Ngày 8/4, Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm PGS. TS Hoàng Minh Sơn làm Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo. Đây luôn là “ghế nóng” với bộ máy nhân sự khổng lồ – hơn 1,6 triệu thầy cô, tác động đến khoảng 26 triệu học sinh, sinh viên.
Ông Lê Như Tiến, nguyên Phó chủ nhiệm Uỷ ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng (cũ) của Quốc hội, nhận định: “Tân Bộ trưởng sẽ đối mặt những thách thức mang tính thời đại khi giáo dục đang ở giai đoạn đổi mới toàn diện”.
“Mục tiêu của giáo dục không chỉ là truyền thụ kiến thức mà phải trang bị kỹ năng để người học thích ứng với thay đổi. Đó là đòi hỏi rất cao, người đứng đầu ngành phải có tầm nhìn để hiện thực hóa”, ông nói thêm.
Cuộc ‘đại phẫu’ mạng lưới giáo dục đại học
Cả nước có khoảng 240 trường đại học. Nghị quyết 71 nêu rõ hệ thống đại học hiện phát triển manh mún, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nghiên cứu khoa học. Bộ Chính trị yêu cầu khẩn trương sắp xếp, tái cấu trúc hoặc sáp nhập, giải thể trường không đạt chuẩn.
Trả lời báo chí khi còn là Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, ông Hoàng Minh Sơn nói đây là cơ hội và sứ mệnh để đẩy mạnh chất lượng giáo dục đại học.
Bộ đã có định hướng về việc này, đề nghị các bên hoàn thành hồ sơ trình cấp thẩm quyền trước 30/6. Tuy nhiên, chuyên gia nhìn nhận như vậy là chưa đủ.
TS Lê Viết Khuyến, Phó chủ tịch Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, nhấn mạnh tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học không chỉ cốt tinh gọn bộ máy, mà còn phải kiến tạo được một trục liên thông, giúp người học thuận lợi đi lên các bậc cao hơn.
Cùng đó là nhiều bài toán khác như bảo đảm quyền tự chủ toàn diện cho các trường mà không phụ thuộc mức độ tài chính; đầu tư cho nhóm ngành công nghệ mũi nhọn, thu hút giảng viên giỏi… để Việt Nam có ít nhất 8 trường thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, một trường vào top 100 thế giới ở một số lĩnh vực vào năm 2030, theo Nghị quyết 71.
“Việc có đại học trong top 100 thế giới sẽ là thách thức lớn với ngành giáo dục”, ông Tiến nói.
Xáo trộn tuyển sinh
Hơn 20 năm qua, tuyển sinh đại học có 6 lần thay đổi lớn. Từ chỗ thí sinh đăng ký trường nào phải thi tại trường đó; tổ chức kỳ thi “ba chung”: chung đề, chung đợt thi và sử dụng chung kết quả; đến tự chủ tuyển sinh, bùng nổ hàng loạt phương thức, kỳ thi riêng.
Năm ngoái, các trường phải bỏ xét tuyển sớm, quy đổi điểm tương đương các phương thức, tổ hợp. Mỗi trường lại đưa ra công thức tính riêng, dựa trên nhiều yếu tố như phổ điểm thi, kết quả của sinh viên khóa trước, đặc thù ngành…
Đến năm nay, cách mùa tuyển sinh khoảng 4-5 tháng, Bộ lại yêu cầu điều chỉnh xét tuyển học bạ với ràng buộc về điểm thi tốt nghiệp, đổi cách tính điểm cộng với chứng chỉ ngoại ngữ.
Các thay đổi, theo Bộ, giúp việc tuyển sinh công bằng hơn và giảm áp lực, song chuyên gia nhìn nhận việc này không có “thời gian chờ”, khiến thí sinh, phụ huynh bị động, rối loạn thông tin.
Trên thế giới, chính sách tuyển sinh đại học về cơ bản ổn định với hai hướng chủ đạo: Trung Quốc, Hàn Quốc tổ chức kỳ thi đại học chung toàn quốc; Mỹ, châu Âu để đại học tự chủ.
