Với độ tuổi này, ước tính tuổi trung bình của người mắc đột quỵ ở Việt Nam trẻ hơn thế giới 10 năm. Mỗi năm nước ta ghi nhận đến hơn 200.000 trường hợp đột quỵ, tỉ lệ tử vong khoảng 20-30%.
Đặc biệt tình trạng đột quỵ ở người trẻ ngày càng gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp tới nhóm người trong độ tuổi lao động. Vì vậy, người trẻ tuổi nên làm gì để phòng đột quỵ?
Đột quỵ là gì?
Đột quỵ là một biến chứng sức khỏe nguy hiểm, có thể xảy ra ở bất cứ ai kể cả người còn trẻ, và dễ dàng cướp đi tính mạng người bệnh nếu không can thiệp kịp thời.
Người trung niên, cao tuổi, người mắc bệnh lý nền mạn tính, đặc biệt trong số đó người mắc bệnh tim mạch là những đối tượng nguy cơ cao bị đột quỵ.
Mặc dù vậy những năm gần đây, đột quỵ ở người trẻ đang có xu hướng gia tăng đáng kể trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam.
Tại sao bị đột quỵ?
Đột quỵ (hay tai biến mạch máu não) là tình trạng não bộ bị tổn thương nghiêm trọng do mạch máu nuôi não bị tắc nghẽn (nhồi máu não) hoặc vỡ (xuất huyết não), khiến não thiếu oxy trầm trọng và tế bào não sẽ bị chết đi trong vài phút.
Đây là những trường hợp cần cấp cứu y tế khẩn cấp nếu không sẽ gây tàn phế vĩnh viễn hoặc tử vong.
Nói đến đột quỵ tức là đột quỵ não và đột quỵ tim. Đột quỵ não, còn gọi là tai biến mạch máu não, xảy ra khi dòng máu cung cấp nuôi não từ tim lên bị ngừng do tắc mạch máu não (thường là cục máu đông) hoặc vỡ mạch máu não (do xơ vữa động mạch não).
Đột quỵ ở người trẻ tuổi đang gia tăng do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Một tỉ lệ đáng kể liên quan tới lối sống không lành mạnh như hút thuốc (thuốc lá, xì gà, thuốc lào), nghiện rượu bia, lười vận động, và lạm dụng chất kích thích làm tăng nguy cơ hoặc tắc mạch máu não.
Đối với stress và áp lực công việc là do áp lực cao gây căng thẳng mạn tính, mất ngủ, khiến huyết áp tăng cao đột ngột. Bên cạnh đó người mắc bệnh nền tim mạch và chuyển hóa cũng làm gia tăng số người mắc cao huyết áp (huyết áp cao chiếm khoảng 10% các trường hợp); đái tháo đường (khoảng 30% các trường hợp), và rối loạn mỡ máu (mỡ máu tăng cao), đây là những nguyên nhân trực tiếp gây xơ vữa hoặc đột quỵ não.
Cần kể đến những trường hợp bị dị dạng mạch máu não như các bệnh lý bẩm sinh phình mạch, dị dạng động tĩnh mạch dễ vỡ gây xuất huyết não. Đối với các trường hợp thừa cân, béo phì có chỉ số khối cơ thể (BMI > 30) và vòng eo lớn (trên 80cm) sẽ làm tăng nguy cơ đột quỵ.
Bên cạnh đó chế độ ăn không hợp lý như thường xuyên ăn đồ ăn nhanh, nhiều dầu mỡ (đặc biệt mỡ động vật), nhiều muối (ăn mặn) làm tăng cholesterol và áp lực lên mạch máu cũng là những nguyên nhân góp phần gây đột quỵ, ngoài ra đột quỵ còn có thể do di truyền.
Cần thực hành lối sống lành mạnh như hạn chế rượu bia, không hút thuốc lá, thuốc lào, hạn chế ăn thức ăn nhanh cũng như mỡ động vật, cần giảm áp lực công việc (giảm stress), không nên thức khuya hoặc dậy quá sớm.
Ngoài ra cần tăng cường vận động thể chất như tập thể dục buổi sáng và trước khi đi ngủ buổi tối hoặc đi bộ mỗi ngày khoảng 30 phút hoặc bơi, chơi các môn thể thao như cầu lông, bóng bàn, pickleball, tennies…
Nên khám bệnh định kỳ để phát hiện bệnh tiểu đường, mỡ máu cao, và bệnh lý mạch máu như huyết áp cao (tăng huyết áp) để được chữa trị kịp thời.
Sau đây, một bác sĩ chuyên khoa thận đã đưa ra lời khuyên chăm sóc sức khỏe thận, nhất là đối với bệnh nhân thận - trong thời tiết nắng nóng kéo dài.
