Mục Lục
ToggleNgày 7/4, BS.CK2 Nguyễn Minh Tiến, Bệnh viện Nguyễn Trãi, cho biết bệnh nhân vào viện với khối u vùng niêm mạc má trái, kích thước khoảng 3×3 cm. Trước đó, người bệnh phát hiện tổn thương trong miệng, khối cứng tăng dần kích thước, đau nhẹ khi ăn nhai, nhưng nghĩ là loét thông thường nên không đi khám sớm.
Thăm khám, sinh thiết xác định bệnh nhân mắc ung thư niêm mạc má. Kết quả MRI cho thấy khối u đã xâm lấn sâu vào khoang má, chưa ghi nhận di căn xa. Do nguy cơ ảnh hưởng ăn nhai và nuốt, các bác sĩ hội chẩn và tiến hành mở thông dạ dày nuôi ăn trước khi phẫu thuật cắt rộng khối u, nạo hạch cổ và tái tạo bằng vạt dưới cằm.
Sau mổ, bệnh nhân hồi phục thuận lợi, vết mổ khô, lành tốt, được nuôi ăn qua sonde dạ dày và xuất viện sau 5 ngày. Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy khối u đã được cắt bỏ hết.
Theo bác sĩ Tiến, phẫu thuật cắt rộng kết hợp nạo hạch và tái tạo tức thì bằng vạt dưới cằm giúp điều trị triệt căn, hạn chế biến dạng khuôn mặt, đồng thời cải thiện khả năng ăn nhai và phát âm sau mổ. Việc chuẩn bị dinh dưỡng trước phẫu thuật cũng góp phần giảm biến chứng và rút ngắn thời gian hồi phục.
Ung thư niêm mạc má thường khởi phát bằng những tổn thương nhỏ, dễ nhầm với loét miệng thông thường. Bác sĩ khuyến cáo người dân cần đi khám sớm khi có dấu hiệu loét miệng kéo dài trên 2 tuần không lành, xuất hiện khối cứng trong khoang miệng hoặc chảy máu bất thường. Người trên 40 tuổi, có thói quen hút thuốc, uống rượu nên tầm soát định kỳ để phát hiện bệnh sớm.
Lê Phương
Tin Gốc: https://vnexpress.net/tuong-loet-mieng-phat-hien-ung-thu-ma-5059462.html
Sức Khỏe
Nghiên cứu từ Việt Nam cho thấy bệnh giang mai có thể đã xuất hiện hàng ngàn năm trước

Trong nghiên cứu mới công bố trên International Journal of Osteoarchaeology, dựa trên phân tích di hài người tiền sử tại Việt Nam, nhóm nhà khoa học Úc - Việt Nam - New Zealand - Nhật Bản phát hiện dấu vết của một nhóm bệnh có biểu hiện "tương tự giang mai" đã tồn tại từ hàng nghìn năm trước và đặc biệt có thể lây truyền từ mẹ sang con.
Nghiên cứu đã phân tích 309 bộ hài cốt từ 16 địa điểm khảo cổ, có niên đại từ khoảng 10.000 đến 1.000 năm trước. Trong số này, ba bộ hài cốt trẻ em, khoảng 2,5 đến 18 tuổi, cho thấy những dấu hiệu rõ rệt của bệnh lý.
Theo công bố, các di hài này được tìm thấy tại miền Bắc và miền Nam nước ta, có niên đại khoảng 4.100 đến 3.300 năm trước.
Qua phân tích X-quang và cấu trúc xương, các nhà nghiên cứu phát hiện những tổn thương đặc trưng ở xương và bất thường ở răng, dấu hiệu điển hình của nhóm bệnh xoắn khuẩn đặc hữu treponematosis. Nhóm bệnh này bao gồm giang mai, ghẻ cóc (yaws), bejel và pinta.
Điểm đáng chú ý là các dấu hiệu trên không hoàn toàn phù hợp với giang mai cổ điển, mà nhiều khả năng là một dạng bệnh không lây qua đường tình dục, chẳng hạn như ghẻ cóc.
Trước đây giới khoa học cho rằng chỉ giang mai mới có thể lây truyền từ mẹ sang con (giang mai bẩm sinh). Chính giả định này đã củng cố giả thuyết bệnh xuất hiện muộn trong lịch sử nhân loại.