Tranh cãi dạy thêm – học thêm
Thông tư 29 của Bộ về dạy thêm, học thêm được coi như “liều thuốc mạnh” khi hạn chế dạy thêm trong trường và phải miễn phí. Song, nó gây tranh cãi suốt một năm qua, nhiều hiệu trưởng, chuyên gia cho rằng các quy định chỉ giải quyết “phần ngọn”, không làm giảm nhu cầu, trong khi phụ huynh tốn tiền gấp 2-4 lần vì phải đưa con em ra bên ngoài.
Ông Hoàng Minh Sơn trong hội nghị tiếp xúc cử tri đầu tháng 3 ở Hà Nội đã khẳng định một mặt “đấu tranh với những hiện tượng chưa lành mạnh” trong dạy thêm, học thêm, song sẽ tiếp thu các góc nhìn khác.
Trả lời VnExpress hồi tháng 3, TS Trần Thành Nam, Phó hiệu trưởng trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng về lâu dài, ngành giáo dục cần làm tốt ba việc: đổi mới thi cử, đào tạo được những thế hệ giáo viên có phẩm chất tốt, học sinh có kỹ năng và tinh thần tự học.
Thiếu giáo viên dai dẳng
Nhiệm kỳ của Tân Bộ trưởng còn đối mặt một bài toán dai dẳng: cả nước thiếu khoảng 124.000 giáo viên, tính đến tháng 2/2026. Nhưng áp lực còn nằm ở sự mất cân đối, thừa – thiếu cục bộ, “khát” giáo viên mầm non, Tiếng Anh và các môn đặc thù như Tin học và Nghệ thuật. Nhiều địa phương có biên chế nhưng không có nguồn để tuyển. Cùng đó, tình trạng giáo viên nghỉ việc, chuyển việc có xu hướng gia tăng tại một số nơi.
Trong khi đó, cả nước đang triển khai đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục; thực hiện phổ cập mầm non cho trẻ từ 3 tuổi; tiếp tục đổi mới chương trình phổ thông theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực; đẩy mạnh chuyển đổi số… nên đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ nhà giáo.
Điều này đòi hỏi phải có chính sách và giải pháp phát triển đội ngũ đồng bộ, có hệ thống và dài hạn.
Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học
Bộ Chính trị từ tháng 8/2024 đề nghị từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Hiện, môn Tiếng Anh là bắt buộc từ lớp 3. Chưa địa phương nào dạy tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai trên quy mô toàn tỉnh, mà mới ở dạng thí điểm. Năm học trước, khoảng 190.000 học sinh được học môn khác bằng ngôn ngữ này hoặc chương trình tích hợp.
Theo Bộ, để tiếng Anh được dùng rộng rãi ở tất cả 52.000 trường học, cả nước cần thêm 12.000 thầy cô có khả năng dạy bằng tiếng Anh vào năm 2030. Trong khi đó, hiện nhiều tỉnh, thành vẫn loay hoay vì không tuyển được giáo viên môn này. Ngoài ra, cơ sở vật chất, điều kiện để dạy và học tiếng Anh còn nhiều khó khăn, đặc biệt ở khu vực miền núi.
Kết quả môn ngữ văn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2021–2025 cho thấy Hải Phòng và Hà Nội duy trì điểm khá cao, Huế tăng rõ rệt, TP.HCM và Cần Thơ biến động mạnh, trong khi Đà Nẵng thuộc nhóm cuối.
Kết quả đối sánh môn ngữ văn 6 thành phố trước sáp nhập
Trong nhiều năm, đánh giá chất lượng giáo dục Việt Nam chủ yếu dựa vào đối sánh kết quả thi THPT giữa các địa phương với so sánh chung toàn quốc. Cách làm này thiếu công bằng vì điều kiện kinh tế – xã hội, đầu vào học sinh rất khác nhau. Trong bối cảnh đó, đối sánh nhóm trở thành cách tiếp cận phù hợp. Đối sánh nhóm là so sánh kết quả học tập, thi cử giữa các đơn vị tương đồng về điều kiện. Chẳng hạn, với 6 thành phố trực thuộc T.Ư trước và sau khi sáp nhập.
