Ngày 1/4, NASA phóng thành công tàu vũ trụ Orion mang theo bốn phi hành gia vào vũ trụ trong nhiệm vụ Artemis II. Orion sẽ bay quanh phía xa của thiên thể này và quay trở lại Trái Đất. Nếu không có vấn đề lớn phát sinh, NASA sẽ thử nghiệm các trạm Mặt Trăng trong nhiệm vụ Artemis III năm 2027 và thực hiện chuyến đổ bộ Mặt Trăng đầu tiên năm 2028 với Artemis IV.
Trong khi đó, một cường quốc khác của ngành hàng không vũ trụ là Trung Quốc cũng nhắm tới mục tiêu “trước năm 2030”. Nước này dự định sử dụng tên lửa Long March 10 để phóng tàu Mengzhou (Mộng Châu – con thuyền ước mơ), có kích thước khoang tàu tương tự Orion, cùng ba phi hành gia lên Mặt Trăng. Một tên lửa khác chở tàu đổ bộ Mặt Trăng mang tên Lanyue (Lãm Nguyệt – ôm trọn vầng trăng) và tàu này sẽ gặp Mengzhou trên quỹ đạo của thiên thể này.
Hồi tháng 2, Cơ quan vũ trụ có người lái Trung Quốc (CMSA) đã thử nghiệm phóng Mộng Châu, trình diễn hệ thống hủy phóng khẩn cấp và cách con tàu tách khỏi tên lửa. Cuối năm nay, một tàu Mộng Châu không người lái dự kiến được phóng tới trạm vũ trụ Thiên Cung của Trung Quốc đang quay quanh Trái Đất.
“Có vẻ tàu đã gần sẵn sàng để cất cánh”, Quentin Parker, Giám đốc Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Không gian tại Đại học Hong Kong, nhận xét. Trung Quốc sẽ thực hiện thêm các chuyến bay thử nghiệm khác trước khi nỗ lực hạ cánh lên Mặt Trăng vài năm tới.
Trong khi đó, ban đầu NASA dự định hạ cánh trên Mặt Trăng năm 2024, nhưng nhiệm vụ liên tục bị hoãn vì phần cứng chưa sẵn sàng, như tàu đổ bộ do SpaceX và Blue Origin đảm nhiệm hiện vẫn trong quá trình phát triển. Do đó, lịch trình của Artemis IV có thể bị lùi xa hơn mốc 2028, tức vẫn có khả năng Trung Quốc trở thành quốc gia đầu tiên hạ cánh xuống bề mặt Mặt Trăng kể từ sau năm 1972 với sứ mệnh Apollo 17.
Theo Parker, Trung Quốc có năng lực bám sát tiến độ, nên “có khả năng sẽ lên Mặt Trăng trước”. Kể từ 2007, Trung Quốc đã triển khai một loạt robot tới Mặt Trăng, bao gồm nhiệm vụ hạ cánh xuống phía xa vào năm 2019 để lấy mẫu vật và đưa về Trái Đất trong 5 năm sau đó.
Kế hoạch của Trung Quốc
Trong lần đổ bộ đầu tiên dự kiến năm 2030, Trung Quốc có thể nhắm đến vị trí gần xích đạo, nơi có bề mặt phẳng và an toàn hơn, theo Nature. Nước này đang cân nhắc 14 địa điểm hạ cánh, một trong đó là vùng núi lửa cổ đại Rimae Bode, nằm lệch về phía bắc xích đạo Mặt Trăng.
Jun Huang, nhà khoa học hành tinh tại Đại học Địa chất Trung Quốc ở Vũ Hán, cùng các đồng nghiệp đã công bố một phân tích về địa chất của khu vực này vào tháng 3. “Hạ cánh tại Rimae Bode giống như mở một cuốn sách lịch sử độ phân giải cao về cuộc đời của Mặt Trăng”, ông nói, bởi nơi này được cho là chứa vật chất từ lớp phủ – nằm dưới lớp vỏ và trên lớp lõi kim loại – của Mặt Trăng cũng như các mảnh vỡ do những vụ va chạm trước đây để lại.
