Mục Lục
TogglePhó chủ tịch UBND TP.HCM Hoàng Nguyên Dinh chỉ đạo trong quý 2/2026 sẽ khởi công 41 dự án nhà ở xã hội.
Để thực hiện kế hoạch này, ông Hoàng Nguyên Dinh đã giao Sở Xây dựng khẩn trương rà soát, phân loại từng nhóm dự án cần rà soát pháp lý quy hoạch kiến trúc, pháp lý đất đai, pháp lý đầu tư xây dựng và dự kiến thời gian hoàn thành xử lý cụ thể đối với từng dự án.
Rà soát, xác định danh mục các dự án nhà ở thương mại có dành quỹ đất 20% để thực hiện nhà ở xã hội qua các thời kỳ để thống kê, phân loại cụ thể từng nhóm dự án.
Bên cạnh đó, rà soát, thống kê số lượng các khu tái định cư trên địa bàn có khả năng chuyển sang nhà ở xã hội để ưu tiên bố trí tái định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng bởi các dự án.
Sở Xây dựng tiếp nhận hồ sơ liên quan đến chủ trương đầu tư dự án nhà ở xã hội để khẩn trương thực hiện xử lý theo thẩm quyền và quy định pháp luật (luồng xanh).
Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng và đơn vị liên quan nghiên cứu, rà soát quy định pháp luật đề xuất các biện pháp thúc đẩy chủ đầu tư chậm triển khai thực hiện dự án nhà ở xã hội; báo cáo, đề xuất trình UBND TP.HCM xem xét, giải quyết.
Sở Tài chính khẩn trương chủ trì, phối hợp với đơn vị liên quan hoàn chỉnh quy chế quy định cách thức phối hợp, xác định giá trị quyền sử dụng đất tương đương giá trị quỹ đất 20% trong các dự án nhà ở thương mại, khu đô thị khi chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ về nhà ở xã hội bằng hình thức nộp tiền.
Đồng thời, Sở Quy hoạch – Kiến trúc chủ trì, hướng dẫn UBND các phường, xã thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến quy hoạch cho đến khi hoàn thành nội dung xử lý.
Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, hướng dẫn UBND các phường, xã thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai cho đến khi hoàn thành nội dung xử lý.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/tphcm-khoi-cong-41-du-an-nha-o-xa-hoi-trong-quy-nay-185260409164622064.htm
Chốt tiến độ cho loạt tuyến metro, vành đai, cao tốc tại TP.HCM

UBND TP.HCM vừa có văn bản triển khai Thông báo 166 của nguyên Thủ tướng Chính phủ tại cuộc kiểm tra tiến độ dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1 cùng các tuyến đường giao thông kết nối.
Cụ thể, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được đề nghị thủ trưởng các sở, ngành, chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan tập trung nguồn lực triển khai, đôn đốc và hoàn thành đầy đủ các nhiệm vụ được giao, bảo đảm các mốc tiến độ theo chỉ đạo của nguyên Thủ tướng.
Trong đó, dự án xây dựng đường Vành đai 3 TP.HCM và dự án cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu cần hoàn thành toàn bộ, đưa vào khai thác trước 30.6.
Theo kế hoạch ban đầu, tuyến Vành đai 3 phải thông xe kỹ thuật chậm nhất ngày 31.12.2025, hướng tới khai thác toàn tuyến vào 30.4. Tuy nhiên, quá trình thi công gặp nhiều vướng mắc liên quan giải phóng mặt bằng và thiếu vật liệu, tiến độ bị chậm, buộc dời ngày hoàn thành dự án đến 30.6.
Tương tự, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu khởi công tháng 6.2023, dự kiến đưa vào khai thác tạm từ tháng 3 vừa qua. Song, do thiếu hụt nhân công, biến động giá vật liệu, xăng dầu và vướng mặt bằng nên quá trình thi công gặp nhiều khó khăn, dẫn đến chậm tiến độ.
Đối với tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành - Tham Lương, lãnh đạo TP.HCM yêu cầu các đơn vị cần đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành toàn bộ dự án và đưa vào vận hành trong năm 2030.
Trong khi đó, tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành - Thủ Thiêm, Chủ tịch UBND TP yêu cầu cần khẩn trương tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt dự án, đảm bảo đủ điều kiện khởi công dự án trước 30.4. Tuyến đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành cũng cần đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư dự án, phấn đấu khởi công trước 30.6.
Lãnh đạo thành phố cũng đã nhấn mạnh, nếu tiếp tục chậm trễ, người đứng đầu các đơn vị sẽ phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND TP.
UBND TP.HCM giao Sở Tài chính, Sở Xây dựng theo dõi, giám sát tiến độ; kịp thời tham mưu thành phố chỉ đạo kịp thời quá trình thực hiện các dự án, đảm bảo tiến độ và chất lượng dự án.
Nóng: Chính thức hoãn thi hành Nghị định 46

