Mục Lục
ToggleSáng nay (6.4), tỷ giá trung tâm giữa VND với USD do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.106 đồng, giảm 1 đồng so với cuối tuần qua. Với biên độ ±5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại được phép dao động trong khoảng 23.850 – 26.361đồng/USD. Ngay sau đó, giá USD trong các ngân hàng thương mại đồng loạt giảm 1 đồng và tiếp tục bán ra kịch trần. Cụ thể, Ngân hàng Vietcombank giảm 1 đồng khi mua chuyển khoản xuống 26.141 đồng, bán ra 26.361 đồng; Ngân hàng ACB giữ nguyên chiều mua chuyển khoản 26.150 đồng như cuối tuần trước và giảm 1 đồng ở chiều bán ra, còn 26.361 đồng…
Một số ngoại tệ khác cũng quay đầu giảm. Chẳng hạn, giá euro tại Vietcombank giảm 60 đồng khi mua chuyển khoản xuống 29.847 đồng, bán ra còn 31.106 đồng; bảng Anh giảm 80 đồng, đưa giá mua chuyển khoản xuống 34.210 đồng, bán ra 35.306 đồng; yen Nhật cũng giảm 0,65 đồng khi mua chuyển khoản còn 160,83 đồng và bán ra 169,33 đồng…
Giá USD thế giới sáng đầu tuần tăng nhẹ. Chỉ số USD-Index lên 100,25 điểm, cao hơn hôm qua 0,22 điểm. Trong tuần qua, dù đồng bạc xanh đã có lúc giao dịch khá giằng co nhưng vẫn ghi nhận chiều tăng trong bối cảnh giá dầu leo thang do lo ngại gián đoạn nguồn cung, liên quan đến việc Iran đóng cửa eo biển Hormuz. Kỳ vọng của nhiều nhà đầu tư về việc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục giữ nguyên lãi suất cũng là một nguyên nhân đẩy USD đi lên trong tháng 3. Riêng yen Nhật cũng gia tăng trong những ngày qua khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) thông báo nâng lợi suất danh nghĩa trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm phát hành trong tháng 4 lên mức 2,4% – cao nhất gần 30 năm. Động thái này làm gia tăng kỳ vọng BoJ sẽ sớm nâng lãi suất, qua đó hỗ trợ yen Nhật.
Trong khi đó, một thành viên Hội đồng Thống đốc Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) – ông Olaf Sleijpen – chia sẻ với CNBC rằng trong vài tuần tới, các thành viên Hội đồng Thống đốc sẽ nhóm họp tại Frankfurt cùng Ban điều hành để xem xét các bước đi tiếp theo. Nội dung thảo luận của cơ quan này sẽ xoay quanh việc tăng lãi suất hoặc giữ nguyên ở mức hiện tại…
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/gia-usd-hom-nay-642026-quay-dau-giam-cung-euro-yen-nhat-185260406074629419.htm

Bộ Công thương đang lấy ý kiến dự thảo quyết định về việc quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia. Theo đó, Bộ đề xuất khung giờ cao điểm thay đổi theo từng mùa trong năm. Cụ thể, từ thứ hai đến thứ bảy vào tháng 1 - 4 và tháng 9 - 12, khung giờ cao điểm sẽ từ 14 - 19 giờ (5 tiếng); từ tháng 5 - 8, giờ cao điểm từ 14 giờ 30 - 16 giờ 30 (2 tiếng) và 19 giờ 30 - 22 giờ 30 (3 tiếng). Khung giờ thấp điểm là 6 tiếng mỗi ngày, từ 0 - 6 giờ sáng. Còn lại giờ bình thường có 13 tiếng mỗi ngày từ thứ hai đến thứ bảy và 18 tiếng ngày chủ nhật.
