Khoa công tác xã hội – nhân học – xã hội học (Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM) phối hợp tổ chức với Dự án Vượt Sóng (thuộc Nhà văn hóa Thanh niên.
PGS.TS Lê Minh Công (Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP.HCM) nói người khuyết tật có tỉ lệ trầm cảm, lo âu cao gấp 2-3 lần, do tác động của nghèo đói, thất nghiệp và hạn chế trong tiếp cận dịch vụ.
Người khuyết tật chịu gánh nặng về sức khỏe tâm thần như trầm cảm, lo âu, rối loạn giấc ngủ và căng thẳng. Tuy nhiên chỉ 27,8% được sàng lọc, tầm soát có hệ thống. Ngoài ra thiếu nhân sự tâm lý và công tác xã hội, hạn chế ngân sách và kỳ thị.
Ông Công đề xuất mô hình can thiệp theo hướng phân tầng. Tầng 1 tập trung vào phòng ngừa và sàng lọc sớm tại cộng đồng, thông qua trạm y tế, Đoàn Thanh niên… kết hợp truyền thông để giảm kỳ thị.
Tầng 2-3 triển khai các can thiệp tâm lý – xã hội tại phòng chức năng, phòng khám và cơ sở tâm lý thông qua tư vấn cá nhân và can thiệp gia đình. Tầng 4 là điều trị chuyên khoa tại bệnh viện tâm thần như chẩn đoán, điều trị bằng thuốc và các liệu pháp tâm lý chuyên sâu.
ThS Lê Thị Hương Giang (Đại học RMIT) đề xuất xây dựng dịch vụ hỗ trợ tiếp cận giáo dục đại học cho sinh viên khuyết tật, điển hình tại Đại học RMIT được hỗ trợ của Phòng Thúc đẩy bình đẳng và Tiếp cận giáo dục.
Năm 2025, có 286 sinh viên khuyết tật được hỗ trợ, tăng 25%. Nhóm cao nhất là vấn đề sức khỏe tinh thần và đa dạng thần kinh (56,3%) trải đều các chương trình và khoa/ngành học, từ đó nhu cầu hỗ trợ học tập đa dạng, cơ hội thực tập và việc làm.
Đại học RMIT hỗ trợ sinh viên thông qua các biện pháp cá nhân hóa, cụ thể là bản kế hoạch học tập cá nhân cho sinh viên khuyết tật. Bản này sẽ mô tả tình trạng sức khỏe và mức độ ảnh hưởng đến việc học tập, từ đó đưa ra các điều chỉnh phù hợp trong dạy và học. Kế hoạch được cập nhật mỗi học kỳ và chia sẻ đến các giảng viên phụ trách giảng dạy sinh viên đó.
Ngoài ra trong suốt quá trình học, sinh viên còn được hỗ trợ bởi các chuyên viên như tư vấn cho giảng viên về cách áp dụng kế hoạch học tập, cung cấp tài liệu cần thiết, cũng như hỗ trợ trực tiếp trong lớp học, thực hành, thi cử và các hoạt động thực địa thông qua Student Aid Program.
Trường cũng thúc đẩy hợp tác liên đơn vị, như giới thiệu và chuyển gửi sinh viên giữa các bộ phận tham vấn tâm lý, tuyển sinh, học bổng… Đồng thời tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức như workshop, tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm.
Giáo dục người khuyết tật dù khó khăn cũng phải tiên tiến, có chuẩn riêng và tích hợp công nghệ
Cô Nguyễn Thị Thân, Hiệu trưởng Trường khiếm thính Hy vọng Bình Thạnh, nói học sinh khiếm thính cần được hỗ trợ sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, hình ảnh trực quan và thiết bị trợ thính trong lớp học, thay vì chỉ tập trung vào phát triển ngôn ngữ nói.
Cô Thân nói thêm việc giảng dạy cần cá nhân hóa, với giáo trình được điều chỉnh phù hợp với khả năng nhận thức và ngôn ngữ của từng em. Lớp học hòa nhập cần có sĩ số hợp lý, đủ ánh sáng để đọc hình miệng, đồng thời các thiết bị công nghệ hỗ trợ.
