Tại điểm khám tại phường Bình Phú, hàng trăm người dân TP.HCM háo hức chờ khám sức khỏe miễn phí.
Bà Lê Thị Thu Trang (54 tuổi) đưa người em trai 45 tuổi, bị liệt nửa người sau tai biến, đến khám sức khỏe miễn phí. Từ ngày người em phát bệnh vào năm 2005, bà nghỉ hẳn việc buôn bán nhỏ để ở nhà chăm nom. Cuộc sống gia đình vì thế càng thêm chật vật, mọi chi phí sinh hoạt chủ yếu trông vào người em gái của bà.
“Hành trình điều trị kéo dài khiến gia đình tôi nhiều lúc rơi vào khủng hoảng vì tiền bạc. Hôm nay em trai được khám miễn phí, tôi mừng lắm. Với gia đình tôi lúc này, đây là điều quý giá vô cùng”, bà Trang cho hay.
Bà Lại Thị Hạnh (60 tuổi) đến điểm khám tại phường Bình Phú từ sớm và phát hiện mắc đái tháo đường. “Bác sĩ dặn tôi phải giảm cân, điều chỉnh chế độ ăn, hạn chế đồ ngọt, đồ béo, tinh bột và tái khám để theo dõi”, bà nói.
Theo bà Hạnh, điều khiến bà ấm lòng nhất là các y bác sĩ thăm khám rất tận tình, quan tâm “như người nhà”, dặn dò kỹ lưỡng. Sau buổi khám, bà rất vui vì còn được tặng thêm gạo.
Bà Trần Thị Hiền (67 tuổi) ngồi chờ đến lượt khám, chậm rãi kể mình mang “đủ thứ bệnh của tuổi già”: tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, bệnh tim, lại mới gãy xương đòn nên lúc nào cũng mệt mỏi, đi đứng không vững.
Vợ chồng bà Hiền đang ở trọ, mỗi tháng chắt chiu 2 triệu đồng đóng tiền phòng, lại gồng gánh nuôi đứa cháu ngoại. Để lo cuộc sống qua ngày, ông bà vẫn bán cà phê quanh xóm.
“Tiền ăn uống hằng ngày còn không đủ nên tôi không dám nghỉ đi bệnh viện, chỉ ráng nhịn cho qua. Nay được khám mà không tốn tiền, tôi vui lắm”, bà Hiền bày tỏ.
Tại Trạm Y tế xã Hòa Hiệp, bà Nguyễn Thị Thưởn (84 tuổi) được y bác sĩ Viện Y dược học dân tộc TP.HCM thăm khám. “Tôi hay bị xây xẩm mặt mày mà không biết do đâu. Nay được các bác sĩ khám, đo huyết áp mới biết mình bị tăng huyết áp. Bác sĩ dặn tôi phải uống thuốc đều, ăn nhạt hơn, theo dõi huyết áp thường xuyên và tái khám đúng hẹn”, bà kể.
Ngày 17.4, hàng trăm y, bác sĩ của hơn 100 bệnh viện trên địa bàn TP.HCM đã đồng loạt có mặt tại 168 trạm y tế phường, xã, đặc khu để khám sức khỏe, tầm soát miễn phí cho người dân.
Tại điểm khám ở phường Bình Phú, bác sĩ Ngô Thị Cẩm Hoa, Phó giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115 cho biết bệnh viện tổ chức khám sức khỏe, tầm soát miễn phí tại 3 điểm gồm phường Bình Phú, phường Phước Thắng và phường Vũng Tàu cho hơn 1.000 người dân.
Đợt khám tập trung vào 2 nhóm bệnh mạn tính không lây đang gia tăng: tim mạch và đái tháo đường. Để phục vụ tầm soát chuyên sâu, bệnh viện còn đưa thiết bị xuống tận nơi để thực hiện điện tim, siêu âm tim, siêu âm bụng cho người dân.