Tiến sĩ Anupam Roy, Phó trưởng Khoa Thận học và Ghép thận tại Aakash Healthcare (Ấn Độ), chia sẻ:
Giữ đủ nước là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu. Vào mùa hè, cơ thể đổ mồ hôi nhiều hơn, làm tăng nguy cơ mất nước. Việc bổ sung đủ nước sẽ giúp thận đào thải độc tố hiệu quả. Một cách kiểm tra đơn giản là quan sát màu nước tiểu: nếu nước tiểu có màu nhạt là dấu hiệu cơ thể đã đủ nước, còn nếu sẫm màu, bạn cần bổ sung thêm chất lỏng, theo tờ Times of India.
Đồng thời, ông cũng đưa ra một số lời khuyên giúp bảo vệ thận trong thời tiết nắng nóng:
Bổ sung thực phẩm giàu nước: Bên cạnh việc uống đủ nước, nên tăng cường các thực phẩm giàu nước trong chế độ ăn hằng ngày. Các loại trái cây và rau củ như dưa chuột, dưa hấu không chỉ giúp cấp nước mà còn cung cấp nhiều dưỡng chất cần thiết.
Kiểm soát lượng muối: Giảm lượng muối trong khẩu phần ăn là điều rất quan trọng đối với sức khỏe thận. Ăn mặn có thể làm tăng huyết áp - một trong những nguyên nhân chính dẫn đến bệnh thận. Vì vậy, cần hạn chế thực phẩm chế biến sẵn và đồ ăn nhanh.
Tránh mất nước khi tập luyện: Dù trời nóng, việc duy trì vận động vẫn cần thiết. Tuy nhiên, nên chọn thời điểm tập luyện phù hợp như sáng sớm hoặc chiều muộn để hạn chế mất nước do đổ mồ hôi nhiều khi tiếp xúc trực tiếp với nắng gắt.
Thận trọng khi dùng thuốc giảm đau: Việc sử dụng thuốc giảm đau thường xuyên có thể gây tổn thương thận. Trong tình trạng mất nước, nguy cơ này càng tăng cao. Vì vậy, nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
Lắng nghe tín hiệu của cơ thể: Cơ thể thường phát ra những cảnh báo sớm. Nước tiểu sẫm màu, lượng nước tiểu giảm hoặc các dấu hiệu bất thường khác có thể cho thấy thận đang gặp vấn đề. Nhận biết sớm những triệu chứng này sẽ giúp phòng tránh các biến chứng nghiêm trọng.
"Trẻ béo phì có thể phát triển xương sớm, dậy thì sớm nhưng lại dừng phát triển chiều cao sớm, là lý do ban đầu cao lớn hơn bạn bè nhưng bị 'vượt mặt' khi bước vào tuổi trưởng thành", TS Phan Bích Nga, Chủ tịch Chi hội Dinh dưỡng Nhi khoa, nói tại hội thảo Cập nhật các khuyến nghị về vi chất dinh dưỡng trong tăng trưởng chiều cao ở trẻ em", hôm 18/4 tại Hà Nội.
Tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em Việt Nam đang tăng nhanh. Giai đoạn 2010 đến 2020, tỷ lệ này ở trẻ dưới 5 tuổi tăng từ 5% lên 8%. Ở nhóm 5 đến 18 tuổi, con số tăng hơn gấp đôi, từ 7% lên 19%, tập trung nhiều ở lứa tuổi học sinh trung học.
Theo TS Nga, bản chất của béo phì không chỉ là "thừa chất" mà là thừa năng lượng. Khi cơ thể dư thừa năng lượng sẽ xảy ra cơ chế cạnh tranh giữa các tế bào, trong đó tế bào mỡ được ưu tiên phát triển, kéo theo nhiều hệ lụy. Quá trình hấp thu canxi bị ức chế, trong khi hoạt động hủy xương lại gia tăng. Hệ xương vì thế suy yếu, không đủ điều kiện để phát triển chiều cao tối ưu.
Ngoài ra, một trong những hệ quả rõ rệt nhất của béo phì ở trẻ là dậy thì sớm. Khi bước vào dậy thì, cơ thể sẽ tăng trưởng nhanh trong một thời gian ngắn. Nhưng đồng thời, các đầu xương cũng bắt đầu đóng lại. Nếu quá trình này diễn ra sớm, "cửa sổ vàng" để phát triển chiều cao cũng khép lại sớm.
Đồng quan điểm, TS Nguyễn Thị Thu Hậu, Bệnh viện Nhi đồng 2, cũng cho hay béo phì ảnh hưởng đến thể chất, tâm lý và chuyển hóa. Đặc biệt, nó gây tích lũy mỡ và làm giảm khối xương và cơ, giảm cơ hội đạt chiều cao tiềm năng tối đa. Vì vậy, trẻ béo phì cần được can thiệp dinh dưỡng và vận động nhằm tăng chiều cao và tăng khối lượng xương.