Bộ này lý giải, việc điều chỉnh các khung giờ sử dụng điện của hệ thống điện quốc gia xuất phát trong bối cảnh vận hành thực tế thay đổi nhiều so với 12 năm trước. Đặc biệt, từ năm 2019 đến nay, với sự thâm nhập mạnh mẽ và gia tăng tỷ trọng của nguồn điện mặt trời (ĐMT) trong cơ cấu nguồn điện, biểu đồ công suất các loại hình nguồn điện đã có sự thay đổi đáng kể. Thế nên việc điều chỉnh khung giờ giúp phản ánh đúng đặc điểm cung - cầu điện năng trong bối cảnh mới. Ngoài ra, việc xác định hợp lý các khung giờ giúp tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng. Người dùng điện sẽ điều chỉnh hành vi tiêu thụ điện nhằm giảm chi phí, qua đó giảm áp lực cho hệ thống điện trong thời gian cao điểm. Hơn nữa, khi khung giờ cao điểm ngược (lệch) với giờ phát cao của các nguồn năng lượng tái tạo sẽ là động lực để người đầu tư ĐMT phát triển thiết bị lưu trữ để sử dụng vào khung giờ cao điểm.
Tuy nhiên, Tập đoàn Điện lực VN (EVN) lo ngại, với khoảng 1,25 triệu công tơ phục vụ mua bán, giao nhận điện, trong đó phần lớn công tơ được cài đặt theo khung giờ cố định; để triển khai cài đặt lại công tơ theo khung giờ mới có thể kéo dài đến 3 tháng, khối lượng công việc phát sinh rất lớn, bao gồm cập nhật cấu hình; đồng bộ dữ liệu giữa công tơ với hệ thống thu thập dữ liệu đo đếm từ xa, hệ thống quản lý khách hàng và tính hóa đơn (CMIS) và các hệ thống liên quan…
Quan trọng hơn, việc triển khai đồng loạt trên phạm vi rộng và thực hiện nhiều lần trong năm tiềm ẩn nhiều rủi ro sai sót, phát sinh khiếu nại của khách hàng và chi phí khi triển khai. Từ đó, EVN đề nghị chưa áp dụng điều chỉnh khung giờ theo mùa. Khung giờ cao điểm theo đề xuất của EVN tập trung vào 5 tiếng từ chiều tối đến đêm (17 giờ 30 - 22 giờ 30) từ thứ hai đến thứ bảy; giờ bình thường từ 6 - 17 giờ 30 và từ 22 giờ 30 - 24 giờ từ thứ hai đến thứ bảy; chủ nhật từ 6 - 24 giờ; khung giờ thấp điểm tất cả các ngày trong tuần, thời gian từ 0 - 6 giờ.
Như vậy, khung giờ cao điểm theo đề xuất của EVN kéo dài vào buổi tối và không tính giá cao điểm vào ban ngày. Trong khi khung giờ cao điểm của Bộ Công thương đề xuất thay đổi theo mùa và phân bổ giờ cao điểm cả ban ngày (buổi chiều) và buổi tối.
Ông Nguyễn Quốc Việt, Tổng giám đốc Công ty CP Vinasol, nhận xét việc thay đổi các khung giờ cao điểm, thấp điểm của Bộ Công thương nhằm mục tiêu khuyến khích nhà đầu tư ĐMT phải đầu tư pin lưu trữ thì mới có hiệu quả. "Việc phân bổ lại các khung giờ nhằm giúp làm phẳng biểu đồ phụ tải của ngành điện, giảm áp lực lên lưới điện vì khi vào ban đêm sẽ có nguồn phát từ các hệ thống lưu trữ. Tôi nghĩ cơ quan quản lý đang tìm cơ chế tốt nhất nhằm tháo gỡ cho ĐMT mái nhà bên cạnh chính sách thay đổi về khung giờ nhằm thúc đẩy việc lắp pin lưu trữ. Nếu chính sách này được tổ chức tốt, chắc chắn sẽ kích hoạt mạnh việc sử dụng ĐMT kết hợp lưu trữ", ông Việt nói và thông tin thêm, chi phí đầu tư ĐMT có pin lưu trữ nay khá cạnh tranh, còn khoảng 12 - 15 triệu đồng/kWh, thời gian hoàn vốn chỉ còn khoảng 3 năm thay vì 5 năm như trước. Cùng với đó, chính sách mua điện dư thừa cởi mở hơn cũng là động lực thúc đẩy người dân lắp đặt.