Đối với giáo viên dạy học sinh hòa nhập, yêu cầu đặt ra là phải có kiến thức về giáo dục đặc biệt, có giáo viên trợ giảng, đồng thời cần sự kiên nhẫn, thấu cảm trong quá trình giảng dạy. Những học sinh còn khả năng nghe thông qua thiết bị trợ thính có thể phát triển ngôn ngữ tốt hơn nếu được hỗ trợ phù hợp.
Ngoài ra các em cần được rèn luyện sự tự tin trong giao tiếp và nhận được sự đồng hành từ gia đình, tài liệu học tập cũng cần được điều chỉnh theo năng lực của từng học sinh.
Ông Cao Tiền Vị – người sáng lập ASIF Foundation – nói dù đã có luật, việc triển khai và hướng dẫn thực hiện còn nhiều bất cập, cần tiếp tục hoàn thiện. Ví dụ việc cấp thẻ chứng nhận khuyết tật còn phức tạp, cần ứng dụng công nghệ để đơn giản hóa thủ tục.
Đồng thời các quy định về công trình công cộng, y tế, vệ sinh… cần được thiết kế phù hợp. Một ưu tiên cấp bách khác là đào tạo nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật.
Phó chủ tịch Hội Bảo trợ trẻ em TP.HCM Nguyễn Văn Tính nói cần thay đổi nhận thức và cách tiếp cận, chuyển từ cách nhìn mang tính từ thiện, thương hại sang tiếp cận dựa trên quyền con người. Hỗ trợ người khuyết tật không chỉ dừng ở lòng tốt cá nhân, mà phải đảm bảo họ có đủ các quyền và chính sách đáng được hưởng.
Bên cạnh đó, cách hiểu về các mức độ khuyết tật (nhẹ, nặng, đặc biệt nặng) còn chưa thống nhất. Nhiều nơi vẫn cho rằng “đặc biệt nặng” là phải liệt hoàn toàn, trong khi pháp luật đã quy định rõ, gây ảnh hưởng quyền lợi và chế độ của người khuyết tật.
Hiện nay, giáo dục chuyên biệt chủ yếu chỉ dừng ở cấp tiểu học, nên khi lên THCS, học sinh buộc phải chuyển sang môi trường hòa nhập. Tuy nhiên nhiều em chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng, tâm lý và định hướng, dẫn đến khó khăn trong học tập, hòa nhập và gây lúng túng cho cả giáo viên lẫn học sinh.
Tôi sinh ra, lớn lên rồi là một cô giáo lành lặn. Thế nhưng, vào đầu năm thứ hai giảng dạy ở Trường THPT Tân Thành (xã Tân Thành A, khu vực huyện Tân Hồng cũ, tỉnh Đồng Tháp) tai nạn giao thông ập đến ngay trên đường tôi đi vận động học sinh ra lớp.
Những ngày đầu tỉnh dậy, tôi hụt hẫng tột cùng khi biết mình mất đi một bên chân. Từ một người đang trong tuổi thanh xuân, mang nhiều hoài bão và đang đầy nhiệt huyết với nghề, tôi bỗng chốc trở thành người khuyết tật.
Tôi còn phải đối mặt với sự phân biệt đối xử. Những lời miệt thị như "con nhỏ cụt giò" hay những sự so sánh thiếu tôn trọng "tao thà lấy Thị Nở chứ không lấy người mất chân như cô Tâm"… thực sự rất đau lòng. Tôi chỉ biết khóc, rồi lại tự nhủ phải mạnh mẽ để đi tiếp.
Tôi sốc, buồn cho số phận, nhưng rồi tôi chọn cách đối mặt để vượt lên chính mình, bắt đầu hành trình "đứng dậy" theo đúng nghĩa đen.
Để có thể đi lại, tôi tập làm quen với các dụng cụ hỗ trợ như nạng, chân giả... Lần đầu tiếp xúc với chiếc chân giả, mọi thứ không hề như tôi tưởng tượng. Để mang được chân, tôi phải quấn nhiều lớp băng thun, lồng phần mỏm cụt vào ổ mỏm cụt (socket) và dùng một sợi dây đai choàng qua người để giữ chân giả bám vào cơ thể.