Tuy nhiên, nghiên cứu mới cho thấy các bệnh do xoắn khuẩn đặc hữu treponematosis không lây qua đường tình dục cũng có thể truyền từ mẹ sang thai nhi. Điều này làm thay đổi cách hiểu về các bằng chứng khảo cổ học trước đây.
Tiến sĩ Melandri Vlok, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết phát hiện này cho thấy cần xem xét lại nhiều trường hợp từng được chẩn đoán là giang mai bẩm sinh trong quá khứ.
Từ lâu, giả thuyết "Columbus mang giang mai từ Tân Thế giới về châu Âu" được xem là một trong những nền tảng quan trọng trong lịch sử y học. Tuy nhiên, nếu các bệnh tương tự đã tồn tại ở châu Á từ hàng nghìn năm trước, giả thuyết này có thể không còn chính xác.
Nhà nghiên cứu Nicola Czaplinski nhận định rằng phát hiện mới cho thấy giới khoa học vẫn còn rất xa mới có thể giải mã hoàn toàn nguồn gốc của giang mai.
Không chỉ là câu chuyện về quá khứ, nghiên cứu này còn có ý nghĩa quan trọng đối với y học hiện đại. Việc hiểu rõ cách các bệnh truyền nhiễm tiến hóa và lây lan qua thời gian có thể giúp cải thiện chẩn đoán và điều trị ngày nay.
Đặc biệt, phát hiện về khả năng lây truyền bẩm sinh ở các bệnh không lây qua đường tình dục có thể buộc các nhà khoa học phải đánh giá lại dữ liệu bệnh học trong cả hiện tại và quá khứ.
Dù mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, phát hiện từ Việt Nam cũng cho thấy còn rất nhiều khoảng trống trong hiểu biết về lịch sử bệnh tật của loài người. Những gì được tìm thấy chỉ là một phần nhỏ trong bức tranh lớn về tiến hóa của các bệnh truyền nhiễm.
Trong khi đó, các nhà khoa học tiếp tục mở rộng nghiên cứu sang nhiều khu vực khác, với hy vọng một ngày nào đó có thể trả lời câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng đầy phức tạp: giang mai thực sự bắt nguồn từ đâu.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Tổn thương thận cấp hay suy thận cấp là một tình trạng lâm sàng rất phổ biến, đặc biệt ở những người đang mắc bệnh lý nặng. Bác sĩ Nguyễn Văn Thanh, phó trưởng Khoa Nội Thận - Tiết niệu Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cho biết một số loại thuốc điều trị có thể là nguyên nhân trực tiếp gây ra hoặc làm diễn tiến tổn thương thận cấp trở nên trầm trọng hơn.
Đối với những người bệnh đang có tổn thương thận hoặc đang trong quá trình điều trị, việc lựa chọn và kết hợp thuốc cần được cân nhắc kỹ lưỡng để hạn chế phối hợp các thuốc có chung nguy cơ gây độc. Việc nhận diện sớm và kịp thời ngừng sử dụng các tác nhân gây độc này có thể cải thiện đáng kể kết quả điều trị.
Theo bác sĩ, nguy cơ tổn thương thận cấp do thuốc sẽ gia tăng ở các nhóm, như:
Người đang trong tình trạng mất nước (bao gồm người cao tuổi uống không đủ nước, hoặc người đang bị nôn, sốt, tiêu chảy), nhiễm trùng huyết hoặc hạ huyết áp. Người bệnh đã có tiền sử mắc bệnh thận từ trước.
Người đang sử dụng phác đồ phối hợp nhiều loại thuốc có khả năng gây độc cho thận như: thuốc giảm đau chống viêm không steroid, kháng sinh, thuốc kháng nấm, lợi tiểu, thuốc hạ axit uric máu (allopurinol), thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể.
Một số loại thuốc gây tổn thương thận cấp phổ biển:
1: Kháng sinh nhóm minoglycoside (gentamicin, amikacin, tobramycin, ...): Thuốc gây độc trực tiếp lên ống lượn gần dẫn đến hoại tử ống thận cấp tính. Nguy cơ tăng lên khi điều trị kéo dài trên 5–7 ngày, nồng độ thuốc trong huyết thanh cao. Thuốc có thể gây suy thận cấp mà không có thiểu niệu (đái ít) và thường tăng creatinin huyết tương sau vài ngày dùng thuốc.
