Gần đây có nhiều vụ tai nạn liên quan đến phương tiện vượt đường sắt sai quy định. Bản thân tôi cũng mới gặp một tình huống tương tự. Hôm đó, tôi đi xe máy trên một con đường nhỏ gần nhà, qua một đoạn đường sắt cắt ngang. Đèn tín hiệu bắt đầu nháy đỏ, chuông báo reo lên, tôi chủ động giảm ga và dừng lại trước vạch kẻ như thói quen.
Bỗng từ phía sau có tiếng còi ôtô vang lên khiến tôi giật mình. Tôi quay đầu lại, thấy một ôtô bốn bánh cũng vừa chạy tới, dừng sát đuôi xe tôi. Tài xế tỏ ra sốt ruột, khó chịu, liên tục bấm còi, tìm cách đánh lái để cố lách qua khoảng trống bên trái để vượt lên. Vừa lách qua, anh ta hạ kính, và ném về phía tôi những lời khó nghe: “Điếc à? Đang đi thì dừng”. Tôi chỉ biết ngồi yên trên xe, vừa khó chịu, vừa bối rối, không dám phản ứng gì.
Theo quy định, tại nơi đường bộ giao nhau với đường sắt, khi có đèn đỏ bật sáng, chuông báo vang lên, hoặc rào chắn hạ xuống, tất cả phương tiện đều phải dừng lại trước vạch dừng, giữ khoảng cách an toàn tối thiểu 5 mét tính từ đường ray gần nhất. Tuyệt đối, người tham gia giao thông không được vượt qua trong bất kỳ tình huống nào. Đó không chỉ là luật, mà là nguyên tắc an toàn cơ bản, bởi tàu hỏa không thể phanh gấp như các phương tiện khác.
>> Thiếu nữ cắm mặt vào điện thoại báo hại hàng ôtô chờ đèn đỏ
Nhưng thực tế, tôi nhận ra không phải ai cũng hiểu và tuân thủ đúng quy định này. Không ít lần, tôi chứng kiến cảnh mọi người cố len lỏi, tranh thủ vài giây trước khi barie hạ xuống để băng qua đường sắt. Có người còn luồn lách qua ngay cả khi thanh chắn đã bắt đầu hạ, như thể chỉ cần nhanh hơn vài giây là sẽ “thoát”. Họ chỉ chịu dừng lại khi không còn cách nào khác.
Tôi không biết người tài xế hôm đó có thực sự vội đến mức phải bất chấp như vậy không? Nhưng cách anh ta phản ứng khiến tôi nghĩ nhiều hơn về một thói quen coi thường những quy tắc an toàn khi chưa thấy hậu quả xảy ra. Chúng ta thường dễ dàng phá luật trong những tình huống “có vẻ chưa nguy hiểm”. Một tín hiệu đèn đỏ, một tiếng chuông cảnh báo đôi khi bị xem nhẹ, vì chưa có đoàn tàu nào xuất hiện ngay trước mắt. Nhưng chính sự chủ quan đó lại là điều đáng sợ nhất. Tai nạn đường sắt, nếu xảy ra, gần như không có cơ hội sửa sai.
Khi đoàn tàu đi qua, tôi tiếp tục hành trình của mình. Nhưng câu chuyện ngày hôm ấy vẫn khiến tôi suy nghĩ. Đôi khi, chỉ cần chậm lại vài phút, chúng ta có thể tránh được những rủi ro không đáng có. Và quan trọng hơn, việc tuân thủ luật không phải để đối phó hay sợ bị phạt, mà là để tự bảo vệ chính mình, cũng như những người xung quanh.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 81 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt, có hiệu lực từ ngày 15/5. Trong đó, xe máy vượt rào chắn đường sắt bị phạt tối đa 6 triệu đồng, tước bằng thay vì một triệu, ôtô nhận mức 20 triệu thay vì 5 triệu đồng như trước.
Dung To
Mỗi mùa bế giảng đi qua, tôi lại nghe người ta nói đi nói lại một câu quen thuộc: "Giáo viên sướng thật, nghỉ hè hai tháng mà lương vẫn đều". Mới đây, một quy định mới về việc giáo viên được nghỉ hè 8 tuần, hưởng nguyên lương và phụ cấp, vô tình lại thổi bùng lên những tranh cãi ấy.