Mang chân lâu ngày thường bị hầm nóng, bọng nước, vỡ ra đau rát. Mỗi bước đi khi ấy là mỗi lần tôi phải cắn răng, nén nước mắt. Nhưng tôi vẫn cố gắng để đứng lớp, để có thu nhập lo cho mẹ già đau yếu và cuộc sống của hai mẹ con.
Khó khăn chưa dừng lại ở đó. Những khi dây đeo đứt, bàn chân hư, vỏ bọc hỏng hay khớp gối có vấn đề, tôi lại phải khăn gói từ Cao Lãnh lên TP.HCM để chỉnh sửa. Có lần đi đường xa, trời nắng hầm làm chân tuột ra rơi xuống đường - một tình huống dở khóc dở cười, buồn tủi và đau đớn.
Mỗi lần sửa chữa hay thay thế bộ phận là một lần tôi lo lắng về kinh phí. Với đồng lương ít ỏi của nghề giáo, vừa lo cho mẹ già, tôi phải tằn tiện, chắt chiu từng đồng, có những khi không dám ăn, dám mặc.
Sau này, may mắn được nhà hảo tâm hỗ trợ loại chân giả sử dụng kỹ thuật hút chân không với silicon, việc lắp chân trở nên dễ dàng hơn. Từ khi có được chiếc chân giả tốt hơn, cuộc sống của tôi như bước sang một trang mới.
Tôi không chỉ có thể tự tin đứng trên bục giảng mà chân còn giúp tôi đi lại vững vàng hơn, giúp tôi có thể đi đến tận nhà những hoàn cảnh khó khăn, hay tham gia nhiều chuyến thiện nguyện nơi xa.
Tôi thử sức với những điều mà trước đây chưa dám nghĩ tới như tham gia chạy marathon 4 lần, chơi nhiều môn thể thao... Đặc biệt, tôi tham gia các hoạt động xã hội tích cực hơn và sáng lập học bổng dành cho học sinh khó khăn. Có đôi chân tốt, tôi có thể mang niềm tin và nghị lực lan tỏa đến nhiều người hơn nữa.
Nhưng chi phí cho chân giả tốt khá cao. Tôi thường trăn trở về nỗi khổ của những người khuyết tật như mình, thấy thật buồn cho ai không đủ tài chính, cũng không được tặng chân, thì cuộc sống chống nạng sẽ buồn và bất tiện đến mức nào.
Từ trải nghiệm của mình, tôi hiểu rằng dụng cụ hỗ trợ chính là "chìa khóa" đầu tiên để người khuyết tật tự tin hòa nhập. Với một người có công việc ổn định như tôi còn khá lo lắng về chi phí cho các thiết bị này thì thiết nghĩ các bạn đồng cảnh như tôi thậm chí những bạn có thu nhập thấp, chưa có việc làm thì thực sự đây là nỗi trăn trở rất lớn.
Dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách quan tâm, nhưng thực tế đa số người khuyết tật vẫn có cuộc sống khó khăn, kinh tế bấp bênh, nhiều người chưa có việc làm ổn định. Do đó, tôi xin có những đề xuất:
• Chính sách hỗ trợ dụng cụ trợ giúp và bảo trì định kỳ: Mong Nhà nước và các tổ chức xã hội quan tâm tạo quỹ hoặc đưa vào danh mục bảo hiểm y tế để chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí làm chân tay giả, xe lăn...
Đặc biệt ưu tiên cho người trong độ tuổi lao động và học tập. Một dụng cụ đạt chuẩn, chất lượng sẽ giúp người dùng đi lại tự nhiên, giảm thiểu đau đớn và ngăn ngừa các thương tật thứ phát về xương khớp. Những khen thưởng dành cho người khuyết tật tiêu biểu có thể kèm theo các gói hỗ trợ thiết thực này như một sự ghi nhận ý nghĩa.
• Xây dựng các trung tâm tư vấn và lắp đặt chuyên sâu: Để mỗi người khuyết tật đều được tiếp cận thiết bị phù hợp nhất với tình trạng thể chất và vận động của mình.
• Thay đổi tư duy về dụng cụ hỗ trợ: Mong mọi người nhìn nhận các thiết bị này không phải là "quà từ thiện", mà là công cụ đầu tư để người khuyết tật có thể tự lập, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và tạo ra giá trị cho xã hội.
