xây dựng mặt trận thông tin, góp phần bảo vệ nền độc lập non trẻ của nước nhà.
Trong giai đoạn cách mạng với “bộn bề khó khăn” này, Chủ tịch Hồ Chí Minh, với trí tuệ trác tuyệt và khả năng thiên bẩm của mình, đã có nhiều bài viết, thông điệp, tiếp xúc, trả lời phỏng vấn báo giới, đặc biệt là báo chí nước ngoài, thể hiện tầm nhìn chiến lược, chủ động tận dụng thời cơ, sử dụng mọi kênh thông tin đối ngoại để nhân dân thế giới hiểu rõ, hiểu đúng về khát vọng hòa bình, độc lập của dân tộc Việt Nam.
Chỉ trong một thời gian ngắn, khi thăm Pháp từ đầu tháng 6 đến giữa tháng 9-1946, Bác đã có hơn 60 cuộc tiếp xúc, nói chuyện và trả lời phỏng vấn phóng viên của hơn 20 tờ báo, các hãng thông tấn của Pháp và các nước. Đó là những bài học sâu sắc, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động thông tin, báo chí sau này.
Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, với phong cách chân thực, ngắn gọn mà sắc bén, những thông điệp từ Hà Nội đã chạm tới trái tim của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, khơi dậy làn sóng ủng hộ hòa bình, phản đối chiến tranh.
Hình ảnh những cán bộ ngoại giao làm công tác thông tin đối ngoại tận tụy, ngày đêm phục vụ các đoàn đàm phán tại Hội nghị Geneve 1954, Hội nghị Paris (1968 -1973) hay hình ảnh những cán bộ không quản ngại hiểm nguy, đồng hành cùng phóng viên quốc tế tại các điểm nóng chiến sự, từ “tuyến lửa” Quảng Bình đến biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, đã trở thành biểu tượng của bản lĩnh, lòng dũng cảm và sự hy sinh thầm lặng, mãi là ký ức không thể phai mờ.
Bước vào thời kỳ Đổi mới và hội nhập quốc tế, công tác thông tin đối ngoại chuyển mình mạnh mẽ, mở ra một giai đoạn phát triển mới.
Bộ Ngoại giao nói chung và Vụ Thông tin Báo chí nói riêng tiếp tục là một trong những lực lượng nòng cốt, phát huy vai trò tiên phong trong việc quảng bá hình ảnh đất nước, vận động quốc tế, đồng thời kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, góp phần phá thế bao vây cấm vận, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Là cơ quan đầu tiên của Chính phủ có cơ chế Người phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí kể từ năm 1987, sau này có thêm cơ chế Phó phát ngôn (2013), các thế hệ Người phát ngôn Bộ Ngoại giao đã bản lĩnh, tự tin ứng xử trước áp lực và khả năng cân bằng giữa minh bạch thông tin và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Thông qua những chiến dịch truyền thông lớn phục vụ các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao và trong các sự kiện đối ngoại quan trọng của đất nước như Hội nghị thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp 1997, Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu năm 2004, Hội nghị thượng đỉnh APEC 2006, 2017 và các năm Chủ tịch ASEAN 2010, 2020, cuộc gặp Thượng đỉnh Mỹ – Triều Tiên năm 2019, các sự kiện trọng đại của đất nước như dịp kỷ niệm Quốc khánh 2-9, Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30-4…, mỗi cán bộ của Vụ Thông tin Báo chí ngày càng trưởng thành.
Bằng sự chân thành, tinh thần cống hiến hết mình, trách nhiệm, các cán bộ của vụ không chỉ là cầu nối với báo chí, mà còn là những “người kể chuyện” về một Việt Nam hòa hiếu, bao dung, năng động, đổi mới và phát triển, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.
Để đạt được những điều ấy, ngoài nỗ lực của mỗi cán bộ Vụ Thông tin Báo chí, không thể thiếu sự chỉ đạo sát sao, trực tiếp của lãnh đạo chủ chốt, lãnh đạo Bộ Ngoại giao và sự hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của các đơn vị trong bộ và các ban, bộ, ngành địa phương, cũng như đội ngũ những người làm báo am hiểu chuyên môn và đầy nhiệt huyết.