Xét điểm trung bình môn ngữ văn giai đoạn 2021–2025, Hải Phòng dẫn đầu với hơn 7,44 điểm, tiếp đến là Hà Nội trên 7,14 điểm, đều cao hơn mức trung bình của nhóm khoảng 6,75 điểm. Hai địa phương này duy trì chất lượng khá ổn định. Huế đạt mức trung bình, có xu hướng cải thiện trong các năm 2024–2025 gần đây rõ rệt hơn.
Ngược lại, TP.HCM và Cần Thơ thuộc nhóm trung bình thấp, điểm số không quá yếu nhưng thứ hạng biến động mạnh. Đáng chú ý, Sóc Trăng có điểm ngữ văn cao hơn Cần Thơ và Hậu Giang. Điều này phản ánh đặc trưng đô thị lớn, nơi thí sinh đông, phân hóa cao và nhiều học sinh không đặt nặng kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Riêng Đà Nẵng (cũ), điểm trung bình 5 năm chỉ hơn 6 điểm, thấp nhất; thứ hạng hầu như luôn nằm ở nhóm cuối của cả nước, và năm 2025 rơi xuống vị trí 63/63.
Để đảm bảo tính so sánh tương đồng, giá trị trung bình của nhóm được xác định bằng trung bình cộng điểm trung bình môn ngữ văn của 12 địa phương theo từng năm; trong khi đó, trung bình cả nước được tính bằng trung bình cộng điểm trung bình của 63 tỉnh, thành. Dữ liệu điểm thi và thứ hạng môn ngữ văn 12 địa phương thể hiện ở bảng sau.
Bức tranh điểm trung bình và xếp hạng môn ngữ văn năm 2025 của 6 thành phố trực thuộc T.Ư sau sáp nhập cho thấy sự phân hóa khá rõ.
Hà Nội giữ vị trí cao với 7,62 điểm, xếp 3/34, nhờ không thay đổi địa giới, bảo đảm sự ổn định về đội ngũ và cách đánh giá. Cần Thơ sau khi sáp nhập Hậu Giang và Sóc Trăng đạt 7,23 điểm, xếp 5/34; Huế với điểm trung bình 7,18 điểm, xếp 7/34, vẫn phát huy truyền thống dạy – học ngữ văn.
TP.HCM sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu đạt 7,07 điểm, xếp 9/34; Hải Phòng sáp nhập Hải Dương đạt 7,03 điểm, xếp 10/34.
Riêng Đà Nẵng sau khi sáp nhập với Quảng Nam chỉ đạt 6,26 điểm, xếp 33/34. Kết quả này vừa phản ánh sự chênh lệch vùng miền, vừa gợi lại tranh luận về cách chấm ngữ văn ở Đà Nẵng vốn được cho là nghiêm và chặt.
Một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến chất lượng ngữ văn ở các thành phố không cao nằm ở sự thay đổi trong việc ưu tiên trong học tập. Trong nhiều năm, các đô thị lớn tập trung mạnh vào ngành nghề STEM, công nghệ, ngoại ngữ, kỹ năng số và hội nhập quốc tế. Đây là lựa chọn hợp lý trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số nhưng hệ quả không mong muốn là ngữ văn dần bị đẩy xuống vị trí thứ yếu.
Với không ít học sinh thành phố, ngữ văn trở thành môn chỉ cần "đủ điểm tốt nghiệp", không phải môn quyết định tương lai. Khi động lực học tập không cao, kết quả trung bình khó có thể bứt phá, đặc biệt trong một kỳ thi ngày càng coi trọng năng lực đọc hiểu và nghị luận xã hội, thể hiện ý kiến cá nhân về một vấn đề nào đó.
