Cả tuổi trẻ của bác tôi gói gọn trong hai chữ “cày cuốc vì con”. Bác làm đủ nghề, tích góp từng đồng với một mục tiêu rất rõ ràng: phải mua được nhà cho hai con trai của mình, để sau này chúng có chỗ ổn định mà lập nghiệp, và cũng là để bác có nơi nương tựa khi về già.
Nhiều người trong gia đình từng khuyên bác nên để dành một phần tiền cho bản thân, phòng khi tuổi cao sức yếu thay vì dựa dẫm vào con cái. Nhưng bác chỉ cười, nói rằng “con cái mới là chỗ dựa lớn nhất của tuổi già”. Với bác, đầu tư cho con chính là cách đảm bảo cho tuổi già của mình.
Rốt cuộc, bác cũng làm được điều mình mong muốn. Sau nhiều năm tích góp, bác dồn toàn bộ tiền bạc mua được hai căn nhà. Trước đây, bác sống cùng con trai út trong căn nhà mua từ lâu. Còn vợ chồng con trai cả thuê nhà sống riêng. Năm ngoái, bác hoàn tất thủ tục cho tặng cả hai căn cho hai người con. Bác cho con út căn nhà đang ở, còn mình thì chuyển sang sống cùng vợ chồng con trai cả trong căn nhà mới mua.
Cứ nghĩ đó là một cái kết trọn vẹn cho bác khi con cái có nhà cửa ổn định, bác cũng có nơi nương tựa. Nhưng cuộc sống không đơn giản như những gì người ta dự tính. Chỉ một thời gian ngắn sau khi về ở cùng con trai cả, bác bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn với con dâu. Những va chạm nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày dần tích tụ thành căng thẳng. Không ai nói ra điều gì quá lớn, nhưng cũng không ai thực sự thoải mái. Cuối cùng, bác quyết định rời đi.
>> Tôi sợ hết đường bỏ phố về quê nếu mua nhà 4 tỷ cho con thừa kế
Bác chuyển về sống cùng con trai út – người vẫn còn độc thân, ở trong căn nhà cũ. Tưởng rằng như vậy sẽ nhẹ nhàng hơn, nhưng thực tế lại là một câu chuyện khác. Con trai út của bác bận rộn với công việc, thường xuyên đi sớm về muộn. Căn nhà không còn cảnh va chạm, nhưng cũng thiếu đi sự hiện diện của người thân. Phần lớn thời gian trong ngày, bác ở một mình, tự nấu ăn, tự dọn dẹp, tự xoay xở mọi sinh hoạt.
Những lần tôi ghé thăm, bác vẫn nói “mọi thứ đều ổn”. Nhưng cái cách bác ngồi lặng lâu hơn, hay kể lại những chuyện cũ nhiều hơn, khiến tôi hiểu rằng sự “ổn” đó có phần gượng gạo. Không phải con cái không thương bác, mà là cuộc sống của mỗi người đã cuốn họ đi theo những ưu tiên riêng.
Nhìn câu chuyện của bác, tôi không khỏi suy nghĩ: có phải cứ hy sinh tất cả cho con cái thì sẽ đổi lại được một tuổi già an nhàn? Hay thực ra, đó là một kỳ vọng mà chính chúng ta tự đặt ra?
Tôi không nghĩ bác đã sai khi yêu thương và lo lắng cho con. Nhưng có lẽ, điều mà nhiều người trong thế hệ của bác chưa kịp nghĩ đến là: con cái có cuộc đời của chúng, còn tuổi già là quãng đường mỗi người phải tự chuẩn bị cho mình, cả về tài chính lẫn tinh thần. Giữ lại một phần cho bản thân không phải là ích kỷ, mà là cách để mình không trở thành gánh nặng, và cũng không đặt con cái vào những tình huống khó xử.
Câu chuyện của bác như một lời nhắc nhở với tôi rằng: yêu con là điều nên làm, nhưng đừng quên giữ lại cho bản thân một chỗ đứng vững vàng trong chính cuộc đời mình.
Một người bạn của tôi đã quyết định dọn về quê, gom góp số tiền vài tỷ đồng tích góp trong hơn chục năm làm việc ở thành phố để làm một homestay nhỏ. Lý do rất đơn giản: Không chịu nổi giá nhà và nhịp sống ngột ngạt nơi đô thị.
Lý do khác quan trọng và có vẻ lo xa hơn: Về quê đầu tư để có đồng ra đồng vào, chứ gom hết tiền và đi vay thêm để mua nhà thành phố, sau này về già vẫn phải kiếm gì đó làm thêm để có thu nhập.