Các chuyên gia cho rằng ĐMT tiềm năng lớn, song mức huy động không tăng như kỳ vọng do hạ tầng tải điện khó đáp ứng. TS Ngô Đức Lâm, nguyên Cục trưởng Cục An toàn kỹ thuật và môi trường, khuyến nghị cần tính toán phụ tải, nếu bảo đảm an toàn, hệ thống có thể nâng công suất mua điện dư của nguồn điện này cao hơn, chiếm tỷ trọng 20% trên toàn hệ thống. Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 10 về tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển ĐMT mái nhà tự sản tự tiêu, trong đó nói rõ ưu tiên lắp đặt tại cơ quan, công sở, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và hộ gia đình; khuyến khích lắp đặt kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng nhằm giảm phụ tải giờ cao điểm và tăng khả năng tự chủ nguồn điện tại chỗ.
"Chỉ đạo rất rõ ràng. Đầu tư ĐMT cho cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ chế về vốn đầu tư, ưu đãi tín dụng đầu tư thế nào, phải nhanh chóng hơn. Hiện ĐMT mái nhà cho công sở dường như vẫn giậm chân tại chỗ. Ngoài ra, đã khuyến khích pin lưu trữ thì cũng cần có chính sách ưu đãi để giúp cân bằng phụ tải hệ thống. Tôi từng đề xuất nếu nhà đầu tư có lắp đặt hệ thống lưu trữ thì EVN cần mua điện với giá cao hơn mức bình quân. Bởi nếu không có nguồn điện này, EVN vẫn phải nhập khẩu hoặc mua điện từ những nguồn đắt đỏ", ông Ngô Đức Lâm nói.
Ông Nguyễn Quốc Việt đồng tình, muốn đẩy nhanh ĐMT cần sửa gấp Nghị định 58 về giới hạn công suất lắp đặt; đẩy nhanh triển khai nâng tỷ lệ bán điện lên lưới. Hiện Bộ Công thương đã có đề xuất cho phép bán lên lưới 50% (thay vì 20% công suất lắp đặt), song đề xuất này vẫn còn trên giấy. Bên cạnh đó, sớm có chính sách khuyến khích bán điện vào giờ cao điểm và ưu đãi cho các hệ thống có pin lưu trữ. Ông Việt nói: "Tháo được chốt nghẽn, chắc chắn điện tái tạo sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, cũng như tăng độ tin cậy, an ninh năng lượng".
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Agribank chủ động giảm lãi suất tiền gửi, tiên phong thực hiện giảm lãi suất cho vay

Ngày 9.4.2026, ngay sau khi NHNN tổ chức cuộc họp về triển khai công tác ngân hàng với đại diện các NHTM về điều hành chính sách tiền tệ, Agribank đã có văn bản triển khai điều chỉnh giảm mạnh lãi suất huy động 0,5%/năm kỳ hạn từ 24 tháng trở lên đối với khách hàng cá nhân, hiệu lực từ 13.4.2026.
Động thái này cho thấy phản ứng chính sách nhanh và chủ động của Agribank trong thực hiện chỉ đạo của NHNN về ổn định mặt bằng lãi suất. Với vai trò là ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực, Agribank tiếp tục thể hiện tinh thần tiên phong, gương mẫu trong việc triển khai nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, đồng thời chủ động cân đối nguồn vốn, kiểm soát chi phí để góp phần ổn định thị trường tiền tệ.
Không chỉ giảm lãi suất huy động, Agribank cũng là ngân hàng tiên phong tuyên bố giảm lãi suất cho vay. Theo cơ chế áp dụng tại Agribank, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng được sử dụng làm lãi suất tham chiếu để xác định lãi suất cho vay trung, dài hạn. Vì vậy, khi lãi suất tham chiếu giảm 0,5%/năm, lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh giảm tương ứng 0,5%/năm. Việc giảm đồng thời cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay cho thấy nỗ lực của Agribank trong việc chia sẻ chi phí vốn với khách hàng, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế vẫn cần thêm động lực để phục hồi và tăng trưởng.