Cụ thể, trẻ cần giảm đường, giảm chất béo no, cung cấp đủ canxi, vitamin D, vitamin K2 và các yếu tố hỗ trợ xương như đủ đảm, arginine giúp cải thiện sức khỏe xương. Khuyến khích trẻ vận động trung bình - mạnh ít nhất 60 phút mỗi ngày, tối thiểu 3 ngày/tuần có hoạt động cường độ cao, giảm thời gian tĩnh tại (không tính thời gian học) dưới 2 giờ/ngày.
Tình trạng béo phì chỉ là một trong 4 gánh nặng dinh dưỡng mà trẻ em Việt Nam đang đối mặt, bên cạnh suy dinh dưỡng, thiếu vi chất và gia tăng bệnh không lây nhiễm liên quan đến chế độ ăn uống. PGS Phạm Ngọc Khái, Chủ tịch Hội Dinh dưỡng Việt Nam, cho hay hiện khoảng 20% trẻ em có chiều cao thấp hơn chuẩn, phản ánh tình trạng phát triển chưa tối ưu còn phổ biến. Vì vậy, cần một chiến lược liên ngành, kết hợp dinh dưỡng, y tế và các yếu tố xã hội.
Tầm vóc người Việt có nhiều thay đổi trong những năm qua nhưng vẫn thuộc top thấp, đứng thứ 4 ở khu vực Đông Nam Á với chiều cao trung bình nam giới 168,1 cm, còn nữ 156,2 cm. So với các nước Đông Nam Á, chiều cao của người Việt sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Trước đây 10 năm, người Việt đứng gần thấp nhất trong khu vực, chỉ nhỉnh hơn người Indonesia và Philippines.
Các chuyên gia nhấn mạnh để cải thiện tầm vóc người Việt, chìa khóa không chỉ ăn đủ mà còn phải ăn đúng, cân đối giữa năng lượng và vi chất, đồng thời kết hợp vận động hợp lý.
Nhịp sinh học là cơ chế tự nhiên của cơ thể, quyết định thời điểm ngủ - thức và mức độ tỉnh táo trong ngày, phần lớn chịu ảnh hưởng từ yếu tố di truyền. Có người thuộc kiểu “cú đêm”, quen thức khuya, trong khi người khác là “chim sơn ca”, thường dậy sớm và hoạt động hiệu quả vào buổi sáng.
Một nghiên cứu do các nhà khoa học từ Trường Y tế Công cộng Harvard T.H. Chan (Mỹ), Đại học Y khoa Trùng Khánh (Trung Quốc) và Đại học Yonsei (Hàn Quốc) thực hiện trên 150 người từ 40 - 60 tuổi đã làm rõ vai trò của nhịp sinh học trong tập luyện. Những người tham gia đều có nguy cơ bệnh tim mạch như tăng huyết áp, thừa cân, ít vận động hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh.
Họ được chia thành 2 nhóm: Tập luyện vào thời điểm phù hợp hoặc không phù hợp với nhịp sinh học cá nhân, trong các khung giờ 8 - 11 giờ sáng hoặc 18 - 21 giờ. Tất cả đều đi bộ nhanh 5 buổi mỗi tuần, mỗi buổi 40 phút, kéo dài trong 12 tuần.
Kết quả cho thấy, đi bộ vào thời điểm phù hợp với nhịp sinh học mang lại lợi ích rõ rệt hơn cho tim mạch, theo trang tin khoa học Scitechdaily.
Cụ thể, huyết áp tâm thu giảm trung bình 10,8 mmHg ở nhóm tập đúng thời điểm, so với 5,5 mmHg ở nhóm còn lại. Ở người tăng huyết áp, mức giảm đạt 13,6 mmHg, gần gấp đôi so với 7,1 mmHg. Ngoài ra, cả hai nhóm đều cải thiện thể lực, giảm nguy cơ tim mạch và ngủ ngon hơn.
Các nhà nghiên cứu giải thích rằng việc tập luyện đúng “giờ sinh học” giúp điều chỉnh các “đồng hồ ngoại vi” trong cơ bắp, mô mỡ và hệ mạch máu hiệu quả hơn. Nhờ đó, quá trình trao đổi chất được cải thiện, đồng thời giảm viêm - những yếu tố quan trọng đối với sức khỏe tim mạch.
Từ đó, nhóm nghiên cứu kết luận việc áp dụng nguyên tắc “tập thể dục theo nhịp sinh học”, tức lựa chọn thời điểm vận động phù hợp với đồng hồ sinh học của mỗi người, có thể là một hướng đi hiệu quả trong phòng ngừa bệnh tim mạch và rối loạn chuyển hóa.
Vì vậy, để bảo vệ tim mạch tốt hơn, bạn nên chọn thời điểm tập luyện phù hợp với thói quen sinh học của bản thân: Nếu quen dậy sớm, hãy tập vào buổi sáng; ngược lại, nếu hoạt động hiệu quả vào buổi tối, bạn có thể chọn tập vào chiều hoặc tối.