Với trường hợp Đà Nẵng, thành phố này không chỉ được biết đến với sự quan tâm cho giáo dục mà còn nổi bật bởi văn hóa thi cử nghiêm túc, kỷ cương. Tuy nhiên, điểm thi môn ngữ văn thấp gần đây làm dấy lên nhiều tranh luận. Một số ý kiến cho rằng cách chấm thi còn chặt, thiên về "ý chuẩn", ít linh hoạt với bài viết sáng tạo. Ý kiến khác lại nhìn nhận học sinh chưa đầu tư đúng mức cho môn văn khi xu hướng lựa chọn các ngành STEM ngày càng mạnh.
Những nhận định này cần được nhìn nhận thận trọng nhưng có cơ sở. Đà Nẵng vốn đề cao sự chuẩn mực, rõ ràng trong quản lý – điều phù hợp với các lĩnh vực khoa học, công nghệ. Nhưng với ngữ văn, môn học đòi hỏi tư duy mở và cá tính, cách chấm quá khuôn mẫu có thể khiến những bài viết sáng tạo bị đánh giá thấp.
Từ năm 2025, khi đề thi ngữ văn không còn bám sách giáo khoa, tăng yêu cầu đọc hiểu và bày tỏ chính kiến, hạn chế này càng bộc lộ rõ. Chấm mở không đồng nghĩa với chấm dễ, mà đòi hỏi bản lĩnh nghề nghiệp và sự đổi mới tư duy của giáo viên.
Cũng cần nhấn mạnh rằng điểm thi thấp không đồng nghĩa học sinh Đà Nẵng yếu. Đây là địa phương có tỷ lệ học sinh theo học chương trình chất lượng cao, quốc tế khá lớn, nên ít tập trung vào bài thi ngữ văn theo chuẩn quốc gia. Dù vậy, trong bối cảnh hội nhập, năng lực ngôn ngữ và viết vẫn là nền tảng quan trọng cho học tập và phát triển lâu dài.
Trong khi đó, Hà Nội và Hải Phòng, cũng là những đô thị lớn, nhưng vẫn duy trì được chất lượng ngữ văn khá ổn định.
Huế là ví dụ điển hình cho sự trở lại của "văn hóa học văn". Khi đề thi chuyển sang đánh giá năng lực đọc hiểu, Huế – với truyền thống nhân văn và chiều sâu văn hóa – đã cải thiện thứ hạng rõ rệt năm 2024, 2025. Điều này cho thấy đề thi mới không bất lợi cho đô thị, mà bất lợi cho nơi chưa coi trọng năng lực ngôn ngữ đúng mức.
Để nâng cao chất lượng môn ngữ văn, các thành phố cần thay đổi từ gốc, chứ không chỉ điều chỉnh kỹ thuật ôn thi hay chấm thi.
Trước hết, cần khẳng định ngữ văn là môn học công cụ, nền tảng cho tư duy phản biện, giao tiếp, hợp tác và sáng tạo – những năng lực cốt lõi của công dân toàn cầu. Ngữ văn không đối lập với STEM mà là môi trường để STEM vận hành hiệu quả. Ngữ văn cùng với toán là 2 trụ cột chính trong các tổ hợp tuyển sinh ĐH.
Thứ hai, cần đổi mới cách dạy theo hướng phát triển năng lực đọc – viết – nói – nghe, gắn với các vấn đề đương đại, liên ngành, toàn cầu. Học sinh phải được tranh luận, phản biện, trình bày chính kiến, thay vì chỉ học thuộc văn mẫu và phân tích tác phẩm.