Thực tế, định hướng điều hành này đã được Agribank chuẩn bị từ sớm. Ngay từ đầu năm 2026, trước áp lực cạnh tranh lãi suất huy động và áp lực thanh khoản hệ thống gia tăng, Agribank đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để chủ động điều hành lãi suất và cơ cấu nguồn vốn theo hướng thận trọng, linh hoạt, bảo đảm ổn định thanh khoản, qua đó góp phần giữ ổn định mặt bằng lãi suất và hỗ trợ tăng trưởng tín dụng.
Trong đó, Agribank tập trung cơ cấu nguồn vốn theo hướng khuyến khích tăng trưởng CASA, ưu tiên các nguồn vốn có chi phí hợp lý, phát triển sản phẩm huy động trên kênh số và đẩy mạnh tăng trưởng tiền gửi ổn định từ dân cư. Việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện với biên độ phù hợp, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, phù hợp với diễn biến thị trường và trên cơ sở cân đối thanh khoản thực tế của Agribank.
Nhờ điều hành lãi suất tiền gửi hợp lý, Agribank không chỉ duy trì được nguồn vốn ổn định mà còn tiếp tục bảo đảm cơ cấu nguồn vốn hiệu quả, giữ chi phí đầu vào ở mức phù hợp, từ đó tạo dư địa để duy trì lãi suất cho vay ở mức thấp, hỗ trợ nền kinh tế. Đây là yếu tố quan trọng giúp Agribank tiếp tục phát huy vai trò đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh việc điều chỉnh giảm lãi suất, Agribank tiếp tục triển khai nhiều chương trình cho vay ưu tiên, ưu đãi theo định hướng của Chính phủ và NHNN, hướng tới các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các nhóm khách hàng cần hỗ trợ về vốn. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp về lãi suất và tín dụng cho thấy Agribank không chỉ hưởng ứng chủ trương điều hành, mà còn cụ thể hóa chủ trương đó bằng hành động thực chất, qua đó góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất vẫn chịu nhiều áp lực, việc Agribank chủ động giảm lãi suất huy động, tiên phong giảm 0,5% lãi suất cho vay và tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi là minh chứng rõ nét cho vai trò của một ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực. Không chỉ thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, Agribank còn cho thấy trách nhiệm tiên phong, dẫn dắt và đồng hành với nền kinh tế bằng những giải pháp cụ thể, kịp thời và thiết thực.

Từ sau khi hoàn thành sáp nhập, mở rộng địa giới hành chính đến nay, gần như không tuần nào, các sở chuyên ngành của TP.HCM không có văn bản khẩn gửi UBND TP để báo cáo thông tin liên quan tới việc triển khai các dự án hạ tầng trọng điểm. Nhu cầu kết nối giao thông nội đô giữa 3 cực tăng trưởng (vùng lõi TP.HCM - Bình Dương - Bà Rịa-Vũng Tàu), giải quyết bài toán ùn tắc giao thông hiện hữu, rồi kết nối tới cảng hàng không, cảng biển…, hàng loạt những bài toán cấp bách về kinh tế tạo sức ép rất lớn lên tiến độ nối thông "huyết mạch" giao thông. Đó là lý do UBND TP.HCM liên tiếp chỉ đạo đưa các dự án trong kế hoạch vào diện khẩn cấp hoặc cấp bách phải làm ngay, còn với các công trình đang "nóng máy" thì quyết liệt đẩy tiến độ tới từng dự án.
