Theo Bộ Xây dựng, sau giai đoạn duy trì ổn định năm 2025 và 2 tháng đầu năm, giá nhiên liệu đã “nhảy vọt” trong tháng 3, đặc biệt là mặt hàng dầu diesel. Tính đến hết 31.3, giá xăng E5 A92 tăng 4.703 đồng/lít và dầu diesel 0,055 tăng 17.117 đồng/lít so với trung bình tháng 2. Giá xăng E5 A92 và dầu diesel 0,055 trung bình tháng 3 tăng so với giá bình quân tháng trước lần lượt là 26,2% và 57,4%.
Bộ Xây dựng đánh giá đây là mức tăng không theo quy luật thông thường của mức biến động giá nhiên liệu trong những giai đoạn trước đây. Điều này cũng tạo áp lực dây chuyền lên giá thành sản xuất và chi phí vận chuyển của hầu hết các loại vật liệu xây dựng so với tháng 2.
Tính đến 31.3, giá xi măng đã tăng khoảng 7,2%; thép tăng 2,2%; gạch lát khoảng 4,8%; các vật liệu cát, đá, gạch xây tăng khoảng 13,5 – 23,3%; riêng giá nhựa đường tăng đột biến khoảng 31,77%. Giá vật liệu xây dựng có xu hướng tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Bộ Xây dựng cho biết, cả nước có 44 dự án trọng điểm đang triển khai với tổng đầu tư khoảng 569.000 tỉ đồng. Việc tăng giá nhiên liệu xăng dầu và vật liệu xây dựng đã ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí đầu tư xây dựng các công trình, đặc biệt là các công trình giao thông trọng điểm.
Theo ước tính, với mức biến động giá vật liệu xây dựng và giá nhiên liệu như trên, dự toán xây dựng các công trình ước tăng từ 1,91 – 8,09% tùy từng loại công trình. Trong đó, dự toán xây dựng tăng nhiều nhất đối với loại công trình giao thông (8,09%). Kịch bản xấu nhất, nếu giá nhiên liệu tăng 100% so với tháng 2 do xung đột Trung Đông, dự toán công trình giao thông có thể đội vốn xấp xỉ 16%. Chi phí xây dựng các dự án giao thông trọng điểm ước tăng 42.300 tỉ đồng, gây áp lực rất lớn lên ngân sách.
Bộ Xây dựng đánh giá nguyên vật liệu tăng giá khiến các nhà thầu có tâm lý e dè, thi công cầm chừng, nhất là với các dự án hợp đồng trọn gói hoặc hợp đồng theo đơn giá cố định, gây ảnh hưởng tiến độ dự án. Mặt khác, xung đột Trung Đông có nguy cơ kéo dài, ảnh hưởng tăng giá xăng dầu còn tiếp diễn.
Do đó, Bộ Xây dựng kiến nghị UBND cấp tỉnh tại các địa phương tổng hợp tình hình biến động giá vật liệu xây dựng, gửi báo cáo về Bộ theo định kỳ hàng tháng. Đồng thời, chủ động, cân đối nguồn lực, ưu tiên hoàn thành các công trình, dự án hạ tầng trọng điểm. Bên cạnh đó, lãnh đạo địa phương cần kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng, không để xảy ra tình trạng găm hàng, đầu cơ, thổi giá; kiểm soát chặt chẽ sản lượng khai thác khoáng sản.
Các Ban quản lý dự án, chủ đầu tư các dự án được giao kiểm soát chặt chẽ chi phí đầu tư xây dựng, chủ động đánh giá tác động của việc tăng giá xăng dầu, vật liệu xây dựng để có phương án sử dụng chi phí dự phòng hiệu quả, hợp lý, quyết định lựa chọn hình thức giá hợp đồng và kế hoạch lựa chọn nhà thầu phù hợp với diễn biến thị trường.
Bộ yêu cầu khẩn trương rà soát các hợp đồng xây dựng đang thực hiện, đặc biệt là hợp đồng trọn gói và đơn giá cố định, để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng; chủ động phối hợp với các nhà thầu xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tiến độ triển khai các dự án.
Chủ đầu tư, nhà thầu cũng cần phải có đánh giá, phân tích kỹ lưỡng theo hợp đồng cụ thể để có đề xuất kiến nghị rõ, khả thi. Cùng với đó, nghiên cứu quy định pháp luật về điều chỉnh hợp đồng, về bất khả kháng, về hoàn cảnh thay đổi cơ bản… để đánh giá tác động của việc tăng giá xăng dầu đến việc thực hiện hợp đồng xây dựng; làm cơ sở xem xét, sửa đổi hợp đồng xây dựng theo thẩm quyền.