“Địa điểm mang lại cơ hội hiếm có ‘tất cả trong một’ để giải quyết những câu hỏi còn bỏ ngỏ lâu nay về sự hình thành và tiến hóa của cả Mặt Trăng lẫn Trái Đất”, nhà khoa học này cho biết.
Về lâu dài, Trung Quốc và Mỹ đều đặt mục tiêu hạ cánh xuống cực nam của Mặt Trăng, nơi có thể có nước đóng băng. Các nhóm thực hiện nhiệm vụ Mặt Trăng kỳ vọng lớp băng được tách thành hydro và oxy, tạo thành nhiên liệu tên lửa, từ đó biến thiên thể thành trạm trung chuyển giữa Trái Đất và những vùng xa hơn trong vũ trụ.
Trung Quốc cũng kỳ vọng cùng với Nga xây dựng một căn cứ Mặt Trăng, mang tên Trạm Nghiên cứu Mặt Trăng Quốc tế (ILRS) trong thập niên 2030. Theo Cơ quan vũ trụ Trung Quốc (CNSA) năm ngoái, hai nước có kế hoạch nghiên cứu địa chất Mặt Trăng và tiến hành quan sát thiên văn, cùng nhiều mục tiêu khác.
Hồi tháng 2, quản trị viên NASA Jared Isaacman nói cơ quan này đang gặp phải “sự cạnh tranh từ đối thủ địa chính trị lớn nhất” và cần “đi nhanh hơn, không chậm trễ và đạt được các mục tiêu”.
Tuy nhiên, theo Namrata Goswami, nhà nghiên cứu an ninh không gian tại Đại học Johns Hopkins ở Alabama (Mỹ), trọng tâm của Trung Quốc không hẳn là trở thành nước đầu tiên quay lại Mặt Trăng, mà là thiết lập sự hiện diện lâu dài. “Họ xem Mặt Trăng là vị trí chiến lược trên cao”, bà nói.
Quốc gia này nhấn mạnh thám hiểm không gian sâu là một trong những mục tiêu then chốt trong kế hoạch 5 năm mới, được công bố tháng 3. “Mỹ mới là bên đang chạy đua với Trung Quốc, không phải ngược lại”, bà Goswami nhận xét.
Theo báo cáo mới công bố của công ty nghiên cứu thị trường TrendForce, giá hợp đồng chip nhớ DRAM truyền thống dự kiến tăng 58-63% trong quý II/2026. Trong khi đó, giá bộ nhớ NAND Flash, linh kiện chính của ổ cứng SSD, thậm chí có thể nhảy vọt 70-75% so với quý trước.
Đợt tăng này tiếp nối quý I/2026 biến động và chưa có dấu hiệu kết thúc. Trong ba tháng đầu năm, giá hợp đồng DRAM ghi nhận mức tăng kỷ lục 90% so với cùng kỳ năm ngoái. Đà tăng DRAM hiện chậm lại một chút, trong khi NAND Flash lại vượt xa mức tăng 60% của quý trước.
Nguyên nhân của tình trạng trên là việc các nhà cung cấp chip nhớ đang ưu tiên năng lực sản xuất cho khách hàng AI. Hiện phần lớn sản lượng NAND Flash đổ dồn vào các ổ cứng SSD dành cho doanh nghiệp. Các nhà cung cấp dịch vụ đám mây lớn cũng đang "vét sạch nguồn cung" thông qua thỏa thuận dài hạn, khiến thị trường điện tử tiêu dùng rơi vào tình trạng khan hiếm nghiêm trọng.
Nguời dùng cá nhân là nhóm bị ảnh hưởng nhất. Các nhà sản xuất chip nhớ chủ động cắt giảm lượng hàng xuất cho công ty lắp ráp máy tính để ưu tiên mảng máy chủ vốn mang lại lợi nhuận cao hơn. Điều này buộc các hãng máy tính phải mua linh kiện với giá đắt đỏ hơn qua bên trung gian, gián tiếp đẩy cao giá sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng.