Mới nhất, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được đã đề nghị thủ trưởng các sở, ngành, chủ đầu tư và các đơn vị liên quan dồn lực bảo đảm mốc tiến độ các dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Trong đó, dự án xây dựng đường Vành đai 3 TP.HCM và dự án cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu cần hoàn thành toàn bộ, đưa vào khai thác trước 30.6. Đối với tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành - Tham Lương, lãnh đạo UBND TP.HCM yêu cầu các đơn vị đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành toàn bộ dự án và đưa vào vận hành trong năm 2030. Với tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành - Thủ Thiêm, Chủ tịch UBND TP yêu cầu khẩn trương tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt dự án, đảm bảo đủ điều kiện khởi công dự án trước ngày 30.4. Tuyến đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành cũng cần đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư dự án, phấn đấu khởi công trước ngày 30.6.
Bên cạnh đó, TP.HCM đang đặt yêu cầu khởi công 3 siêu cảng biển tỉ USD gồm Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ; Cảng tổng hợp và container Cái Mép Hạ (giai đoạn 1) và Cảng Cái Mép Gemadept - Terminal Link (giai đoạn 2) ngay trong tháng này để chào mừng kỷ niệm 51 năm ngày đất nước thống nhất (30.4.1975 - 30.4.2026). Dịp này, dự án Trung tâm Chính trị - Hành chính mới tại Thủ Thiêm và Công viên, quảng trường ven sông tại Bến Nhà Rồng cũng sẽ chính thức được khởi công. Sau khởi công, tiến độ các siêu công trình này cũng rất "căng" khi đa số đều đặt mục tiêu hoàn thành trong giai đoạn 2028 - 2030.
Không chỉ các sở, ngành chạy đua với tiến độ, hàng loạt doanh nghiệp (DN) tư nhân đăng ký nghiên cứu hay đề xuất đầu tư các dự án trọng điểm của TP.HCM cũng phải bật trạng thái "khẩn" cho tất cả các đầu việc. Đơn cử, Liên danh Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Becamex - CTCP (Becamex) - Công ty CP Tập đoàn Trường Hải (Thaco) trong văn bản gửi UBND TP.HCM đề xuất nghiên cứu 2 tuyến metro nối từ trung tâm TP.HCM tới trung tâm hành chính Bình Dương cam kết tối đa trong 3 tháng sẽ hoàn thiện phương án đầu tư, nếu được chấp thuận giao dự án sẽ hoàn thành các thủ tục pháp lý ngay trong năm nay, đảm bảo đủ điều kiện khởi công vào quý 1/2027 và hoàn thành đưa vào khai thác vận hành cả hai tuyến vào năm 2030.
Liên danh Tập đoàn Đèo Cả - Trí Tín kiến nghị thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường trên cao dọc Vành đai 2 phía nam (đường Nguyễn Văn Linh) cũng cam kết dồn mọi nguồn lực triển khai ngay trong năm nay để hoàn thành vào năm 2029.
Có thể thấy, không khí "hầm hập" đang bao trùm toàn ngành xây dựng của TP.HCM.
Đáng nói, nếu như trước đây các dự án chỉ lo không đủ vốn và mặt bằng để khởi công thì hiện nay, nỗi lo lớn nhất của Sở Xây dựng chính là các dự án khởi công nhanh nhưng không có đủ nhiên liệu, vật liệu xây dựng để làm.
Theo thống kê mới nhất của Sở NN-MT TP.HCM, trong giai đoạn 2026 - 2030, có 64 dự án triển khai trên toàn địa bàn TP nhưng nguồn cung vật liệu đang thiếu so với nhu cầu.
Riêng trong năm nay, đối với đá xây dựng, nhu cầu khoảng hơn 28 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ hơn 23 triệu m3, thiếu 4,5 triệu m3; cát xây dựng nhu cầu 15,56 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 0,69 triệu m3, thiếu 14,87 triệu m3. Đối với cát san lấp, nhu cầu khoảng 52,89 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 2,30 triệu m3. Tương tự, đất san lấp nhu cầu khoảng 23,67 triệu m3 nhưng công suất đang khai thác chỉ 12,69 triệu m3, thiếu 11 triệu m3.