Bước vào thế kỷ 21, tình hình thế giới và khu vực biến động khôn lường, cùng với sự bùng nổ của Cách mạng công nghiệp 4.0, truyền thông không chỉ là công cụ để truyền tải thông điệp, xây dựng hình ảnh quốc gia và tạo ảnh hưởng quốc tế mà còn là “không gian sinh tồn” để mỗi quốc gia hiện diện, tương tác và cạnh tranh.
Trong bối cảnh đó, công tác thông tin đối ngoại đứng trước cả thời cơ và thách thức, đặc biệt là sự gia tăng của “chiến tranh thông tin”, tin giả và các sản phẩm truyền thông được tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo. Điều đó đòi hỏi sự chủ động, thích ứng linh hoạt, sáng tạo, đổi mới tư duy và nâng cao năng lực chuyên môn của mỗi cán bộ trong đơn vị.
Phát huy truyền thống vẻ vang của đơn vị, dù trong hoàn cảnh nào, từng cán bộ Vụ Thông tin Báo chí vẫn lặng lẽ cống hiến, tận tâm, chu đáo trong việc cung cấp thông tin và hỗ trợ các hoạt động báo chí của phóng viên trong và ngoài nước; chuẩn mực trong từng phát ngôn, thông cáo báo chí; chú trọng theo dõi, phân tích dư luận quốc tế; chủ động lan tỏa thông điệp đối ngoại trên không gian mạng; tích cực nghiên cứu, đào tạo và tham mưu chính sách phù hợp với bối cảnh mới.
Mỗi nhiệm vụ, dù lớn hay nhỏ, đều được thực hiện với tinh thần chuyên nghiệp, hiện đại và một trái tim luôn nhiệt thành với Tổ quốc, với Nhân dân.
Nhìn lại chặng đường 80 năm, có thể tự hào rằng, cùng với các đơn vị trong Bộ Ngoại giao, Vụ Thông tin Báo chí luôn đồng hành, phụng sự đất nước, phụng sự Nhân dân, gắn liền với những tên tuổi lớn của ngoại giao Việt Nam như cố Thứ trưởng Lê Mai, Đại sứ Ngô Điền, Vụ trưởng Trịnh Xuân Lãng, Người phát ngôn Hồ Thể Lan và nhiều thế hệ lãnh đạo, cán bộ, nhân viên của vụ.
Đây không chỉ là dịp để tri ân những thế hệ đi trước đã đặt nền móng cho truyền thống vẻ vang, mà còn là điểm tựa để thế hệ hôm nay tiếp tục tiến bước.
Từ những bản tin được đánh máy thủ công đến các sản phẩm truyền thông đa phương tiện hiện đại, ngọn lửa đam mê, bản lĩnh và tinh thần tận tụy vẫn luôn được gìn giữ qua từng thế hệ của Vụ Thông tin Báo chí.
Trên hành trình phía trước, những cán bộ hôm nay sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử mới, để tiếng nói Việt Nam ngày càng vang xa, thuyết phục và giàu sức lan tỏa hơn trên trường quốc tế, góp phần xây dựng một nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại “trọng yếu, thường xuyên” trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Annie Ramos, 22 tuổi, sinh ra tại Honduras và là vợ của trung sĩ Matthew Blank, bị bắt hôm 2/4 khi cùng chồng tới căn cứ Fort Polk tại bang Louisiana để làm thủ tục đăng ký quyền lợi dành cho người thân của binh sĩ, bao gồm bảo hiểm và tiến tới xin thẻ xanh.
Gia đình cho biết bố mẹ mang theo Ramos vượt biên vào Mỹ khi cô chưa đầy 2 tuổi. Năm 2020, cô từng nộp đơn xin tham gia chương trình Hoãn Trục xuất với Người đến Mỹ từ khi còn nhỏ (DACA), được ban hành năm 2012 dưới thời cựu tổng thống Barack Obama.
Chương trình DACA nhằm bảo vệ những người được thân nhân đưa đến Mỹ từ khi chưa đủ tuổi thành niên và không có giấy tờ hợp pháp, giúp họ tránh bị trục xuất và mở ra con đường để họ có giấy phép lao động. Tuy nhiên, hồ sơ DACA của Ramos bị trì hoãn phê duyệt 6 năm qua vì những tranh cãi pháp lý và chính trị xoay quanh chương trình này.