Đối với thị trường điện thoại và máy tính giá rẻ, phân khúc bộ nhớ eMMC/UFS đối mặt với sự thiếu hụt lớn nhất. Do có lợi nhuận thấp hơn so với SSD doanh nghiệp, dòng chip nhớ này bị nhà cung cấp xếp vào nhóm ưu tiên thấp nhất trong dây chuyền sản xuất.
TrendForce nhận định tình trạng thiếu hụt sẽ kéo dài vài năm do những cơ sở sản xuất mới dự kiến đến cuối năm 2027 hoặc 2028 mới có thể đi vào hoạt động với công suất lớn.
Để đối phó với chi phí linh kiện leo thang, nhiều nhà sản xuất máy tính và điện thoại thông minh đang cân nhắc giảm dung lượng lưu trữ trên các sản phẩm mới để giữ giá ổn định. Giới chuyên gia cảnh báo nếu đà tăng không được kiểm soát, nó có thể gây ra những hậu quả tiêu cực cho toàn bộ chu kỳ phát triển của ngành công nghệ trong tương lai gần.
Tuy nhiên, mọi thứ có thể sớm giải quyết sau khi Trung Quốc ban hành tiêu chuẩn quốc gia bắt buộc đầu tiên cho pin dự phòng, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1.4.2027.
Điểm đầu tiên trong quy định nhằm giải quyết nguyên nhân chính dẫn đến cháy nổ pin: tế bào pin bị hư hại bởi các sự cố như rơi, ép hoặc đâm thủng. Theo quy định, pin dự phòng sẽ phải trải qua bài kiểm tra đâm kim, mô phỏng chính xác tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Nếu một tế bào pin bắt lửa hoặc phát nổ khi bị đâm thủng, nó sẽ bị loại ngay lập tức.
Bước kiểm tra này sẽ loại bỏ những tế bào pin kém chất lượng, vốn phổ biến trong thị trường pin dự phòng giá rẻ trong nhiều năm qua. Để vượt qua bài kiểm tra này, các nhà sản xuất cần sử dụng chất hóa học và cấu trúc pin an toàn hơn - những thứ không thể làm giả.
Tiêu chuẩn mới cũng nhắm vào hiện tượng phổ biến trên pin dự phòng giá rẻ: nhãn mác ghi 20.000 mAh, hiệu suất thực tế thấp hơn nhiều. Cụ thể, các công ty cần ghi rõ ràng và chính xác về cả công suất lẫn tuổi thọ sản phẩm. Việc thực thi các yêu cầu này sẽ loại bỏ một trong những hình thức lừa đảo phổ biến nhất trong ngành giúp người dùng nhận được sản phẩm đúng như quảng cáo.
Trước khi tiêu chuẩn được áp dụng chính thức, đã có 28 nhà sản xuất tế bào pin lớn, bao gồm ATL, BYD, Lishen và Huizhou Marathon, tham gia vào các bài kiểm tra sơ bộ. Năm công ty này đã cung cấp giải pháp chip và BMS (hệ thống quản lý pin điện tử) cũng đã vượt qua các bài kiểm tra ban đầu.
Sự tham gia tích cực của ngành công nghiệp trước khi tiêu chuẩn mới có hiệu lực bắt buộc cho thấy các nhà sản xuất đang nghiêm túc chuẩn bị thay vì chờ đợi hạn chót. Trong thực tế, đây được xem là khoảng thời gian chuẩn bị hợp lý cho các công ty nhằm tránh tình huống phải vội vàng giải quyết khi thời gian thực thi bắt đầu được áp dụng.
Kết quả là pin dự phòng tại Trung Quốc sẽ thực sự trở nên an toàn hơn và tác động không nhỏ với thị trường, đặc biệt khi đây là nguồn cung phần lớn pin dự phòng giá cả phải chăng cho toàn cầu.