Chỉ khi có phương tiện tốt để bước đi, chúng tôi có thể tự tin hòa nhập, cống hiến cho cộng đồng và xã hội chúng ta sẽ thực sự đúng theo tinh thần không để ai bị bỏ lại phía sau.
Sáng 2/4, chị Nguyễn Thị Hà, 47 tuổi, ở phường Xuân Đỉnh, quyết định mua cho mình một chiếc xe máy điện tại một đại lý trên đường Phạm Văn Đồng trong lúc chờ kỹ thuật viên lắp gương cho xe của con trai.
Để dọn chỗ và gom ngân sách cho hai chiếc xe này, hồi cuối tháng 3 chị đã bán hai xe máy xăng mua 4 năm trước được 35 triệu đồng. "Bán xe xăng chưa bằng nửa giá mua nhưng tôi hài lòng vì gần đủ mua hai xe điện mới", chị nói.
Quá trình loại bỏ xe xăng của gia đình đã bắt đầu từ năm ngoái, khi chồng chị "lên đời" ôtô điện. Động lực chuyển đổi xuất phát từ bài toán kinh tế. Nhà có 5 người sở hữu bốn xe máy xăng, tốn hơn 15 triệu đồng mỗi năm. Trong khi đó, nếu đi xe điện chi phí chỉ bằng 1/3. "Trong năm nay chúng tôi sẽ loại bỏ dần những chiếc xe xăng còn lại", chị Hà nói.
Trưa 3/4, tại một đại lý xe máy điện trên đường Lê Trọng Tấn, phường Dương Nội, chị Hoa, 36 tuổi, nhận bàn giao xe mới. Gia đình chị đang có hai xe máy xăng và một ôtô, vốn đáp ứng đủ nhu cầu di chuyển. "Tôi mua thêm chiếc này cho ông xã đi làm ở trong Vành đai 1 vì sắp đến ngày cấm xe xăng", chị Hoa nói.
Chồng chị đi làm khoảng 60-70 km mỗi ngày từ nhà ở xã Thanh Oai đến đường Lạc Long Quân, phường Tây Hồ, nên gia đình mua thêm một pin rời. Tổng chi phí khoảng 31 triệu đồng, mức mà chị đánh giá là "chấp nhận được", nên quyết định chốt sớm để tránh nguy cơ tăng giá khi thời điểm hạn chế đến gần.
Những quyết định loại bỏ xe xăng như của gia đình chị Hà, chị Hoa tạo thành làn sóng chuyển đổi mạnh mẽ, khiến thị trường xe điện trở nên nhộn nhịp. Ông Hoàng Hà, Tổng Giám đốc Xe máy điện VinFast thị trường Việt Nam, cho biết trong tháng 3 đơn vị nhận hơn 135.000 đơn đặt hàng toàn quốc, doanh số cao nhất từ trước đến nay. Riêng tại Hà Nội, hơn 20.000 xe máy điện đã đến tay khách hàng.
Hệ thống đại lý Mạnh Phát cho biết thêm, riêng lượng xe của VinFast tiêu thụ trong tháng 3 đạt 1.400 chiếc, gấp ba lần mức trung bình của hai tháng đầu năm. Khách hàng ở các phường nội đô chiếm hơn 2/3. Để đáp ứng nhu cầu thị trường, nhiều đại lý phải tăng nhân sự gấp ba, thuê thêm kho bãi và chuẩn bị nguồn tài chính.
Các hãng xe điện khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng tương tự. Bà Bùi Nguyễn Trúc Ny, Giám đốc Kinh doanh Dat Bike, cho biết lượng đơn hàng đầu tháng 3 của hãng cao gấp 10 lần cùng kỳ năm ngoái.
Các đại lý xe điện ghi nhận sự thay đổi rõ rệt của tệp khách hàng. Cùng kỳ năm trước, họ bán trung bình 50-60 xe mỗi tháng, chủ yếu cho học sinh, sinh viên. Hiện tại, người đi làm chiếm tỷ trọng lớn, tập trung vào phân khúc 20-30 triệu đồng.