Phòng ngừa: chỉ định sử dụng ngắn ngày, theo dõi nồng độ thuốc huyết thanh, ùng 1 lần/ngày hơn là chia liều. Trường hợp có suy thận mà phải dùng thuốc, cần điều chỉnh liều theo mức lọc cầu thận.
2: Vancomycin: Gây tổn thương trực tiếp ống lượn gần, tăng gốc oxy hóa, viêm kẽ thận, đôi khi tổn thương cầu thận. Nguy cơ cao hơn khi dùng liều cao, kéo dài, hoặc kết hợp với aminoglycosid. Để phòng ngừa cần duy trì nồng độ vancomycin trong mục tiêu điều trị.
3: Thuốc chống viêm không steroid gây giảm tổng hợp prostaglandin dẫn đến co mạch tiểu động mạch đến ở cầu thận, viêm ống‑kẽ thận do phản ứng quá mẫn, thậm chí gây độc tế bào, rối loạn chức năng ống thận. Tình trạng thường gặp ở người bệnh có mất nước, cao tuổi, có bệnh thận nền, suy tim, xơ gan hoặc kết hợp với các thuốc giãn mạch đi của cầu thận và/hoặc thuốc lợi tiểu.
4: Thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể angiotensin gây giãn tiểu động mạch đi, làm giảm áp lực lọc cầu thận. Nguy cơ cao hơn ở người bị hẹp động mạch thận hai bên, hạ huyết áp nghiêm trọng, thiếu dịch hoặc kết hợp lợi tiểu và/hoặc thuốc gây co mạch đến của cầu thận. Đề phòng ngừa, cần dùng liều thấp và tăng dần theo đáp ứng và dung nạp thuốc.
5: Allopurinol chủ yếu dùng để giảm axit uric trong máu và điều trị bệnh gút. Thuốc có thể gây tổn thương thận cấp do tổn thương ống thận, phản ứng quá mẫn với thuốc. Nguy cơ tăng lên nếu người bệnh đã có suy thận từ trước và cần điều chỉnh liều thuốc theo chức năng thận.
Đề phòng ngừa, cần đảm bảo đủ dịch, uống liều thấp tăng dần theo đáp ứng và dung nạp, giảm liều theo mức lọc cầu thận. Xét nghiệm sàng lọc người mang gen HLA‑B58:01 trước khi dùng allopurinol kéo dài có thể giúp giảm nguy cơ phản ứng quá mẫn nặng.
6: Thuốc cản quang tĩnh mạch gây ra bệnh thận do thuốc cản quang. Cơ chế thuốc gây co mạch thận, độc tính trực tiếp lên ống thận gây hoại tử ống thận cấp. Nguy cơ cao ở người mắc đái tháo đường, suy thận mạn, mất nước, dùng đồng thời thuốc khác (chống viêm không steroid, thuốc lợi tiểu, ức chế men chuyển, chẹn thụ thể).
Bác sĩ thường bù dịch đầy đủ trước và sau chụp phim có thuốc, tránh sử dụng thuốc cản quang không cần thiết hoặc hạn chế liều thuốc cản quang tối thiểu. Tránh dùng chống viêm không steroid trong 24–48 giờ trước/sau tiêm thuốc, ngưng hoặc điều chỉnh liều thuốc lợi tiểu,
7: Thuốc kháng nấm Amphotericin B gây co mạch thận và độc tính lên ống thận. Tuy nhiên thuốc dạng liposome (liposomal amphotericin B) gây độc thận ít hơn dạng deoxycholate. Đề phòng ngừa: Sử dụng dạng liposome nếu có điều kiện, bù dịch đủ trước truyền, điều chỉnh liều nếu có dấu hiệu suy thận.
8: Thuốc ức chế calcineurin (Cyclosporine, Tacrolimus) gây co mạch thận, tổn thương ống thận. Thuốc có thể gây suy thận mạn tính. Cần theo dõi nồng độ thuốc trong máu, giữ nồng độ trong mục tiêu, tránh liều cao kéo dài. Kết hợp đảm bảo đủ dịch, tránh kết hợp các thuốc khác có nguy cơ gây độc.
