Chiều 9-4, tại họp báo thường kỳ quý 1 của Bộ Tài chính, ông Lưu Đức Huy – Phó cục trưởng Cục Quản lý, Giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính) – cho biết cơ quan này đang lấy ý kiến dự thảo nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Điểm mới đáng chú ý là đề xuất mức giảm trừ chi phí y tế và giáo dục – đào tạo người lao động có thu nhập từ tiền lương, tiền công, trước khi tính thuế.
Theo đó ngoài mức giảm trừ gia cảnh hiện hành 15,5 triệu đồng/tháng cho bản thân và 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc, người nộp thuế sẽ được trừ thêm các khoản chi y tế, giáo dục phát sinh cho cả bản thân và người phụ thuộc.
Dự thảo đưa ra hai phương án. Phương án 1 quy định mức giảm trừ tối đa 20 triệu đồng/năm với chi y tế và 21 triệu đồng/năm với giáo dục – đào tạo. Phương án 2 nâng mức này lên lần lượt 23 triệu đồng/năm và 24 triệu đồng/năm, tương ứng tổng mức giảm trừ tối đa 47 triệu đồng/năm.
Dự kiến nếu được thông qua, quy định này sẽ áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026, bao gồm cả các khoản chi phát sinh từ đầu năm nếu đáp ứng đủ điều kiện.
Lý giải cơ sở đề xuất, ông Huy cho biết mức này được xây dựng dựa trên chi tiêu thực tế của người dân. Năm 2024, chi tiêu y tế bình quân khoảng 3,5 triệu đồng/người, riêng điều trị nội trú khoảng 10,2 triệu đồng/người. Chi tiêu giáo dục – đào tạo bình quân đạt 9,6 triệu đồng/người.
Với tỉ lệ người nộp thuế/người phụ thuộc là 0,8, tổng chi cho hai nhóm dịch vụ này ước khoảng 20,4 triệu đồng/năm cho y tế và 19,2 triệu đồng/năm cho giáo dục. Đây là cơ sở để cơ quan soạn thảo xây dựng các mức giảm trừ.
Trả lời câu hỏi của báo chí về việc mức giảm trừ nêu trên còn thấp, ông Huy cho biết Bộ Tài chính đang tiếp tục tổng hợp góp ý, trên cơ sở đó sẽ tiếp thu, chỉnh lý và báo cáo cấp có thẩm quyền.
Theo tính toán, nếu áp dụng phương án 2, ngân sách nhà nước có thể giảm thu khoảng 7.700 tỉ đồng/năm.
Đáng chú ý, với một người lao động có một người phụ thuộc, sau khi được giảm trừ thêm chi phí y tế, giáo dục, thu nhập khoảng 28 triệu đồng/tháng vẫn chưa phải nộp thuế; từ khoảng 28,63 triệu đồng/tháng trở lên mới bắt đầu phát sinh nghĩa vụ thuế.
Để được giảm trừ, các khoản chi phải phát sinh trong nước, có hóa đơn, chứng từ hợp lệ và không được thanh toán từ các nguồn khác như bảo hiểm, ngân sách hay hỗ trợ của tổ chức, cá nhân.
Theo ông Huy, y tế và giáo dục là các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện nên bắt buộc phải xuất đầy đủ hóa đơn, chứng từ cho người sử dụng dịch vụ.
“Trước đây bán hàng hóa, dịch vụ dưới 200.000 đồng có thể không cần hóa đơn, nhưng từ khi áp dụng hóa đơn điện tử (từ 1-7-2022), dù giá trị nhỏ vẫn phải xuất hóa đơn. Không có lý do gì người dân nộp học phí, viện phí mà không nhận được hóa đơn”, ông Huy nhấn mạnh.
Tính đến nay Việt Nam đã tham gia khoảng 20 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 16 FTA đã được thực thi trong thời gian dài.
Các FTA thế hệ mới như CPTPP (Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) hay EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu) mở ra cơ hội lớn khi nhiều thị trường áp thuế nhập khẩu gạo ở mức 0% hoặc rất thấp.
Tuy nhiên thực tế cho thấy xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào các thị trường truyền thống trong khu vực như Philippines và Indonesia - những quốc gia áp thuế nhập khẩu khá cao - lần lượt khoảng 35% và 25%.
Đáng chú ý trong khuôn khổ RCEP (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực), Philippines không tự do hóa ngành gạo, còn Indonesia vẫn duy trì mức thuế cao. Dù vậy hai thị trường này có thời điểm chiếm tới 60% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.