Trong khi đó, tình hình nhu cầu và khả năng cung ứng vật liệu xây dựng giai đoạn 2027 - 2030 cho 46 dự án trọng điểm cũng không khả quan. Đơn cử cát xây dựng dù nhu cầu cần đến 61,3 triệu m3 nhưng khả năng cung ứng chỉ được 3 triệu m3, thiếu đến 58,3 triệu m3. Hay cát san lấp, nhu cầu cho 46 dự án trọng điểm đến hơn 177 triệu m3 nhưng chỉ đáp ứng được hơn 2 triệu m3, còn thiếu đến hơn 175 triệu m3.
Các dự án chưa triển khai đã lo, các công trình đang trong giai đoạn tăng tốc về đích còn khổ gấp nhiều lần vì "vừa chạy vừa chờ". Cụ thể, dự án Vành đai 3 TP.HCM đoạn phía tây theo kế hoạch phải thông xe kỹ thuật chậm nhất ngày 31.12.2025, hướng tới khai thác toàn tuyến vào 30.4.2026. Tuy nhiên, mốc hoàn thành đã được điều chỉnh tới trước ngày 30.6.2026. Dù vậy, ghi nhận thực tế trên công trường cho thấy nhiều đoạn tuyến vẫn còn ngổn ngang, thậm chí chưa hoàn tất đắp cát gia tải, vốn là khâu then chốt thường kéo dài 6 - 9 tháng.
Theo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông TP.HCM - chủ đầu tư, các nhà thầu muốn thi công nhanh cũng không được vì vừa làm vừa phải chờ nguồn nguyên vật liệu "nhỏ giọt". Riêng nhu cầu đá của dự án lên tới 88.000 m3 nhưng hiện mới chỉ cung cấp được khoảng 26.000 m3. Tổng nhu cầu đá cho 5 gói thầu phía tây trong năm 2026 lên tới khoảng 1,2 triệu m3 nhưng nguồn cung từ các mỏ hiện còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu tăng tốc thi công.
Tương tự, cả 10 gói thầu tại dự án cải tạo kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên đều đang chậm so với hợp đồng do vật tư cát, đá khan hiếm, giá tăng cao làm ảnh hưởng đến kế hoạch thi công của các nhà thầu. Công trình hiện cần khoảng 180.850 tấn bê tông nhựa, nhưng đến nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu. Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị TP.HCM (chủ đầu tư) lo ngại mục tiêu hoàn thành toàn bộ dự án vào cuối năm 2026 đang bị đe dọa.
Áp lực thiếu nguyên vật liệu còn nhân lên gấp nhiều lần khi các công trình đang phải gồng mình vượt "bão" giá dầu. Một số nhà thầu cho biết chi phí vận hành máy móc mỗi ngày đã tăng gấp đôi khiến họ phải "cắn răng" chịu lỗ để giữ tiến độ. Chưa kể, giá dầu tăng kéo theo giá nhựa đường tăng đột biến (gần 32%), giá các loại vật liệu như cát, đá, gạch cũng tăng từ 13,5 - 23,3% do chi phí khai thác và vận chuyển đường thủy/đường bộ leo thang. Đó là lý do nhiều gói thầu không thể duy trì phương thức "3 ca, 4 kíp" như trước vì càng làm càng lỗ. Một số đơn vị thậm chí phải tạm dừng các mũi thi công không cấp thiết để chờ điều chỉnh giá. Tiến độ các dự án trọng điểm từ khó chuyển hẳn sang ì ạch.