Nghe qua, nhiều người dễ hình dung đó là một khoảng thời gian thảnh thơi, đủ dài để giáo viên có thể thảnh thơi rời xa công việc. Nhưng thực tế của nghề này lại không vận hành theo cách mà những con số có thể diễn đạt trọn vẹn. Bởi nếu chỉ nhìn vào thời gian "được nghỉ", ta sẽ vô tình bỏ qua phần thời gian "vẫn đang làm" của nhà giáo, chỉ là họ không còn đứng trên bục giảng.
Giáo viên vẫn có thể được gọi trở lại bất cứ lúc nào cho những nhiệm vụ không thể trì hoãn: coi thi, chấm thi, tập huấn chuyên môn, hỗ trợ tuyển sinh... Những công việc ấy không ồn ào, nhưng lại đòi hỏi sự tập trung và trách nhiệm không kém, thậm chí có lúc còn căng thẳng hơn cả giờ lên lớp.
Vì thế, nói giáo viên "nghỉ hè" không có nghĩa là họ được "nghỉ hoàn toàn". Đó giống như một quãng chuyển nhịp từ dạy học trực tiếp sang những công việc phía sau "cánh gà", nơi ít được nhắc đến nhưng lại giữ vai trò không thể thay thế. Từng đi qua nghề này, nên tôi hiểu: có những áp lực không nằm ở số tiết dạy, mà nằm ở trách nhiệm phải làm cho đúng ngay cả khi lớp học đã vắng tiếng học trò.
Giáo viên không làm việc theo kiểu đến cơ quan, chấm công rồi ra về. Công việc của họ không kết thúc khi hết giờ học, và cũng không bắt đầu khi tiếng trống vang lên. Nó trải dài theo năm học, dồn lại ở những giai đoạn cao điểm như kiểm tra, thi cử, tổng kết - nơi mà cường độ làm việc không chỉ tăng lên, mà đôi khi còn "chiếm trọn" cả thời gian riêng tư. Có những buổi tối sửa bài đến khuya, những ngày cuối kỳ gần như không có khái niệm nghỉ ngơi. Nhưng những phần việc ấy lại không hiện lên trên bảng chấm công.
>> 'Chấm dứt dạy thêm khi lương giáo viên tăng'
Có một sự thật là giáo viên hiếm khi "nghỉ hè" theo đúng nghĩa của hai chữ ấy. Mùa hè đến, lớp học khép lại, nhưng công việc thì không. Người thì tranh thủ học thêm để theo kịp đổi mới chương trình, người lặng lẽ chuẩn bị giáo án cho năm học mới, chỉnh sửa từng chi tiết nhỏ với mong muốn lần dạy sau sẽ tốt hơn.
Vì thế, tôi cho rằng, nếu chia đều công sức trong suốt một năm, việc giáo viên được "nghỉ hè 8 tuần, hưởng nguyên lương và phụ cấp" không phải là ưu đãi đặc biệt, mà là phần được trả đủ cho một chu kỳ lao động đã bị nén chặt. Lương trong mùa hè, suy cho cùng, không phải là tiền cho sự nhàn rỗi, mà là cách hệ thống trả công cho những tháng ngày làm việc không có ranh giới rõ ràng giữa giờ làm và giờ nghỉ.
Hiểu như vậy để thấy, câu chuyện không nằm ở việc giáo viên có "được ưu ái" hay không, mà là chúng ta có nhìn đúng giá trị lao động của họ hay chưa? Và khi nhìn đúng, có lẽ sẽ bớt đi những so sánh vội vàng để thay vào đó là một cách nhìn công bằng hơn và cũng nhân văn hơn với một nghề vốn đã quen với việc cho đi nhiều hơn nhận lại.
