Hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7-4, báo Sức Khỏe & Đời Sống phối hợp tổ chức chương trình tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Sàng lọc ung thư phổi – Từ câu chuyện người bệnh đến nhu cầu chính sách quốc gia”.
Theo PGS.TS Đỗ Hùng Kiên – Phó giám đốc Bệnh viện K, thực tế điều trị cho thấy chỉ khoảng 20% bệnh nhân ung thư phổi đến viện ở giai đoạn sớm có thể phẫu thuật.
Phần lớn còn lại đã ở giai đoạn 3 hoặc 4. Khoảng 40 – 50% bệnh nhân ở giai đoạn 4; 25 – 30% ở giai đoạn 3. Khi đó mục tiêu điều trị không còn là chữa khỏi, mà chủ yếu kiểm soát bệnh, kéo dài sự sống.
Trong khi đó nếu phát hiện sớm, cơ hội sống thay đổi hoàn toàn. Tỉ lệ sống trên 5 năm ở giai đoạn 1 có thể lên tới 70 – 90%, thậm chí 92% ở giai đoạn rất sớm. Nhưng con số này giảm mạnh còn khoảng 10% ở giai đoạn 4.
Theo PGS Kiên, không chỉ khác biệt về cơ hội sống, phát hiện sớm còn giúp giảm đáng kể chi phí điều trị. Trường hợp người bệnh phát hiện ở giai đoạn rất sớm, chi phí phẫu thuật chỉ khoảng 20 – 30 triệu đồng nhờ có bảo hiểm. Nếu phát hiện muộn, chi phí điều trị kéo dài, có thể cao hơn rất nhiều lần.
Bên cạnh đó, PGS Kiên cũng cho rằng hiện nay với sự tham gia ngày càng lớn của trí tuệ nhân tạo (AI) trong y tế giúp phát hiện sớm tổn thương phổi.
Tại nhiều quốc gia như Nhật Bản, Malaysia, AI đã được ứng dụng trong phân tích hình ảnh X-quang, CT để phát hiện sớm tổn thương phổi.
AI có thể giúp phát hiện những tổn thương nhỏ mà mắt thường khó nhận ra, đồng thời rút ngắn thời gian đọc phim và hỗ trợ tuyến dưới.
“AI không thay thế bác sĩ, nhưng là công cụ rất quan trọng để mở rộng sàng lọc diện rộng, đặc biệt ở những nơi thiếu nhân lực”, PGS Kiên chia sẻ.
Dù lợi ích rõ ràng nhưng theo các chuyên gia, việc phát hiện sớm ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân không chỉ nằm ở nhận thức người dân mà còn ở hệ thống. Hiện nay việc tầm soát chủ yếu diễn ra rải rác tại một số cơ sở y tế, hoặc dựa vào khám sức khỏe định kỳ tự phát.
TS Lê Thái Hà, Phó cục trưởng Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế), cho rằng khó khăn lớn nhất là sự không đồng đều về năng lực y tế cơ sở, cả về nhân lực lẫn trang thiết bị.
“Sàng lọc cần triển khai từ tuyến cơ sở, nhưng hiện nay nhiều nơi còn thiếu thiết bị như X-quang, CT liều thấp, cũng như nhân lực được đào tạo bài bản. Bên cạnh đó chi phí cũng là rào cản. Các kỹ thuật sàng lọc hiệu quả như CT liều thấp vẫn còn đắt đỏ và chưa được bảo hiểm y tế chi trả rộng rãi”, TS Hà nói.
Để triển khai hiệu quả tầm soát ung thư phổi, theo TS Hà, cần nhiều giải pháp đồng bộ như xây dựng chương trình sàng lọc ung thư phổi cấp quốc gia; ưu tiên nhóm nguy cơ cao; đầu tư trang thiết bị, đặc biệt tại y tế cơ sở; ứng dụng AI và kết nối tuyến trên – tuyến dưới. Ngoài ra cần có cơ chế hỗ trợ tài chính, mở rộng chi trả bảo hiểm và tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức.
Mục tiêu không chỉ là phát hiện bệnh mà còn giúp người dân nhận diện nguy cơ và chủ động quản lý sức khỏe.
Dự kiến trong thời gian tới, Bộ Y tế đặt mục tiêu đến năm 2028 mỗi người dân sẽ có hồ sơ sức khỏe điện tử, làm nền tảng cho việc theo dõi và sàng lọc lâu dài. Đồng thời các hướng dẫn chuyên môn về khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc sẽ được chuẩn hóa trên toàn quốc.