Thứ ba, đổi mới cách chấm và đánh giá. Chấp nhận sự khác biệt có lý lẽ, khuyến khích lập luận độc lập, coi trọng cách diễn đạt sáng tạo. Đây là khâu khó nhất nhưng quyết định thành công của đề thi mở. Riêng Đà Nẵng, giải pháp then chốt là chuyển từ kỷ cương cứng sang kỷ cương mềm trong môn ngữ văn. Nghiêm túc không đồng nghĩa với khép chặt. Thành phố cần đầu tư bồi dưỡng giáo viên ngữ văn theo hướng giáo dục ngôn ngữ hiện đại, giúp họ tự tin đánh giá bài viết sáng tạo mà vẫn công bằng.
Cùng đó, đưa ngữ văn trở lại đúng vị thế trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực: coi năng lực diễn đạt, thuyết phục, phản biện là kỹ năng sống còn của công dân toàn cầu và trái tim bản sắc dân tộc Việt Nam.
Ngày 4.4, Đại học (ĐH) Trà Vinh tổ chức lễ công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Trường ĐH Trà Vinh thành ĐH Trà Vinh.
Tại buổi lễ, ông Hoàng Bách Việt, Phó vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Trường ĐH Trà Vinh thành ĐH Trà Vinh.
Theo PGS-TS Nguyễn Minh Hòa, Giám đốc ĐH Trà Vinh, việc chuyển đổi từ Trường ĐH Trà Vinh thành ĐH Trà Vinh là kết quả của hành trình phát triển bền bỉ qua nhiều giai đoạn. Từ mô hình cao đẳng cộng đồng tiên phong đến Trường ĐH Trà Vinh và nay là ĐH Trà Vinh. Đây không chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà còn là sự ghi nhận của Đảng và Nhà nước đối với những thành tựu nổi bật của nhà trường về quy mô, chất lượng và đóng góp cho xã hội.
Sự kiện hôm nay đánh dấu bước ngoặt quan trọng, mở ra giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về tự chủ đại học, trách nhiệm giải trình và hội nhập quốc tế trong bối cảnh luật Giáo dục đại học năm 2025 chính thức có hiệu lực.
Mặc dù thiết chế Hội đồng trường đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử nhưng ĐH Trà Vinh vẫn tiếp tục khẳng định sự nhất quán trong phát huy tinh thần dân chủ, đề cao trí tuệ thông qua việc ra mắt Hội đồng Chiến lược ĐH Trà Vinh – nơi quy tụ các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý uy tín, nhằm tham vấn, định hướng và kiến tạo các quyết sách mang tính chiến lược, góp phần nâng cao chất lượng quản trị đại học trong giai đoạn mới.
Trên cơ sở quán triệt các định hướng lớn từ Nghị quyết số 71 của Trung ương, Nghị quyết số 12 của Chính phủ, cùng Chương trình hành động số 06 của Tỉnh ủy và Kế hoạch số 12 của Ủy ban nhân dân tỉnh, ĐH Trà Vinh xác định kế hoạch hành động trong thời gian tới với 3 trụ cột cốt lõi gồm: kiến tạo mô hình quản trị hiện đại và phát triển đội ngũ tinh hoa; Nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo; Phát triển không gian đại học thông minh, hiện đại và bền vững.
Nhà trường đặt mục tiêu trở thành một trong những cơ sở giáo dục đại học hàng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vào năm 2030, tiến tới top 500 đại học hàng đầu châu Á vào năm 2035.
Phát biểu tại buổi lễ, bà Hồ Thị Hoàng Yến, Phó bí thư thường trực Tỉnh ủy Vĩnh Long, nhấn mạnh: "Trước yêu cầu phát triển mới, chúng ta phải hành động với quyết tâm cao hơn, tư duy đổi mới mạnh mẽ hơn và cách làm hiệu quả hơn. Phải 'Đột phá tư duy – Nâng tầm tri thức - Kiến tạo phát triển'. Tôi tin tưởng rằng, với truyền thống, nền tảng đã có và khát vọng vươn lên, ĐH Trà Vinh sẽ phát triển mạnh mẽ, trở thành niềm tự hào của tỉnh và của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long...".