Điều đáng quan tâm hơn là những thay đổi ấy có đủ để giáo viên bớt phải lo toan, để họ có thể tạm gác công việc mà nghỉ ngơi đúng nghĩa, không còn mang theo nỗi bận tâm về cơm áo hay áp lực chuyên môn. Bởi suy cho cùng, một nền giáo dục muốn bền vững thì không chỉ cần những chính sách đúng, mà còn cần những con người đủ sức đi đường dài. Và để đi được đường dài, cần có lúc dừng lại để giữ cho người thầy còn đủ sức đi tiếp trên con đường đã chọn.
Lúc con trai tôi học năm hai đại học, cháu chia sẻ với tôi một bài đăng trên Facebook các bảng giá sửa chữa xe máy để "tránh bị chặt chém".
Không biết khảo sát từ nguồn nào, bao nhiêu tiệm sửa xe nhưng bài đăng đóng khung mức giá vá xe thì bao nhiêu tiền, thay nhớt thì giá ra sao... Tôi đọc qua và nói với con: Nếu có đi sửa xe thì không được đem mức giá này căn vặn các chú thợ nhé, họ mắng cho đấy.
Sửa xe hay thay phụ tùng khó có thể áp một giá sàn, để rồi nói nơi này đắt, chỗ kia rẻ. Thứ nhất là không ai quy định giá chung, thứ hay là tùy loại và thương hiệu phụ tùng thay thế mà có mức giá khác nhau.
Tôi muốn nói một chút về chuyện vá lốp xe máy xăng và điện.
Tôi đi cả xe xăng lẫn xe điện, nên không lạ gì cảnh dắt xe vào tiệm vá. Với xe máy xăng, mọi thứ diễn ra nhanh gọn: Tìm chỗ thủng, vá, bơm hơi, 10-15 phút là xong. Như con xe tay ga của tôi xài lốp không săm, nên mỗi lần vá là các anh thợ phải tháo pô xe, rồi lấy bánh xe cho vào máy chuyên dụng để lấy lốp ra... Giá mấy năm trước là 35 nghìn, năm nay đã lên 50 nghìn.
Nhưng khi chuyển sang xe điện, cùng một cái lốp bị thủng, câu chuyện lại trở nên rắc rối hơn nhiều khi tháo cả bánh xe, xử lý phần động cơ nằm trong đó, gỡ dây điện, rồi lắp lại sao cho không lỗi. Một thao tác sơ suất thì sau khi lắp xong, có thể không truyền tải chuyển động được. Tệ hơn là hư động cơ. Thời gian kéo dài gấp nhiều lần, công sức bỏ ra cũng không còn ở mức đơn giản, rủi ro lại cao.
Vì thế, anh thợ của tiệm mà tôi hay sửa rất ái ngại khi vá lốp xe điện. Anh bảo nếu lấy 50 nghìn thì gần như họ đang tự ép mình làm một công việc phức tạp với thu nhập thấp hơn, lại còn gánh thêm rủi ro. Một giờ đồng hồ loay hoay với chiếc xe điện có thể bằng thời gian họ vá hai, ba chiếc xe máy. Chưa kể nếu có trục trặc, số tiền đền có khi còn lớn hơn cả tiền công của nhiều ngày.
Ngược lại, nếu họ lấy 100 nghìn để bù lại thời gian, chi phí cơ hội thì sẽ bị bảo là chặt chém, "tiền vá vài lần quá tiền thay lốp mới".
Thế là họ từ chối, không làm. Trong một khoảng thời gian, người thợ có thể kiếm được nhiều hơn, an toàn hơn với những công việc quen thuộc. Khi phải cân nhắc giữa thu nhập, rủi ro và áp lực từ khách hàng đó là lựa chọn dễ hiểu.
Thế nên trong nhiều hội nhóm, người ta chia sẻ nhau cách vá lụi, bộ đồ nghề mua trên sàn thương mại điện tử chỉ tốn vài chục nghìn đồng, nhưng giải quyết nhanh gọn và rẻ hơn là đem ra tiệm cho thợ làm.
Sẵn đây, tôi cũng có thắc mắc là công nghệ đã phát triển rất nhiều về động cơ, về các công nghệ khác đi kèm theo xe. Nhưng vì sao lốp xe dường như vẫn giậm chân tại chỗ? Lốp xe không sợ đinh chẳng lẽ khó áp dụng vào thực tế đến vậy sao?