Phi hành đoàn trên tàu vũ trụ Orion thuộc nhiệm vụ Artemis II đang trong ngày thứ tư trên chuyến bay 10 ngày quay quanh Mặt Trăng. Đây là sự kiện được đánh giá mang tính lịch sử bởi khôi phục lại hoạt động thám hiểm không gian của con người ngoài Trái Đất. Artemis II còn là chuyến bay có người lái lên Mặt Trăng đầu tiên chứng minh tính ưu việt của công nghệ truyền dữ liệu bằng tia laser, hứa hẹn cách mạng hóa cách thức liên lạc giữa các tàu vũ trụ.
Tàu Orion hiện mang theo O2O, hệ thống liên lạc laser được phát triển tại Phòng thí nghiệm Lincoln của của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) phối hợp với Trung tâm không gian Goddard của NASA. Công nghệ này có khả năng truyền dữ liệu băng thông cao hơn từ không gian so với các hệ thống tần số vô tuyến (RF) truyền thống. Trong sứ mệnh Artemis II, O2O sử dụng chùm tia laser để gửi video và hình ảnh độ phân giải cao về bề mặt Mặt Trăng xuống Trái Đất với tốc độ tới 260 Mb/giây (Mbps).
"Truyền dữ liệu trong không gian luôn là một thách thức lớn", Farzana Khatri, kỹ sư hệ thống trưởng kiêm thành viên cấp cao của Nhóm Truyền thông Quang học và Lượng tử thuộc Phòng thí nghiệm Lincoln, cho biết trên trang MIT. "Cách thức truyền qua RF đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Phổ tần RF hiện bị tắc nghẽn nghiêm trọng và cũng không hoạt động hiệu quả ở khoảng cách xa hơn trong không gian. Truyền dữ liệu qua laser (lasercom) có thể giải quyết vấn đề".
Phòng thí nghiệm Lincoln đã phát triển O2O trong hơn hai thập kỷ. NASA tích hợp công nghệ này vào Artemis II và các sứ mệnh trong tương lai nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thám hiểm không gian đường dài và thu thập dữ liệu lớn.
Tàu vũ trụ Orion đã thu thập được lượng dữ liệu khổng lồ trong ngày đầu tiên của sứ mệnh. Theo Khatri, trước đây, những dữ liệu này nằm trên tàu vũ trụ cho đến khi hạ cánh xuống biển, thậm chí có thể mất nhiều tháng để được chuyển xuống. Nhưng với O2O hoạt động ở tốc độ cao nhất, tất cả dữ liệu có thể đưa xuống Trái Đất trong vòng vài giờ để phân tích. Nhờ đó, NASA có thể "livestream" mọi hoạt động trong sứ mệnh Artemis II.
"Với tốc độ 260 megabit mỗi giây, O2O giúp truyền video độ phân giải cao 4K từ Mặt Trăng", Steve Horowitz, quản lý dự án O2O, cho biết trên website NASA. "Ngoài video và hình ảnh, O2O sẽ truyền và nhận quy trình, hình ảnh, kế hoạch bay và đóng vai trò là cầu nối giữa Orion và trung tâm điều khiển nhiệm vụ trên Trái Đất".
Cốt lõi của O2O là thiết bị đầu cuối quang học dạng module linh hoạt và có khả năng mở rộng (MAScOT). Có kích thước bằng một con mèo nhà, MAScOT gồm một kính viễn vọng 4 inch được gắn trên một giá đỡ xoay hai trục (gimbal) với hệ thống quang học phía sau cố định. Gimbal định hướng chính xác kính viễn vọng và theo dõi chùm tia laser, qua đó các tín hiệu liên lạc được phát ra và nhận theo hướng người nhận hoặc người gửi dữ liệu mong muốn. Bên dưới gimbal là hệ thống quang học gồm các thấu kính hội tụ ánh sáng, cảm biến theo dõi, gương chuyển hướng nhanh và một số thành phần khác để định hướng chùm tia laser một cách chính xác.