Trong khi đó các thị trường thuộc CPTPP như Canada áp thuế 0% đối với gạo Việt Nam, Mexico áp 10% với gạo và 0% đối với sản phẩm từ gạo. Đặc biệt theo EVFTA, Liên minh châu Âu dành hạn ngạch 80.000 tấn gạo/năm được miễn thuế, nhưng Việt Nam vẫn chưa tận dụng hết cơ hội này.
Nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên thị trường dễ tiếp cận như Philippines, Indonesia do khoảng cách địa lý gần, thủ tục đơn giản. Tuy nhiên, theo các chuyên gia và doanh nghiệp, nguyên nhân không chỉ dừng lại ở việc "chọn dễ".
Ông Phạm Thái Bình - Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An (TP Cần Thơ) - cho rằng doanh nghiệp không phải không muốn vào các thị trường FTA, mà chủ yếu do thiếu đơn hàng và gặp nhiều rào cản kỹ thuật.
Theo ông Bình, các thị trường khó tính như châu Âu hay Nhật Bản yêu cầu quy trình sản xuất chặt chẽ, truy xuất nguồn gốc rõ ràng và chất lượng ổn định. Trong khi đó phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn này, nên thường lựa chọn thị trường truyền thống có điều kiện nhập khẩu dễ hơn.
"Bên cạnh đó ngành lúa gạo Việt Nam vẫn mang tính nhỏ lẻ, sản xuất phân tán, thiếu liên kết chuỗi. Việc đầu tư cho thương hiệu, công nghệ chế biến và tiêu chuẩn chất lượng còn hạn chế, khiến khả năng tiếp cận các thị trường cao cấp chưa tương xứng với tiềm năng", một doanh nghiệp ngành lúa gạo thừa nhận.
Dù dễ tiếp cận, các thị trường truyền thống lại tiềm ẩn nhiều rủi ro về giá. Theo ghi nhận, đã có thời điểm doanh nghiệp Việt Nam phải chịu lỗ khi xuất khẩu gạo sang Philippines do biến động thị trường.
Lãnh đạo một doanh nghiệp xuất khẩu gạo thừa nhận nhu cầu từ Philippines và Indonesia là "nhu cầu thực", giúp doanh nghiệp dễ tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên việc lựa chọn thị trường này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận biên lợi nhuận thấp, thậm chí rủi ro thua lỗ, trong khi áp lực về giá thường chuyển sang người nông dân.
"Ngoài ra chi phí logistics, giá xăng dầu và vật tư đầu vào tăng cao cũng ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu. Những yếu tố này khiến doanh nghiệp khó mở rộng sang các thị trường đòi hỏi đầu tư lớn về tiêu chuẩn và quy trình sản xuất", vị này nói.
Một lãnh đạo Tập đoàn Tân Long cũng cho biết hoạt động xuất khẩu gạo vẫn diễn ra bình thường, không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thuế nhập khẩu tại các thị trường. Theo vị này, doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu theo điều kiện FOB (giao hàng lên tàu), nên trách nhiệm về thuế và thủ tục nhập khẩu thuộc về đối tác nước ngoài. Do đó doanh nghiệp không trực tiếp nắm rõ mức thuế tại từng thị trường, mà chủ yếu sản xuất và bán hàng theo nhu cầu của khách hàng.
"Điều này cho thấy hoạt động xuất khẩu gạo hiện nay vẫn mang tính "theo đơn hàng", phụ thuộc nhiều vào nhu cầu thị trường, thay vì chủ động định hướng chiến lược khai thác các thị trường FTA", vị này thừa nhận.
Các chuyên gia cho rằng để tận dụng hiệu quả các FTA, ngành lúa gạo Việt Nam cần chuyển đổi mạnh sang sản xuất quy mô lớn, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu. Doanh nghiệp cần đầu tư bài bản vào chuỗi sản xuất - chế biến - xuất khẩu, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc.
Đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong việc khai thác các ưu đãi từ FTA trong bối cảnh nhu cầu gạo thế giới vẫn ở mức cao, cơ hội mở rộng thị trường vẫn còn lớn. "Nếu không thay đổi cách tiếp cận, ngành gạo Việt Nam có thể tiếp tục phụ thuộc vào các thị trường "dễ tính", với giá trị gia tăng thấp và rủi ro cao", một chuyên gia khuyến cáo.
Tại cuộc điện đàm với Thủ tướng Singapore Lawrence Wong ngày 16/4, Thủ tướng Lê Minh Hưng chia sẻ Việt Nam sắp có các chính sách mới nhằm thu hút nhiều hơn đầu tư nước ngoài, trong đó có Singapore.