Làn sóng chuyển dịch này kéo theo cả những người vốn quen sử dụng phương tiện công cộng. Sáng 2/4 tại đại lý trên đường Phạm Văn Đồng, chị Long Thanh Hà, 45 tuổi, chi hơn 20 triệu đồng sắm một chiếc xe điện.
Chị Hà đi lại bằng phương tiện công cộng nhiều năm nay nhưng thấy xe điện ngày càng phổ biến nên mua một chiếc để tiện dạo phố, đi cà phê. Trước lộ trình hạn chế phương tiện dùng nhiên liệu hóa thạch, chồng chị, người thường xuyên làm việc tại vùng lõi nội đô, cũng sắp bán chiếc Honda SH để đổi sang xe điện trong tháng tới.
"Xu hướng 3 tháng đầu năm cho thấy người dùng không còn coi xe điện là phương án dự phòng, mà chọn làm phương tiện di chuyển chính", giám đốc kinh doanh của Dat Bike nói. Quá trình chuyển đổi cũng diễn ra dứt khoát. Trong tháng 3, đại lý Mạnh Phát mua lại gần 400 xe máy xăng của những người đổi sang xe điện.
Đại diện các hãng và đại lý chỉ ra bốn yếu tố thúc đẩy làn sóng này.
Thứ nhất là lộ trình hạn chế xe cơ giới tại Vành đai 1. Từ 1/7, Hà Nội thí điểm Vùng phát thải thấp, cấm xe máy xăng theo khung giờ tại các phường lõi thuộc Vành đai 1 (Hai Bà Trưng, Cửa Nam, Hoàn Kiếm, Ô Chợ Dừa, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Ba Đình, Giảng Võ, Ngọc Hà và Tây Hồ). Lộ trình này biến xe điện thành phương án tối ưu cho những gia đình có người làm việc tại trung tâm.
Thứ hai, rào cản về công nghệ và hạ tầng dần được tháo gỡ. Để giải quyết lo ngại cháy nổ và quy định cấm sạc tại chung cư, các hãng xe đã sử dụng công nghệ pin LFP và phát triển mô hình đổi pin. Tính đến 15/1, VinFast đã lắp đặt 4.500 trạm đầu tiên. Đơn vị này đặt mục tiêu đạt 45.000 tủ đổi pin trên toàn quốc ngay trong quý I. Nhiều dòng xe điện đã cải thiện về hiệu suất, ví dụ Dat Bike có những dòng chạy được 280 km mỗi lần sạc, vận tốc 100 km/h.
Thứ ba, các chính sách ưu đãi từ nhà sản xuất cũng tác động trực tiếp đến quyết định chuyển đổi của các gia đình. Dù chi phí logistics tăng, một số hãng xe điện vẫn giữ nguyên giá bán, đồng thời tăng tỷ lệ hỗ trợ khách hàng thu cũ đổi mới. Ngoài ra, các chính sách mua trả góp, miễn phí sạc và đổi pin cũng được áp dụng để kích cầu.
Cuối cùng, sự biến động liên tục của giá xăng dầu, trong khi chi phí cho nhiên liệu và bảo dưỡng xe xăng cũ ngày càng tốn kém khiến người dân mạnh dạn chuyển sang xe điện.
Tại một chung cư ở phường Đông Ngạc, anh Đức Tuấn, 41 tuổi, cho biết biến động giá nhiên liệu khiến chi phí xăng đi làm và đưa đón con đi học tăng từ mức 100.000 - 120.000 đồng lên 200.000 đồng mỗi tuần. Đang có một ôtô và hai xe máy xăng, anh dự tính sắm xe điện ngay trong tháng này, đồng thời bán bớt một xe cũ và chuyển chiếc còn lại về quê. "Trong bối cảnh cái gì cũng tăng, giảm được khoản nào hay khoản đó", anh nói.
Làn sóng chuyển đổi biểu hiện rõ qua lượng xe điện tăng vọt tại hầm chung cư nơi anh Tuấn sinh sống. Mấy tháng trước, khu vực để xe điện có khoảng 30-40 chiếc, nay chật kín với khoảng 100 chiếc, chưa tính số lượng lẫn vào khu vực để xe xăng. "Trước kia chỉ thấy xe cỡ nhỏ của học sinh, giờ các dòng xe phân khúc 20-30 triệu đồng dành cho người đi làm giờ chiếm đa số", anh Tuấn nói.