Trước tình trạng nói trên, Sở NN-MT TP.HCM đã đưa ra hàng loạt giải pháp cho năm 2026 để tăng cung. Đối với 4,5 triệu m3 đá xây dựng còn thiếu, giải pháp được đề xuất là nâng công suất khai thác tại 11 mỏ có chất lượng đá tốt và chủ đầu tư có đủ năng lực khai thác tại Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình Dương (cũ). Dự kiến sau khi nâng công suất, các công trình sẽ có thêm hơn 7 triệu m3 đá, vượt nhu cầu. Đối với 14,87 triệu m3 cát xây dựng còn thiếu, có thể nâng công suất khai thác tại 10 mỏ, đáp ứng được 5,95 triệu m3. Số 8,92 triệu m3 còn lại có thể đẩy nhanh tiến độ từ việc nạo vét 22 hồ của TP. Tương tự, 25,96 triệu m3 cát san lấp còn thiếu cũng đã có kế hoạch chi tiết nạo vét từ nguồn sông nào, tận thu hồ ở đâu, nếu không đủ có thể thay thế bằng cách xay đá, rửa cát biển…
Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng, cát xây dựng, đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu, chỉ riêng cát san lấp vẫn thiếu khoảng 24,6 triệu m3 (46,5%) trong năm 2026. Riêng giai đoạn 2027 - 2030, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng và đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu. Song, cát xây dựng vẫn thiếu 17,17 triệu m3 (tương ứng 28%), cát san lấp thiếu đến 170,74 triệu m3 (96%).
Giám đốc Sở NN-MT TP.HCM Nguyễn Toàn Thắng thông tin: Ngoài các biện pháp trên, Sở cũng đề nghị Thành ủy, UBND TP.HCM chấp thuận cho nâng công suất khai thác mỏ theo Nghị quyết số 66.4. Đồng thời, có cơ chế điều phối nguồn vật liệu, ưu tiên và nâng tỷ lệ cung cấp cho các công trình sử dụng vốn ngân sách của TP, kể cả đối với các mỏ được cấp phép khai thác phục vụ mục đích thương mại. Đồng thời, nguồn vật liệu tăng thêm từ việc "mở rộng, xuống sâu, thông moong, thông vách" được ưu tiên 100% cho các công trình vốn ngân sách của TP. Trường hợp các công trình không có nhu cầu sử dụng thì chủ mỏ mới được phép bán thương mại.
Ông Phan Tấn Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Khoáng sản TP.HCM, nhìn nhận TP.HCM được xác định là cực tăng trưởng quan trọng đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của cả nước. Vì vậy, các dự án cầu đường, hạ tầng cảng, xây dựng đô thị đã, đang và sẽ được triển khai không đơn thuần là xây dựng thêm vài con đường, cây cầu mà là thực hiện một cuộc "đại tu cấu trúc" để thoát khỏi chiếc áo hạ tầng đã quá chật chội, bước vào kỷ nguyên phát triển mới cùng dân tộc. Do đó, các dự án nếu chậm trễ sẽ đánh mất "thời điểm vàng" để TP.HCM chuyển mình. TP cần tập trung quyết liệt đưa ra những giải pháp tháo nút thắt nguồn vật liệu xây dựng để các công trình quan trọng đảm bảo tiến độ, giảm thiểu phát sinh chi phí vốn đầu tư.
Ông Đạt kiến nghị TP nhanh chóng cấp phép nâng công suất tối đa cho các mỏ đang khai thác. Các mỏ cần được phép xuống sâu vì càng xuống sâu thì chất lượng đá càng tốt, tận thu được tối đa, tránh lãng phí nguồn tài nguyên đá xây dựng đang có. Đối với các mỏ đã khai thác hết công suất hoặc còn nhiều trữ lượng đã được cấp giấy phép thì Sở NN-MT và các sở ngành liên quan cần tiếp tục tạo điều kiện hỗ trợ cho DN sớm hoàn thành hồ sơ thủ tục để trình UBND TP xem xét cấp giấy phép điều chỉnh tăng công suất theo nghị Quyết 66.4/2025.
Với các mỏ đã có văn bản chấp thuận chủ trương thăm dò xuống sâu, cho phép được thực hiện ngay hồ sơ thủ tục để xin cấp giấy phép thăm dò, phê duyệt trữ lượng và hoàn thành hồ sơ theo quy định để được cấp giấy phép khai thác khoáng sản mà không cần phải chờ việc khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Song song, giải quyết ngay việc ưu tiên cho các DN đang hoạt động khai thác khoáng sản theo giấy phép đang còn hiệu lực được phép mở rộng xuống sâu mà không phải chờ việc khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/khan-cap-day-tien-do-loat-cong-trinh-trong-diem-185260409220935784.htm