Ông đề nghị Singapore hỗ trợ Việt Nam xây dựng các trung tâm tài chính quốc tế, mở rộng và nâng cấp mạng lưới các khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP) thế hệ mới gắn với chuyển giao công nghệ cao.
Về phía Singapore, Thủ tướng Lawrence Wong khẳng định tiếp tục đẩy mạnh hợp tác kinh tế, đặc biệt là nâng cấp mạng lưới khu công nghiệp VSIP.
Ông cho biết Singapore sẽ nâng tổng số khu công nghiệp VSIP tại Việt Nam lên 30 trong năm nay, nhân kỷ niệm 30 năm dự án này hiện diện ở Việt Nam. Phía Singapore cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược.
Tại cuộc điện đàm, Thủ tướng Singapore tin tưởng quan hệ hai nước tiếp tục phát triển, tạo đột phá trong các lĩnh vực mới như trao đổi tín chỉ carbon, hợp tác bảo đảm an ninh lương thực.
Hai Thủ tướng nhất trí khả năng ký kết Hiệp định liên chính phủ về mua bán điện phát thải carbon thấp xuyên biên giới nhằm bảo đảm triển khai thành công dự án xuất khẩu điện gió từ Việt Nam sang Singapore.
VSIP (Công ty Liên doanh khu công nghiệp Việt Nam - Singapore) hiện diện từ năm 1996 theo hợp tác giữa hai quốc gia. Hiện VSIP có trên 22 khu công nghiệp tại 15 tỉnh, thành phố. VSIP đang hướng đến thu hút dòng vốn FDI xanh, công nghệ cao. Trọng tâm chiến lược hiện nay là phát triển các khu công nghiệp thông minh, bền vững.
Báo cáo thường niên năm 2025 vừa được Tập đoàn Vingroup (mã chứng khoán: VIC) công bố đã hé lộ những thông tin đáng chú ý về một mảng kinh doanh hoàn toàn mới: Thương mại hóa các ứng dụng vệ tinh ngoài không gian vũ trụ.
Trước đó, hồi tháng 11/2025, giới đầu tư từng xôn xao trước thông tin Công ty cổ phần VinSpace chính thức được thành lập với vốn điều lệ ban đầu 300 tỷ đồng.
Doanh nghiệp này đăng ký hoạt động trong 6 nhóm ngành nghề cốt lõi, bao gồm: Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực khoa học tự nhiên; nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật; sản xuất máy bay, tàu vũ trụ và máy móc liên quan; vận tải hàng hóa hàng không; hoạt động viễn thông vệ tinh và các hoạt động viễn thông khác.
Động thái này chính thức đánh dấu việc ông Phạm Nhật Vượng bước chân vào “cuộc chơi” công nghệ vũ trụ đầy tốn kém và thách thức. Tại thị trường trong nước, trước đây ông Nguyễn Đức Thụy cũng từng đánh tiếng tham gia lĩnh vực này nhưng kế hoạch đã tạm dừng. Còn trên thế giới, sân chơi này hiện chủ yếu nằm trong tay các tỷ phú công nghệ hàng đầu như Elon Musk hay Jeff Bezos.
Cụ thể, theo định hướng trong báo cáo thường niên, VinSpace sẽ tập trung vào hoạt động nghiên cứu, chế tạo chùm vệ tinh siêu nhỏ “Make in Vietnam”. Mục tiêu là cung cấp các ứng dụng viễn thông và viễn thám nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
VinSpace nhấn mạnh công ty đang từng bước làm chủ năng lực chế tạo và đặt mục tiêu đưa những vệ tinh tư nhân siêu nhỏ đầu tiên của Việt Nam lên quỹ đạo ngay trong năm 2027. Để hiện thực hóa mốc thời gian này, doanh nghiệp đang ráo riết xây dựng cơ sở vật chất phòng sạch, trang thiết bị thử nghiệm và hệ thống trạm mặt đất, bảo đảm dự án bám sát tiến độ đề ra.
Song song với quá trình tự nghiên cứu, VinSpace cũng đang đẩy mạnh hợp tác chuyển giao công nghệ vệ tinh với các đối tác chiến lược trong và ngoài nước nhằm phát triển một hệ sinh thái kỹ thuật - vận hành - khai thác hoàn chỉnh.
Dựa trên nền tảng đó, Vingroup hướng tới việc thương mại hóa các dịch vụ vệ tinh, từng bước mở rộng thị phần viễn thông không gian và tạo động lực tăng trưởng dài hạn mới, đồng thời góp phần nâng cao năng lực phòng thủ chung cho toàn bộ hệ sinh thái số của tập đoàn.