Tiến sĩ tâm lý học lâm sàng Larry F. Waldman (Mỹ) từng cùng vợ từ bang Arizona về Wisconsin tham dự kỷ niệm 50 năm tốt nghiệp trung học. Ông nhận ra với nhiều người, họp lớp giống như chuyến du hành ngược thời gian, khơi dậy cả sự tự ti lẫn những khoảnh khắc khó xử tuổi thiếu niên. Bà Nan (vợ ông) từng là học sinh tiêu biểu, năng nổ trong các hoạt động. Ngược lại, vì là học sinh chuyển trường từ khu nội thành, ông Waldman không thuộc nhóm nổi bật nào.
Tiến sĩ cho biết thời trẻ ông mắc hội chứng "tầm nhìn hạn hẹp", một trạng thái phổ biến ở tuổi vị thành niên khi không thể hình dung được tương lai mà chỉ cố gắng thi qua môn. Sự khác biệt trong tâm thế thời trẻ khiến mỗi người mang một cảm xúc khác nhau khi nhận lời mời về lại trường cũ.
Biến đổi tâm lý qua các cột mốc
Dẫn số liệu từ tờ Chicago Tribune, tiến sĩ Waldman cho biết mỗi sự kiện họp lớp mang một đặc trưng riêng, phản ánh quá trình trưởng thành của người tham dự:
Kỷ niệm 10 năm: Thường ít người dự nhất nhưng lại phô trương nhất. Các cá nhân tham gia đều nỗ lực chứng tỏ những thành công bước đầu.
Kỷ niệm 20 năm: Có số lượng người tham dự đông nhất. Sự hời hợt bề ngoài giảm bớt, thay vào đó là sự đa dạng trong trải nghiệm sống.
Kỷ niệm 30 năm: Cuộc sống trở nên phức tạp với những biến cố như ly hôn, tái hôn hoặc thay đổi công việc. Người tham dự tự tin hơn, không còn phụ thuộc vào việc phải đưa vợ hoặc chồng đi cùng để làm điểm tựa giao tiếp.
Kỷ niệm 40 năm: Sự tương đồng bắt đầu xuất hiện khi mọi người bước vào tuổi già, cùng đối diện với bệnh tật và kế hoạch nghỉ hưu.
Kỷ niệm 50 năm: Mọi sự giả tạo trong quá khứ biến mất, nhường chỗ cho hoài niệm.
Họp lớp và các giai đoạn khủng hoảng
Để giải thích sự kết nối giữa các cuộc hội ngộ và tâm lý học, ông Waldman vận dụng lý thuyết "8 giai đoạn con người" của nhà phân tâm học Erik Erikson. Mỗi lần họp lớp là một lần con người đối diện với những khủng hoảng tâm lý đặc trưng:
Sự thân mật đối lập cô lập (18-35 tuổi): Ở mốc 20 năm ra trường, nhiều người vẫn loay hoay với câu hỏi về tình yêu, hôn nhân. Những người chưa tạo được sự gắn bó thường thấy lạc lõng trong các buổi gặp này.
Sự sáng tạo đối lập trì trệ (35-60 tuổi): Tại mốc kỷ niệm 30 và 40 năm, trọng tâm cuộc sống chuyển sang sự nghiệp và đóng góp cộng đồng. Các cựu học sinh thường nhìn vào nhau để đánh giá mức độ năng suất của bản thân trong xã hội.
Sự toàn vẹn đối lập tuyệt vọng (từ 65 tuổi): Tại mốc 50 năm, cuộc sống chậm lại. Mọi người thường tự vấn: "Chúng ta đã sống hết mình chưa?". Mục tiêu cuối cùng trong giai đoạn này là đạt được sự khôn ngoan và thanh thản khi nhìn lại quá khứ.
Tiến sĩ Waldman cho biết, dù xuất phát điểm khác nhau, theo thời gian, con người có xu hướng giống nhau nhiều hơn là khác biệt. Việc dự họp lớp nên được nhìn nhận như một cơ hội để kết nối và trân trọng sự tồn tại của nhau, thay vì mặc cảm ngoại hình hay so sánh thành tựu.