Hồi tháng 3, Ramos kết hôn với Blank, một công dân Mỹ. Hai vợ chồng đã thuê luật sư và đang hoàn tất hồ sơ hợp pháp hóa tình trạng cư trú cho cô theo diện kết hôn với công dân Mỹ.
Blank đã phục vụ trong quân đội Mỹ 5 năm, từng được triển khai đến Trung Đông và châu Âu. Anh cho biết hai người dự định chuyển đến sống cùng nhau tại căn cứ sau lễ Phục sinh.
Hôm 2/4, Blank đưa vợ tới căn cứ Fort Polk, mang theo giấy khai sinh, hộ chiếu Honduras của Ramos, giấy đăng ký kết hôn và chứng minh thư quân đội của anh để làm thủ tục đăng ký phúc lợi cho cô. Khi nhân viên hành chính tại căn cứ hỏi về tình trạng cư trú của Ramos, gia đình giải thích rằng cô không có visa hay thẻ xanh, nhưng luật sư của họ đã chuẩn bị các giấy tờ cần thiết để đăng ký.
"Chúng tôi sẽ làm rõ điều này", nhân viên hành chính tại căn cứ trả lời, sau đó gọi một số cuộc điện thoại. Sĩ quan chỉ huy tại căn cứ sau đó đến cùng với một thành viên Cơ quan Điều tra Hình sự (CID) của căn cứ. Người này sau đó thông báo sẽ liên hệ với Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Mỹ (ICE) cùng Bộ An ninh Nội địa về trường hợp của Ramos.
Ramos sau đó bị còng tay và bị quân cảnh đưa đến một tòa nhà khác. Ba đặc vụ ICE đến Fort Polk và bắt cô, nói rằng "họ không còn lựa chọn nào khác", theo lời kể của gia đình Blank.
"Tôi đã cầu xin họ đừng đưa con bé đi, nhưng họ nói rằng cấp trên đã ra lệnh", Jen Ricklin, mẹ của Blank, cho hay.
Ramos bị chuyển tới cơ sở giam giữ của ICE tại Basile, cách căn cứ hơn 100 km. Gia đình Ramos cho biết khi đến thăm vài ngày sau, họ không được phép mang theo bất kỳ giấy tờ, khiến cô không thể ký tên vào hồ sơ xin thẻ xanh đã đến bước hoàn tất.
Bộ An ninh Nội địa Mỹ cho biết Ramos từng bị thẩm phán di trú ra lệnh trục xuất vắng mặt từ năm 2005, khi gia đình cô không xuất hiện tại một phiên điều trần. Cơ quan này cho hay cô không có tình trạng pháp lý hợp lệ và lệnh bắt được thực thi trên cơ sở Ramos "tìm cách xâm nhập một căn cứ quân sự".
Sự việc gây phản ứng từ một số chính trị gia và tổ chức bảo vệ người nhập cư, cho rằng việc ICE bắt giữ vợ của một quân nhân có thể ảnh hưởng tới tinh thần binh sĩ và tác động tiêu cực đến các nỗ lực tuyển quân.
Một số ý kiến cũng cho rằng chính quyền Tổng thống Donald Trump đang từng bước chấm dứt các chính sách nới lỏng về thực thi luật nhập cư đối với gia đình quân nhân, dù trước đây đây là một yếu tố được sử dụng để khuyến khích tuyển quân.
Sau gần một tuần, Ramos được ICE phóng thích, nhưng phải đeo thiết bị giám sát GPS gắn ở cổ chân. DHS cho hay đây là biện pháp đề phòng nguy cơ cô bỏ trốn trong khi chờ triển khai các thủ tục trục xuất tiếp theo. "Cô ấy sẽ được xử lý theo quy trình pháp lý công bằng", DHS lưu ý.
"Tôi chỉ mong được sống một cách đàng hoàng tại đất nước mà tôi coi là quê hương từ khi còn nhỏ", Ramos nói sau khi được thả. Cô cho biết muốn mong muốn hoàn thành việc học và xây dựng cuộc sống cùng chồng tại Mỹ.
"Một trong những điều chính quyền này đã làm được mà tôi tự hào nhất đó là chúng tôi đã nói với châu Âu rằng các vị có thể mua vũ khí nếu muốn, nhưng Mỹ sẽ không mua vũ khí và gửi chúng cho Ukraine nữa", ông Vance nói, theo trang The Kyiv Independent.