Phát họa bức tranh tổng thể của ngành cà phê Việt Nam, ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) nói: Năm 2025, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,59 triệu tấn, giá trị kim ngạch 9 tỉ USD nhưng xuất khẩu nguyên liệu vẫn là chủ yếu. phân khúc cà phê rang xay, hòa tan và phối trộn đạt hơn 1,4 tỉ USD nhưng phần lớn nằm trong tay của các doanh nghiệp FDI.
Để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, chế biến sâu là con đường trực tiếp nhất. Thực tế, các sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu đồng đều, có khả năng truy xuất và đạt chuẩn. Vì vậy, càng đi sâu vào chế biến, doanh nghiệp càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu qua đó nâng cao giá trị cà phê nguyên liệu Việt Nam.
"Bên cạnh đó, chế biến sâu còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi giá trị hiện đại không chỉ dừng ở hạt cà phê mà còn khai thác hiệu quả các phụ phẩm như cascara, vỏ quả, sinh khối… Đây là lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng tại Việt Nam", ông Tài nhận định.
Ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam xác nhận, Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam nhiều nhất nhiều người dân EU, kể cả một số cán bộ công chức cũng không biết gì về cà phê Việt Nam. Nguyên nhân vì Việt Nam chủ yếu xuất cà phê nhân vào thị trường nàynên sản phẩm không có thương hiệu dẫn đến người tiêu dùng thông thường không ai biết gì về cà phê Việt Nam.
Theo ông Công, EU hiện là một trong 2 trung tâm tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới quy mô thị trường trên 26 tỉ USD và sản lượng hàng năm khoảng 2,7 triệu tấn. Đây là thị trường có sức mua rất lớn, với mức tiêu thụ bình quân gần 20 kg/ người/ năm nhưng Việt Nam mới xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỉ USD, đứng thứ hai sau Brazil. Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi - cung cấp nguyên liệu,nhưng còn hạn chế ở các khâu có giá trị gia tăng cao, dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều cơ hội nâng cao giá trị. "Những con số trên cho thấy tiềm năng, cơ hội và dư địa cho hạt cà phê Việt Nam còn rất lớn nếu biết cách đầu tư khai thác hiệu quả ở phân khúc chế biến sâu nhằm tạo ra giá trị gia tăng", ông Công lưu ý.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty CP SX-TM-XNK Cà phê Napoli cho biết, tính chung cả nước, Việt Nam ước có khoảng 10.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cà phê nhưng ít doanh nghiệp mạnh và đặc biệt không có doanh nghiệp mạnh trên thị trường quốc tế. Trong khi như cả Trung Quốc chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp, nhưng có rất nhiều doanh nghiệp tên tuổi. Tại Mỹ, số lượng doanh nghiệp cũng không nhiều nhưng đa số đều có năng lực cạnh tranh cao.
Ông Thái Anh Tuấn Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2.9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất Việt Nam hiện nay nói rằng: Để phát triển chế biến sâu, doanh nghiệp cần hội đủ ba yếu tố: vốn, công nghệ và thị trường. Doanh nghiệp phải đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, đồng thời có nguồn cung ổn định từ các HTX. Hiện nay, hoạt động xuất khẩu được thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc tế, với hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Người mua có thể truy xuất đến từng container, từng hộ nông dân và vùng trồng cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhưng vấn đề đầu tư vào công nghệ chế biến, xây dựng và phát triển thị trường gắn với thương hiệu sản phẩm riêng thì cần phải có vốn lớn và lộ trình phù hợp. Hiện doanh nghiệp đang lựa chọn thị trường phù hợp, triển khai từng bước chắc chắn trước khi đầu tư mạnh vào chế biến sâu.
Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê nhận định: Doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng - lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng. Trong khi đó, khối doanh nghiệp nước ngoài (FDI) được hậu thuẫn mạnh từ hệ thống tài chính để giữ vững vị trí trong chuỗi.
TS Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cũng khẳng định: Nếu so với gạo hay thủy sản chính sách cho cà phê vẫn chưa tương xứng. "Một ngành đạt giá trị xuất khẩu đến 9 tỉ USD nhưng lại chưa có chính sách riêng để tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa là vấn đề cần lưu ý", ông Hà trăn trở.