9: Thuốc lợi tiểu quai (nguy cơ tổn thương thận gián tiếp) nếu sử dụng quá liều gây lợi tiểu quá mức, giảm thể tích tuần hoàn.
10: Propofol (hiếm gặp nhưng quan trọng): Propofol là một thuốc gây mê tĩnh mạch tác dụng nhanh có thể gây suy thận cấp thông qua hội chứng truyền Propofol, liên quan đến tiêu cơ vân, nhiễm toan chuyển hóa, tổn thương cơ tim do truyền liều cao và kéo dài.
Một số biện pháp phòng ngừa chung:
- Đánh giá chức năng thận trước khi dùng các thuốc đặc biệt là các thuốc có nguy cơ gây tổn thương thận.
- Đánh giá các thuốc điều trị hàng ngày, tránh kết hợp nhiều thuốc cùng có nguy cơ gây độc cho thận, ưu tiên thuốc ít độc hơn nếu có lựa chọn.
- Đảm bảo đủ dịch (uống, truyền tĩnh mạch nếu cần), duy trì áp lực tưới máu đến thận đầy đủ.
- Theo dõi chức năng thận, gồm nước tiểu, cân nặng (hàng ngày), creatinine, mức lọc cầu thận và điện giải đồ huyết thanh (có thể 2-3 ngày/lần hoặc khoảng cách tùy từng trường hợp bệnh).
"Luôn nghĩ đến tổn thương thận cấp do thuốc khi thấy creatinine huyết thanh tăng trong vòng 48-72 giờ sau khi bắt đầu dùng thuốc mới", bác sĩ khuyên.
Tin Gốc: https://vnexpress.net/bac-si-neu-ten-10-loai-thuoc-co-the-tan-pha-than-cap-tinh-5060930.html
Sức Khỏe
Hai thợ lặn gãy xương, dập phổi trong vụ xe khách lao xuống vực

Trong đó, bệnh nhân 30 tuổi chấn thương nặng vùng đầu, ngực và tay. Ảnh chụp X-quang ghi nhận gãy hở và gãy kín nhiều đoạn xương tay, gãy kín xương vai, gãy hai xương sườn và chấn thương thận phải. Người này được Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận chuyển vào Bệnh viện Chợ Rẫy (TP HCM) khuya 6/4.
Hơn một giờ sau, bệnh nhân 19 tuổi cũng được chuyển vào Chợ Rẫy trong tình trạng lơ mơ, sốc đa chấn thương phức tạp, gãy hở đùi phải, gãy xương cẳng chân và cánh tay, xuất huyết dưới nhện, dập phổi và tràn dịch màng phổi.
Bệnh viện Chợ Rẫy kích hoạt báo động đỏ, huy động y bác sĩ 7 chuyên khoa mổ cấp cứu ngay trong đêm. Hai ca mổ song song kéo dài hơn 8 tiếng đến sáng 7/4 thì hoàn tất, bệnh nhân được theo dõi hậu phẫu.
BS.CK2 Quách Tiến Dũng, Khoa Ngoại thần kinh, cho biết đến chiều cùng ngày bệnh nhân 30 tuổi đã tỉnh táo, không yếu liệt và được chuyển lên Khoa Ngoại thần kinh tiếp tục điều trị. Bệnh nhân 19 tuổi huyết áp ổn định hơn lúc nhập viện nhưng vẫn còn lơ mơ, tình trạng nặng, tiếp tục thở máy và theo dõi sát tại Khoa Hồi sức Cấp cứu.
Hai bệnh nhân thuộc nhóm 15 thợ lặn sò đi ôtô khách 29 chỗ từ cảng La Gi về nhà cách đó gần 150 km, chiều 6/4. Trên đường gần khu vực ngã ba Hòa Thắng, xe bất ngờ mất lái lao qua lề đường rồi rớt xuống vực sâu hơn 10 m gần hồ Bàu Trắng, 4 người tử vong tại chỗ, 11 người bị thương.
Hai bệnh nhân trên bị thương nặng nhất, sau sơ cứu được chuyển vào Bệnh viện Chợ Rẫy. Những nạn nhân còn lại điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận.
Lê Phương
Tin Gốc: https://vnexpress.net/hai-tho-lan-gay-xuong-dap-phoi-trong-vu-xe-khach-lao-xuong-vuc-5059723.html