Trái với chính quyền tiền nhiệm, Nhà Trắng dưới thời ông Trump chấm dứt gần như toàn bộ viện trợ mới cho Ukraine và để châu Âu chi trả việc viện trợ quân sự cho nước này. Các nước châu Âu đã mua nhiều vũ khí do Mỹ sản xuất để chuyển cho Ukraine trong năm 2025. Tuy nhiên, Kyiv đã thông báo về việc chậm giao hàng, thiếu vũ khí phòng không và dự báo sẽ còn thiếu thốn hơn khi xung đột Mỹ - Iran làm nguồn cung bị giới hạn.
Trả lời Đài ZDF của Đức nhân chuyến thăm Berlin hôm 14.4, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky cho biết các nhà đàm phán hòa bình của Mỹ "không có thời gian cho Ukraine" vì xung đột tại Iran, đồng thời phàn nàn về việc gián đoạn chuyển giao vũ khí Mỹ. Liên minh 50 nước hỗ trợ Ukraine ngày 15.4 có cuộc họp tại Berlin. Theo The Hill, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth lại tiếp tục không tham gia cuộc họp này. Trong khi đó, Bộ Quốc phòng Anh sẽ công bố viện trợ 120.000 máy bay không người lái cho Ukraine và dự kiến chuyển giao ngay trong tháng này. Cùng ngày, Bộ Tài chính Anh dự kiến công bố giải ngân 752 triệu bảng Anh trong một gói vay cho Ukraine.
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã leo thang thế đối đầu với Iran vào ngày 12/4, khi tuyên bố kế hoạch phong tỏa hải quân tại eo biển Hormuz sau khi các cuộc đàm phán ngừng bắn kéo dài kết thúc mà không đạt được thỏa thuận.
Sau hơn 21 giờ đàm phán tại Islamabad với sự tham gia của quan chức Mỹ, Iran và Pakistan, Phó Tổng thống JD Vance xác nhận vào sáng sớm 12/4 rằng các cuộc đàm phán đã kết thúc mà không đạt được thỏa thuận mở lại tuyến hàng hải hay gia hạn lệnh ngừng bắn vẫn còn mong manh.
Chỉ vài giờ sau khi đàm phán kết thúc, ông Trump đăng trên mạng xã hội rằng ông đã chỉ thị Hải quân Mỹ phong tỏa “mọi tàu thuyền cố gắng đi vào hoặc rời khỏi eo biển Hormuz”, đồng thời chặn các tàu trên vùng biển quốc tế trả “phí bất hợp pháp” cho Iran.
Ông cáo buộc Tehran rải thủy lôi và gây khó khăn cho hoạt động vận tải toàn cầu tại tuyến đường hẹp này, nơi khoảng 20% lượng dầu thế giới thường đi qua, đồng thời cảnh báo rằng “các quốc gia khác” sẽ tham gia cùng Mỹ.
Cùng lúc, ông Trump nhắc lại cảnh báo rằng các chính phủ nước ngoài không được cung cấp vũ khí cho Iran, cảnh báo hậu quả nghiêm trọng đối với bất kỳ quốc gia nào hỗ trợ Tehran.
Tuy nhiên, dù động thái này cho thấy sự chuyển hướng rõ rệt sang biện pháp gây áp lực mạnh mẽ, các chuyên gia quân sự và phân tích hàng hải cho rằng việc thực thi phong tỏa hải quân đối với Iran sẽ cực kỳ khó khăn.
Một cuộc phong tỏa hải quân đối với Iran sẽ là một trong những hành động quân sự quan trọng nhất của Mỹ. Nó sẽ kiểm tra liệu ưu thế hải quân của Mỹ có thể vượt qua chiến lược bất đối xứng của Iran hay không. Đây là chiến lược không nhằm đối đầu trực tiếp lực lượng Mỹ mà khiến việc vận tải trở nên nguy hiểm đến mức tự đình trệ.
Các cuộc đàm phán tại Islamabad, được quan chức Mỹ mô tả là căng thẳng và toàn diện, nhằm giải quyết việc Iran hạn chế tàu thuyền qua eo biển và kéo dài lệnh ngừng bắn. Tuy nhiên, việc kết thúc mà không có thỏa thuận đã loại bỏ rào cản ngoại giao cuối cùng ngăn leo thang.