Nhà báo Tô Đình Tuân, Tổng biên tập Báo Người Lao Động, nhấn mạnh: Nếu thúc đẩy chế biến sâu hiệu quả, theo hướng chuẩn mực và nghiêm túc, ngành cà phê Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức 8 - 9 tỉ USD mà trong vài năm tới hoàn toàn có thể hướng đến những cột mốc hàng chục tỉ USD. Để đạt được những kỷ lục mới, cần xác định chế biến sâu là một trục chiến lược quốc gia, với sự tham gia của doanh nghiệp, các cơ quan, ban ngành, các đơn vị liên quan và cả cơ quan truyền thông. Bên cạnh đó, cần tạo cú hích về tài chính cho doanh nghiệp, vì đây là điểm nghẽn lớn nhất. Muốn vậy, cần có chính sách miễn, giảm thuế; giảm thuế nhập khẩu máy móc. Ngoài ra cần phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa. Nếu không có nguồn nguyên liệu đạt chuẩn thì không thể phát triển chế biến sâu.
Cụ thể, đối với các đơn vị thành viên, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) yêu cầu quán triệt, phổ biến Chỉ thị số 09 và Chỉ thị số 10 của Thủ tướng Chính phủ đến toàn thể cán bộ công nhân viên và người lao động. Tập đoàn cũng đặt mục tiêu các đơn vị thực hiện tiết kiệm tối thiểu 3% điện năng tiêu thụ trong năm nay.
Đặc biệt, riêng các tháng cao điểm nắng nóng (từ tháng 4 đến tháng 7), phấn đấu tiết kiệm từ 10% trở lên.
Đồng thời, các đơn vị của EVN cũng sẽ đưa nội dung tiết kiệm điện vào kế hoạch công tác hàng năm và chương trình hành động của đơn vị, gắn kết quả thực hiện với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu.
Tập đoàn khuyến khích áp dụng các mô hình quản lý năng lượng tiên tiến, từng bước triển khai hệ thống quản lý năng lượng và các giải pháp tòa nhà thông minh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng điện.
Đối với khách hàng, các tổng công ty điện lực sẽ tăng cường tư vấn, hướng dẫn sử dụng điện tiết kiệm theo từng nhóm khách hàng như hộ gia đình, doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ…; đồng thời vận động ký cam kết sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả.
EVN cũng giao các tổng công ty điện lực chủ động gửi thông tin cảnh báo tới khách hàng trong trường hợp mức tiêu thụ điện vượt quá mức sử dụng so với cùng kỳ và tháng trước liền kề, giúp khách hàng kịp thời điều chỉnh thói quen sử dụng điện.
Ngoài ra, EVN cũng giao các tổng công ty điện lực tiếp tục triển khai chương trình điều chỉnh phụ tải điện (DR) tự nguyện phi thương mại và dịch chuyển phụ tải điện; khuyến khích khách hàng dịch chuyển thời gian sử dụng điện khỏi giờ cao điểm, góp phần giảm áp lực cho hệ thống điện trong những thời điểm nhu cầu tăng cao.
Các tổng công ty điện lực tổ chức hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ tại các cơ quan, cơ sở sản xuất - kinh doanh - dịch vụ và hộ gia đình; khuyến khích lắp đặt kèm hệ thống lưu trữ điện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng.
Thông qua kế hoạch này, EVN đặt trọng tâm vào việc siết chặt kỷ luật sử dụng điện trong toàn hệ thống, vừa triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật và công cụ hỗ trợ khách hàng, góp phần sử dụng điện hợp lý hơn và giảm áp lực cho hệ thống, nhất là trong các giai đoạn cao điểm.
Theo Chi cục Hải quan Khu vực IX, đơn vị này vừa có Quyết định số 218, ngày 3.4, về việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Cụ thể, cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Công ty TNHH Anh Trang, địa chỉ đặt tại phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị, để thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 189 ngày 31.8.2023 của Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình (cũ, nay thuộc tỉnh Quảng Trị).
Lý do bị cưỡng chế: Người nộp thuế không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế theo thời hạn ghi trên quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế.
Số tiền bị cưỡng chế là 4.691.803.997 đồng (gần 4,7 tỉ đồng).
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 10.4.2026, thời hạn trong 1 năm, đến ngày 9.4.2027. Quyết định này sẽ được chấm dứt hiệu lực kể từ khi tiền nợ thuế của doanh nghiệp được nộp đủ vào ngân sách Nhà nước.
Trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Công ty TNHH Anh Trang trong tình trạng đang hoạt động, đã hoạt động gần 20 năm. Ngành nghề kinh doanh chính là bán buôn tre, nứa, gỗ cây và gỗ chế biến. Cụ thể, mua bán, xuất nhập khẩu gỗ các loại (gỗ có nguồn gốc hợp pháp).