Gần đây, tôi đọc tin TP HCM thưởng từ 3 đến 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi. Tôi đem chuyện này kể lại với con dâu, hy vọng đó sẽ là một động lực nào đó. Nhưng con chỉ nói: "Số tiền đó mang ý nghĩa tượng trưng thôi mẹ ạ, không đủ để bọn con sinh thêm đâu".
Tôi năm nay đã lên chức bà nội được 12 năm. Tưởng rằng sau khi có cháu đầu lòng, vợ chồng con trai tôi sẽ sớm có thêm đứa thứ hai, nhưng gần 10 năm qua, điều đó vẫn chưa xảy ra, dù tôi đã nhiều lần khuyên nhủ, động viên.
Vợ chồng con tôi hiện chỉ có một bé trai. Cháu đã 12 tuổi, ngoan ngoãn, học hành ổn định. Nhiều lần, tôi nhẹ nhàng gợi ý con dâu sinh thêm, phần vì muốn cháu có anh có em, phần vì tôi nghĩ gia đình đông con vẫn ấm áp hơn. Nhưng lần nào cũng vậy, con dâu tôi chỉ cười trừ: "Ở tuổi này mà nghỉ sinh, con dễ mất việc lắm mẹ. Mà phụ nữ có con nhỏ thì chẳng chỗ nào muốn nhận cả".
Con dâu tôi làm nhân viên văn phòng ở TP HCM, công việc không phải quá áp lực nhưng cũng không hề dễ thay thế. Ở môi trường cạnh tranh như hiện nay, phụ nữ nghỉ sinh dài ngày đồng nghĩa với việc tự đặt mình vào thế rủi ro. Chưa kể, sau một thời gian gián đoạn, việc quay lại guồng công việc cũng không hề đơn giản. Thế nên, nghe con nói "thưởng 3-5 triệu chẳng thấm vào đâu", tôi cũng chẳng biết làm gì.
>> Ba năm đấu tranh sinh hai con dù chồng sợ không nuôi nổi
Không chỉ là chuyện công việc, chi phí nuôi dạy một đứa trẻ ở thành phố hiện nay cũng thực sự khiến các con tôi chùn bước khi nhắc đến chuyện sinh thêm con. Vợ chồng con tôi có tổng thu nhập khoảng 35 triệu đồng mỗi tháng, không phải thấp, nhưng cũng chỉ đủ trang trải cuộc sống, nuôi một đứa con và để dành một khoản nhỏ phòng khi ốm đau, biến cố. Nếu sinh thêm, mọi thứ chắc chắn sẽ bị xáo trộn.
Tôi hiểu nỗi lo về mức sinh đang giảm, về tương lai nguồn nhân lực của đất nước. Nhưng đứng từ phía con cái mình, tôi cũng thấy rõ những áp lực rất cụ thể mà chúng đang phải đối mặt. Sinh thêm một đứa trẻ không chỉ là câu chuyện của vài triệu đồng hỗ trợ ban đầu, mà là hành trình dài hàng chục năm với vô vàn chi phí và trách nhiệm.
Tôi nghĩ nếu muốn khuyến khích người trẻ sinh con, chính sách cần đi xa hơn những khoản thưởng mang tính động viên. Điều người trẻ cần là sự yên tâm lâu dài: chi phí giáo dục hợp lý, dịch vụ y tế đảm bảo. Sự hỗ trợ cũng cần đồng hành cùng đứa trẻ từ khi chưa chào đời cho đến lúc trưởng thành. Ngoài ra, môi trường làm việc cũng phải không khiến phụ nữ bị thiệt thòi khi sinh con.
Còn với riêng tôi, sau nhiều năm khuyên con không thành, mong muốn có thêm cháu vẫn còn đó, nhưng tôi hiểu quyết định cuối cùng phải là của các con - những người trực tiếp nuôi dạy và chịu trách nhiệm cho tương lai của đứa trẻ. Mà muốn thay đổi được suy nghĩ của chúng, có lẽ cần nhiều hơn là 5 triệu tiền thưởng.