ĐH Trà Vinh hoạt động theo mô hình đa ngành, đa bậc học từ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, các chuyên khoa cấp I, cấp II khoa học sức khỏe, với 5 trường thành viên gồm Trường Ngôn ngữ – Văn hóa – Nghệ thuật Khmer Nam bộ và Nhân văn; Trường Kinh tế, Luật; Trường Y Dược; Trường Kỹ thuật và Công nghệ, Trường Thực hành sư phạm.
Bên cạnh đó, còn có hệ thống Bệnh viện ĐH Trà Vinh, thành lập Viện dừa ĐBSCL, Viện Công nghệ sinh học, Vườn ươm doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long, Trung tâm LOTUS - thích ứng biến đổi khí hậu & chuyển giao công nghệ và các đơn vị nghiên cứu, chuyển giao công nghệ – phục vụ cộng đồng. Với quy mô đào tạo hơn 20.000 sinh viên, mục tiêu của nhà trường là cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và ứng dụng phục vụ sự phát triển địa phương, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước.
Châu, hiện là sinh viên năm cuối ngành Khoa học máy tính tại Đại học Pomona (Mỹ), nhận thư trúng tuyển từ ba ngôi trường Ivy League vào cuối tháng 2. Cả ba đều trao khoản hỗ trợ toàn phần, gồm học phí, bảo hiểm, và sinh hoạt phí trong 5 năm, tổng giá trị khoảng 12-17 tỷ đồng ở mỗi trường.
"Đây vừa là thành quả của quá trình bền bỉ suốt 4 năm đại học, vừa giống như một tín hiệu xác nhận rằng mình thực sự thuộc về con đường nghiên cứu khoa học", Châu nói.
Ngày học lớp chuyên Anh ở trường THPT chuyên Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Châu đã mày mò tự học lập trình. Gõ từng dòng code đầu tiên để tạo ra sản phẩm và đưa lên mạng, Châu phấn khích thấy nhiều người sử dụng. Nhưng khi bước chân vào đại học, nữ sinh nhận ra bản thân không muốn dừng lại ở việc làm kỹ sư phần mềm mà còn muốn theo đuổi nghiên cứu.
Ngay từ kỳ đầu năm thứ nhất, Châu chủ động xin giáo sư cho thử sức, làm quen với lĩnh vực Robotics - Kỹ thuật robot. Cô sớm hiểu rằng công nghệ đang phát triển với tốc độ chóng mặt, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro và trăn trở với câu hỏi làm sao để công nghệ đổi mới liên tục, nhưng an toàn.
Tới năm thứ hai, Châu làm một dự án mới và ngay lập tức thấy bản thân phù hợp với lĩnh vực Tương tác người - máy (Human-Computer Interaction - HCI), nơi có sự giao thoa giữa kỹ thuật, khoa học nhận thức và thiết kế.
"Mình muốn đóng góp cho cộng đồng bằng cách xây dựng những hệ thống đặt con người làm trung tâm", Châu nói.
Nghiên cứu này có tên "Tính thời điểm của việc nhìn lại dữ liệu trong các ứng dụng theo dõi sức khỏe trẻ sơ sinh", do Châu là đồng tác giả chính. Năm 2025, dự án nằm trong top 5% bài báo xuất sắc của Hội nghị về các yếu tố con người trong hệ thống máy tính của Hiệp hội Máy tính (ACM CHI) 2025 tại Nhật Bản.
Cùng năm, Châu thực hiện một đề tài khác cùng nhóm nghiên cứu ở Đại học Pomona và Stanford, đạt giải Bài báo xuất sắc (Top 1%) ở Hội nghị chuyên đề về Phần mềm và Công nghệ Giao diện Người dùng (ACM UIST) tại Hàn Quốc. Nghiên cứu tập trung vào thiết kế thuật toán AI để đưa ra phản hồi cho các họa sĩ kỹ thuật số nhằm cải thiện kỹ năng vẽ.