Trước đó, ông Trump từng ám chỉ có thể chấp nhận mở lại một phần eo biển như một phần của thỏa thuận, nhưng tuyên bố mới cho thấy sự kiên nhẫn của ông dường như đã cạn. Giới chức quân sự Mỹ cho biết các cuộc tấn công trong hơn 1 tháng qua đã phá hủy phần lớn hải quân truyền thống của Iran. Tuy nhiên, các nhà phân tích nhấn mạnh đây không phải công cụ chính của Tehran.
Thế khó với kế hoạch
Iran vận hành hai lực lượng hải quân: hải quân chính quy và lực lượng hải quân của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC). Lực lượng IRGC tập trung vào hoạt động tác chiến bất đối xứng với xuồng cao tốc, tàu tên lửa nhỏ, tàu rải mìn và UAV, phù hợp với vùng nước hẹp của vịnh Ba Tư.
Hơn 60% số xuồng tấn công nhanh của IRGC vẫn còn nguyên vẹn sau nhiều tuần bị Mỹ tấn công, và tiếp tục là mối đe dọa lớn đối với vận tải biển, theo Newsweek. Iran cũng có tàu ngầm cỡ nhỏ hoạt động ở khu vực hẹp của eo biển nước nông, có thể phóng ngư lôi.
Mặt khác, tại điểm hẹp nhất, eo biển Hormuz chỉ rộng khoảng 32km. Điều này tạo lợi thế cho chiến thuật bất đối xứng: Các xuồng nhỏ khó bị phát hiện, có thể ẩn trong tàu cá dân sự hoặc căn cứ ven bờ.
Ngoài ra, Iran có thể tấn công từ đất liền bằng tên lửa chống hạm đặt trên xe tải, cho phép tấn công mà không cần triển khai tàu.
Mặt khác, Iran được cho là sở hữu hàng nghìn thủy lôi. Việc rải mìn có thể thực hiện bí mật và việc rà phá rất chậm, nguy hiểm. Chỉ riêng nguy cơ thủy lôi cũng đủ khiến các công ty vận tải dừng hoạt động.
Iran sở hữu kho thủy lôi hải quân lớn tích lũy qua nhiều thập kỷ, bao gồm thủy lôi tiếp xúc phát nổ khi va chạm, thủy lôi từ tính phát hiện tín hiệu từ trường của thân tàu, thủy lôi âm thanh phản ứng với tiếng chân vịt, và thủy lôi áp suất cảm nhận sự thay đổi áp lực nước khi tàu đi qua.
Các biến thể tiên tiến hơn có thể phân biệt giữa các loại tàu khác nhau, thậm chí được lập trình để chỉ kích nổ với tàu chở dầu lớn mà bỏ qua tàu quét mìn nhỏ hơn.
Thêm vào đó, Iran đã có đội xuồng không người lái (USV) mang thuốc nổ có khả năng tấn công tàu. Điều này khiến việc kiểm soát tuyến hàng hải càng trở nên phức tạp.
Theo các chuyên gia, mục tiêu quan trọng hàng đầu của Iran không phải là thắng trong cuộc đối đầu trực diện với Mỹ. Họ chỉ cần khiến tuyến vận tải đủ trở nên rủi ro là đã thành công trong việc làm gián đoạn hàng hải và đạt được mục tiêu.
Một số chuyên gia cho rằng Mỹ có thể tận dụng ưu thế hải quân để ngăn chặn hoạt động xuất khẩu dầu của Iran, gây áp lực kinh tế lớn mà không cần chiến dịch quân sự kéo dài.
Sau khi đàm phán bất thành, cả Mỹ và Iran đang đánh giá lại lập trường của đối phương. Việc thực thi phong tỏa sẽ đòi hỏi triển khai hải quân quy mô lớn và phối hợp với các đồng minh.
Các công ty vận tải, bảo hiểm và thị trường năng lượng toàn cầu đang chuẩn bị cho tình trạng gián đoạn kéo dài. Ngay cả khi chưa có phong tỏa toàn diện, việc Mỹ siết kiểm soát và Iran tiếp tục gây sức ép cũng có thể khiến lưu lượng vận tải qua eo biển Hormuz duy trì ở mức thấp, tiếp tục gia tăng áp lực lên Washington.