Sau mấy chục năm sống ở thành phố, hành lý của anh vẫn gọn gàng đến lạ vì cái gì cho được đã cho, cái gì bán được đã bán, nhà thuê thì trả chủ. Nhưng sâu xa hơn, đó là cảm giác không thuộc về nơi này, dù đã ở hơn chục năm, có nhiều kỷ niệm vui buồn.
Từ câu chuyện đó, tôi cho rằng việc ở thuê, ít nhất trong bối cảnh Việt Nam hiện nay không phải là một lựa chọn bền vững. Không chỉ là vấn đề tâm lý an cư lạc nghiệp vốn ăn sâu trong văn hóa, mà còn bởi thị trường cho thuê của chúng ta chưa thực sự phát triển đúng nghĩa, thiếu ổn định, thiếu bảo vệ người thuê, và thiếu cả những sản phẩm phù hợp với đại đa số người lao động.
Trong khi đó, giá nhà thì vẫn tiếp tục leo thang. Dữ liệu gần đây cho thấy giá căn hộ tại TP.HCM đã lên đến trung bình hơn 97 triệu đồng một m2, riêng khu trung tâm vượt 100 triệu đồng m2. Ở thị trường thứ cấp, con số trung bình cũng đã chạm ngưỡng khoảng 69 triệu đồng một m2, trong khi nhu cầu tìm mua lại tăng mạnh.
Tôi thấy có một lập luận thường được đưa ra: Nếu không mua được nhà thì thuê cũng không sao. Lập luận này nghe qua có vẻ hợp lý, nhưng thực chất chỉ đúng với một nhóm nhỏ. Người có thu nhập cao, tài chính dư dả, có thể thuê để linh hoạt cho công việc. Sinh viên hay người lao động ngắn hạn cũng vậy, thuê nhà là lựa chọn phù hợp.
Nhưng còn đại đa số người lao động làm việc lâu dài tại thành phố thì sao?
Họ không thể sống mãi trong trạng thái tạm bợ. Một gia đình không thể xây dựng cuộc sống ổn định nếu cứ vài năm lại chuyển nhà, đối mặt với nguy cơ tăng giá thuê hoặc bị chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào. Nói cách khác, thuê nhà không phải là một giải pháp thay thế, mà chỉ là một giải pháp tình thế.
Vấn đề nằm ở chỗ phân khúc nhà ở phù hợp với họ gần như biến mất. Những căn hộ thương mại giá 2-3 tỷ đồng từng là mục tiêu có thể với tới của tầng lớp trung lưu giờ gần như tuyệt chủng. Thị trường bị lấp đầy bởi các dự án cao cấp, giá 4-5 tỷ đồng trở lên. Với mức thu nhập phổ biến hiện nay, đó là khoảng cách gần như không thể vượt qua.
Vậy chúng ta đang kỳ vọng gì? Rằng một bộ phận lớn người lao động sẽ chấp nhận đi thuê suốt đời? Và khi về già, với thu nhập giảm sút, họ sẽ tiếp tục xoay xở thế nào với chi phí nhà ở ngày càng cao?
Đó không chỉ là câu chuyện kinh tế, mà là một vấn đề an sinh xã hội.
Nếu không thể kiểm soát giá nhà trong ngắn hạn, thì một hướng đi rõ ràng hơn là phát triển mạnh nhà ở xã hội. Nhà ở xã hội không nên bị xem là một giải pháp mang tính "cứu trợ", mà phải được nhìn nhận như một phần thiết yếu của cấu trúc thị trường.
Một đô thị bền vững cần có chỗ cho những người lao động bình thường. Câu chuyện của người bạn tôi rời thành phố không phải là cá biệt. Nếu không có những thay đổi rất có thể sẽ còn nhiều người khác đưa ra lựa chọn rời đi.
Huỳnh Thắng
Tôi năm nay 34 tuổi, có hai cậu con trai. Bé đầu 7 tuổi và thứ hai 3 tuổi. Chồng đi làm ăn xa nên mình tôi nuôi dạy con. Cậu con trai đầu của tôi tuy mới lên 7 nhưng tính tình khá bướng với lì lợm.
Tôi nói gì con cũng cãi, ông bà nói con cũng cãi cho bằng được. Con không bao giờ biết mình sai, thường xuyên đổ lỗi cho người khác. Lỗi của con, con lúc nào cũng tìm lý do để giải thích cho mình.
Tôi đã áp dụng nhiều biện pháp, từ mềm mỏng, tâm sự đến quát mắng, đánh đòn nhưng sau mọi thứ đâu lại vào đấy. Cách đây mấy hôm, soạn sách cho con, tôi thấy dòng chữ: Mẹ rất độc ác, tim tôi như hững lại một nhịp mà cứ thế tôi òa khóc.