Cụ thể, Nghị quyết 15 hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (6.4.2026) và thay thế Nghị quyết 09 ngày 4.2.2026 của Chính phủ về tạm ngưng hiệu lực áp dụng Nghị định 46 quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật An toàn thực phẩm; Nghị quyết 66.13 quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm của Chính phủ.
Hiệu lực áp dụng cho Nghị quyết 15 này cho đến khi luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) và nghị định hướng dẫn luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) có hiệu lực thi hành.
Trong thời gian tạm ngưng hiệu lực 2 văn bản trên, Nghị định số 15/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật An toàn thực phẩm và các văn bản quy định, hướng dẫn thi hành tiếp tục có hiệu lực. Đối với các hồ sơ đã nộp trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực được tiếp tục giải quyết theo quy định tại Nghị định số 15/2018 của Chính phủ và các văn bản quy định, hướng dẫn có liên quan.
Nghị quyết giao cho Bộ Y tế, Công thương, Nông nghiệp và Môi trường chủ động hướng dẫn tổ chức triển khai thi hành theo lĩnh vực được phân công quản lý.
Ngoài ra, Bộ Y tế có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi, giám sát, xử lý các hành vi vi phạm về đăng ký bản công bố sản phẩm, quảng cáo đối với các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực được phân công quản lý; điều kiện sản xuất đối với cơ sở đã được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đạt yêu cầu Thực hành sản xuất tốt (GMP) thực phẩm bảo vệ sức khỏe và các cơ sở đáp ứng thực hành tốt sản xuất thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền tham gia sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe.
Bộ Công thương kiểm tra, rà soát, theo dõi, giám sát, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh thực phẩm, thực phẩm giả, hàng cấm, hàng nhập lậu và các hành vi gian lận thương mại khác về thực phẩm trên nền tảng thương mại điện tử.
Bộ Khoa học và Công nghệ tăng cường kiểm tra, theo dõi, giám sát hoạt động của các tổ chức đã đăng ký hoạt động công nhận (trong đó có hoạt động công nhận phòng thử nghiệm); phối hợp với các bộ khác rà soát, hoàn thiện, bảo đảm đầy đủ các tiêu chuẩn quốc gia về thực phẩm...
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tăng quản lý hoạt động quảng cáo theo chức năng, nhiệm vụ liên quan đến thực phẩm theo quy định tại điều 24 Nghị định 342/2025.
Đặc biệt, Chính phủ giao các bộ Y tế, Nông nghiệp và Môi trường, Công thương, Tài chính và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có trách nhiệm hoàn thiện việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng dịch vụ công quốc gia để giải quyết các thủ tục hành chính và quản lý an toàn thực phẩm, thống nhất dữ liệu quản lý về an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương; đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý sản phẩm thực phẩm.
Trước đó, Văn phòng Chính phủ có Thông báo đồng ý cho lùi thời gian thực hiện Nghị định 46, Nghị quyết 66 về công bố, đăng ký thực phẩm tiếp tục cho đến khi luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn mới có hiệu lực.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/nong-chinh-thuc-hoan-thi-hanh-nghi-dinh-46-185260407163733383.htm
Phát triển bền vững đô thị Việt Nam: Nâng tầm vị thế quốc gia

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
"Việc đặt mục tiêu ở mức "trung bình cao" trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững", TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các "đầu tàu" nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 - 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 - 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông - việc làm - nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công - tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
"Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045", KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là "xương sống" của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.