Theo Axios, MAScOT là một phần của Dự án trình diễn chuyển tiếp truyền laser tích hợp (LCRD), gồm thiết bị đầu cuối dạng modem và bộ khuếch đại ILLUMA-T, được phóng lần đầu lên Trạm Vũ trụ Quốc tế ISS vào tháng 11/2023. Trong 6 tháng tiếp theo, nhóm nghiên cứu của MIT đã thực hiện các thí nghiệm kiểm tra, đánh giá chức năng cơ bản, hiệu suất và tiện ích của hệ thống.
Ban đầu, nhóm đã kiểm tra xem liên kết quang ILLUMA-T đến LCRD có hoạt động ở tốc độ dữ liệu lý tưởng là 622 Mbps tải xuống và 51 Mbps tải lên hay không. Trên thực tế, tốc độ dữ liệu thậm chí còn cao hơn mong đợi với 1,2 Gb/giây (Gbps) tải xuống và 155 Mbps tải lên. MAScOT được vinh danh trong Giải thưởng R&D 100 năm 2025, sau đó được sử dụng cho Artemis II và sẽ hỗ trợ các sứ mệnh không gian trong tương lai.
"Thành công của chúng tôi với ILLUMA-T đặt nền tảng cho việc truyền phát video độ phân giải HD đến và đi từ Mặt Trăng", Jade Wang, đồng trưởng nhóm nghiên cứu Nhóm Truyền thông Quang học và Lượng tử, cho biết. "Bạn có thể hình dung tốc độ cho phép phi hành gia Artemis sử dụng để kết nối với bác sĩ, phối hợp các hoạt động nhiệm vụ và phát trực tiếp chuyến đi lên Mặt Trăng".
Trong sứ mệnh Artemis II, một nhóm vận hành chuyên trách của Phòng thí nghiệm Lincoln đảm nhiệm nhiệm vụ theo dõi các vấn đề kết nối kéo dài 10 ngày của phi hành đoàn từ các trạm mặt đất ở Houston (Texas) và White Sands (New Mexico) của Mỹ, thậm chí cả một trạm mặt đất ở Australia giúp quan sát tàu vũ trụ tốt hơn từ bán cầu Nam. Trước khi phóng, nhóm đã thực hiện một loạt mô phỏng từ trước đến khi phóng, hành trình lên Mặt Trăng và trở về, cho đến khi hạ cánh xuống biển vào cuối sứ mệnh.
"Những bài học kinh nghiệm từ sứ mệnh Artemis II sẽ mở đường cho con người quay trở lại bề mặt Mặt Trăng và xa hơn nữa, cuối cùng là đến Sao Hỏa", Khatri nói thêm. "Thông qua các chương trình Artemis, O2O sẽ đặt nền tảng cho kết nối dữ liệu tốc độ cao từ không gian, tạo nên di sản cho thế hệ tương lai".
Tàu Artemis II rời bệ phóng tối 1/4 (5h35 ngày 2/4 giờ Hà Nội), đưa bốn phi hành gia bay quanh Mặt Trăng, đánh dấu sứ mệnh có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và chuyên gia nhiệm vụ Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA).
Nếu không có vấn đề lớn nào khác phát sinh trong Artemis II, NASA sẽ thử nghiệm tàu Orion và các trạm đổ bộ Mặt Trăng trên quỹ đạo Trái Đất trong nhiệm vụ Artemis III năm 2027. Cơ quan này đặt mục tiêu thực hiện chuyến đổ bộ Mặt Trăng đầu tiên vào năm 2028 với nhiệm vụ Artemis IV. Đến thập niên 2030, NASA kỳ vọng bắt đầu phát triển các khu định cư, robot tự hành và trạm đổ bộ chở hàng, hướng đến thiết lập sự hiện diện bền vững trên bề mặt Mặt Trăng.