Nhờ những kết quả này, hồi tháng 2, Châu là một trong 8 sinh viên được Hiệp hội nghiên cứu máy tính (CRA) vinh danh là Nhà nghiên cứu xuất sắc bậc đại học trên toàn Bắc Mỹ, là sinh viên đầu tiên từ Đại học Pomona có thành tích này.
Châu nhìn nhận những dự án trên là thế mạnh giúp hồ sơ của mình nổi bật, bởi cho thấy tố chất bền bỉ và khả năng theo đuổi vấn đề đến cùng của một nhà nghiên cứu.
Cùng kỹ năng lập trình vững do liên tục trau dồi từ ngày mới vào đại học, Châu trúng tuyển vị trí thực tập sinh tại ba tập đoàn công nghệ lớn là Microsoft, Amazon và Qualcomm, sau đó làm thực tập sinh kỹ sư phần mềm ở bộ phận tối ưu hóa đồ họa vi tính tại Microsoft. Nữ sinh nhìn nhận trải nghiệm này giúp tích lũy kinh nghiệm, rèn tư duy phân tích và năng lực nghiên cứu trong môi trường công nghệ hàng đầu.
PGS Alexandra Papoutsaki, người hướng dẫn Châu từ năm thứ hai đại học, nhận xét nữ sinh sở hữu kỹ năng kỹ thuật xuất sắc lẫn tư duy nhạy bén trong các nghiên cứu lấy con người làm trung tâm.
Theo bà, tương tác người - máy không chỉ đơn thuần là xây dựng một sản phẩm, mà còn là "khả năng kể một câu chuyện xoay quanh sản phẩm đó". Châu có khả năng kết nối với mọi người để phân tích dữ liệu và viết nên những nội dung có sức thuyết phục cao.
"Kỹ năng của Châu tương đương với một nghiên cứu sinh tiến sĩ năm thứ ba", bà khẳng định.
Châu nói từng gặp không ít áp lực, nhất là giai đoạn vừa phải học, luyện kỹ năng lập trình, làm nghiên cứu và ứng tuyển thực tập. Nữ sinh cố gắng duy trì kỷ luật nghiêm ngặt, lên kế hoạch chi tiết theo từng tuần. Dù vậy, Châu cũng không vùi đầu vào công việc mà sắp xếp thời gian tập thể thao, chơi piano hàng ngày và ngủ đủ để cân bằng.
Song song, mỗi khi có cơ hội, chẳng hạn như tham dự hội thảo quốc tế, Châu chủ động trao đổi, kết nối với các giáo sư và nhà nghiên cứu trong ngành, vừa để mở rộng mạng lưới, vừa để lấy động lực cho bản thân.
"Cộng đồng nghiên cứu của ngành này vừa giỏi và sáng tạo, vừa quan tâm đến việc phát triển công nghệ cho con người. Mỗi lần được gặp họ, mình được truyền cảm hứng rất nhiều", Châu tâm sự.
Đây cũng là một trong những lý do để Châu chọn theo chương trình tiến sĩ sau khi ra trường dù trúng tuyển một số công ty công nghệ.
Khi cân nhắc những "bến đỗ", Châu nộp đơn vào các trường Ivy League để có cơ hội tận dụng thế mạnh liên ngành của họ. Theo nữ sinh Việt, đây là những môi trường mà công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, tạo nền tảng thuận lợi để theo đuổi lĩnh vực tương tác người – máy, vượt qua giới hạn của ngành khoa học máy tính thuần túy.
Nhìn lại hành trình, Châu thích nhất việc được tìm hiểu một dự án, sau đó biện luận, phát triển những ý tưởng riêng, rồi tự tay lập trình và thử nghiệm sản phẩm. Cô thấy công việc nghiên cứu là tổng hòa của rất nhiều hoạt động mà mình đam mê, nên càng có động lực theo con đường khoa học.
Châu vẫn đang cân nhắc giữa ba ngôi trường "trong mơ". Dù lựa chọn thế nào, định hướng sắp tới của Châu vẫn xoay quanh việc xây dựng các tương tác an toàn giữa con người và AI.