Khóc như một đứa trẻ trước mặt con. Lúc này con xin lỗi tôi, con bảo là do mẹ hay nạt con với đánh con nên con mới viết thế. Vậy hóa ra bao lần tôi phạt, con không nghĩ rằng do mình sai mà trong suy nghĩ của con là do tôi độc ác.
Tôi cảm thấy bất lực thực sự, con mới 7 tuổi đã như thế thì mấy năm nữa con bước vào tuổi dậy thì tôi làm sao dạy dỗ được con nên người. Phải chăng vì sống xa chồng, nhà không có đàn ông nên con trai tôi mới lì lợm và bướng bỉnh như thế.
Do tôi nghĩ quá vấn đề lên, hay do con tôi thực sự là một đứa trẻ hư. Tôi cần các bậc làm cha, làm mẹ trên diễn đàn cho tôi một lời khuyên. Thực sự mà nói, làm mẹ của hai cậu con trai thời buổi bây giờ tôi có quá nhiều nỗi lo.
Gần đây, tôi bước vào mùa cao điểm nhất trong năm - giai đoạn mà công việc gần như chiếm trọn thời gian và tâm trí. Những ngày nối tiếp nhau bằng các cuộc họp, dự án, trao đổi với khách hàng, xử lý vấn đề... Mọi thứ diễn ra dồn dập đến mức tôi không còn khoảng trống cho bất cứ điều gì khác.
Nhưng ngay trước khi guồng quay đó trở nên căng nhất, tôi nhận ra mình đã bắt đầu suy nghĩ khác đi. Không có biến cố nào xảy ra, không có cú sốc nào đủ lớn để buộc tôi phải dừng lại. Chỉ là vài buổi tối tăng ca ở văn phòng, khi công việc tạm xong, tôi ngồi lại lâu hơn bình thường, không vội về, cũng không vội cầm điện thoại lên. Trong những khoảng lặng hiếm hoi đó, tôi thấy trong đầu mình xuất hiện một cảm giác mông lung như thể mình vẫn đang đi, nhưng không còn chắc là đang đi về đâu?
Mọi thứ bên ngoài vẫn ổn, tôi vẫn làm việc, vẫn hoàn thành trách nhiệm, vẫn giữ mọi thứ ở mức chỉnh chu nhất có thể. Nhưng bên trong, có một câu hỏi lặp đi lặp lại nhiều hơn trước: nếu cứ tiếp tục như thế này, vài năm nữa tôi sẽ trở thành ai? Điều tôi băn khoăn không phải là chức danh hay thu nhập, mà là mình sẽ trở thành một con người như thế nào?
Và rồi, khoảng ba tháng trước, tôi đã thẳng thắn chia sẻ với lãnh đạo công ty rằng đây không còn là nghề mà mình muốn gắn bó trong nhiều năm tới nữa. Tôi sẽ nhảy việc. Quyết định ấy không dễ, nhưng cũng không bốc đồng. Nó giống như một sự thừa nhận sau một thời gian dài tôi tự quan sát chính mình.
>> Tôi nghèo vì hai năm nhảy việc 10 lần
Có lẽ, ai rồi cũng sẽ có một giai đoạn như vậy. Khi những điều từng đủ tốt bắt đầu trở nên xa lạ. Khi sự ổn định không còn mang lại cảm giác yên tâm, mà ngược lại, khiến người ta đứng yên lâu hơn mức cần thiết. Và khi ta nhận ra, không phải mọi mệt mỏi đều đến từ khối lượng công việc, có những mệt mỏi đến từ việc mình đang đi lệch nhịp với chính mình.
Tôi không nghĩ mình đã đi sai đường. Những gì tôi làm, những gì tôi học được đều là nền tảng quý giá. Nhờ có quãng đường đó, tôi mới có đủ trải nghiệm để hiểu mình đang cần gì ở hiện tại. Nhưng cũng vì đã đi đủ lâu, tôi nhận ra có những con đường không phải để đi mãi, mà để dẫn mình tới một đoạn rẽ khác.
Với tôi, chuyển hướng lúc này không phải là phủ nhận quá khứ hay bắt đầu lại từ con số không. Đó là việc giữ lại những gì đã tích lũy, rồi đặt chúng vào một không gian khác - nơi tôi có thể thở sâu hơn, học lại cách tò mò, và cảm thấy mình đang lớn lên, thay vì chỉ già đi.
Tôi chưa gọi được tên con đường mới. Có lẽ cần thêm thời gian để tôi thấy rõ hình hài, hướng đi cho mình. Nhưng điều quan trọng là tôi đã bắt đầu biết lắng nghe bản thân mình, một cách nghiêm túc thay vì lao đầu vào công việc hiện tại. Tôi tin ai cũng cần trung thực với cảm giác của mình. Với tôi, chỉ riêng việc dám thừa nhận rằng mình đang đứng trước một đoạn rẽ, đã là một bước tiến rồi.