Nhiều bệnh viện lớn, bệnh viện đầu ngành cũng đồng loạt tham gia. Bệnh viện Chợ Rẫy tổ chức tầm soát tim mạch, đái tháo đường tại các phường An Đông, Chợ Lớn, Phú Lâm. Bệnh viện Ung bướu TP.HCM khám, tầm soát ung thư miễn phí tại xã Phú Hòa Đông. Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM tầm soát bệnh tuyến giáp, tim mạch, đái tháo đường cho người cao tuổi.
Bệnh viện Quân y 175 phụ trách các điểm An Nhơn, Gò Vấp, Hạnh Thông với nội dung tầm soát các bệnh cơ xương khớp, tim mạch, nội tiết, ung bướu và tuyến giáp. Bệnh viện Thống Nhất tham gia tại các phường Bảy Hiền, Tân Hòa, Tân Sơn, tập trung vào nhóm bệnh tim mạch, đái tháo đường.
Bệnh viện Nhi đồng 1 thăm khám, tầm soát cho trẻ nhỏ
Bệnh viện Nhân dân Gia Định triển khai khám sức khỏe, sàng lọc miễn phí tại 3 phường Gia Định, Tân Sơn Nhì và Bình Quới. Người dân được đo huyết áp, kiểm tra đường huyết, tầm soát bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường.
Bên cạnh đó, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Hùng Vương, Bệnh viện Nhi đồng 1, Bệnh viện Nhi đồng 2… cũng tham gia khám, sàng lọc miễn phí cho người dân.
PGS.TS Tăng Chí Thượng, Giám đốc Sở Y tế TP.HCM cho biết thành phố đặt mục tiêu triển khai khám sức khỏe cho khoảng 15 triệu người dân. Để thực hiện mục tiêu này, ngành y tế thành phố xác định một số giải pháp trọng tâm.
Trước hết, đẩy mạnh triển khai tại cộng đồng, giao trạm y tế phường, xã làm đầu mối, phối hợp lực lượng y tế cơ sở và các tổ chăm sóc sức khỏe cộng đồng tiếp cận từng hộ dân, ưu tiên người cao tuổi, người có bệnh nền và nhóm yếu thế.
Song song đó, TP.HCM huy động tổng lực toàn hệ thống y tế, gồm bệnh viện công lập và ngoài công lập tham gia các đợt khám, sàng lọc quy mô lớn để người dân được tiếp cận dịch vụ kỹ thuật phù hợp ngay từ tuyến cơ sở.
Theo ông Thượng, sàng lọc chỉ có ý nghĩa khi được điều trị kịp thời. Do đó, ngành y tế thành phố đã xây dựng quy trình chuyển người dân có dấu hiệu bất thường sau sàng lọc đến cơ sở y tế phù hợp để chẩn đoán, theo dõi và điều trị sớm.
Để đáp ứng nhu cầu khám, điều trị có thể gia tăng sau các đợt sàng lọc diện rộng, TP.HCM cũng yêu cầu các bệnh viện chủ động bố trí thêm khu tư vấn, khám sàng lọc và điều phối người bệnh phù hợp.
Về lâu dài, khi bệnh được phát hiện sớm và quản lý tốt ngay từ y tế cơ sở, áp lực điều trị tại tuyến bệnh viện sẽ từng bước giảm xuống. Ông Thượng kỳ vọng với cách làm này, chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu và sức khỏe cộng đồng tại TP.HCM sẽ được cải thiện rõ rệt trong thời gian tới.
Sáng 10.4, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại tổ về các nội dung quan trọng liên quan kinh tế xã hội. Nêu băn khoăn về vấn đề dự trữ xăng dầu, đại biểu Đặng Ngọc Huy cho rằng có một “khoảng trống” chiến lược mà nếu không được lấp đầy, mọi thành quả tăng trưởng đều có thể bị đe dọa: đó là sự mong manh của hệ thống dự trữ xăng dầu quốc gia.
Ông nêu, Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã vạch rõ mục tiêu dự trữ xăng dầu đạt khoảng 90 ngày nhập khẩu ròng vào năm 2030. Song thực tế dự trữ quốc gia hiện nay chỉ vỏn vẹn đáp ứng được 7 đến 10 ngày sử dụng. Nếu cộng cả dự trữ thương mại, chỉ có tối đa 30 ngày.
“Chúng ta không thể vận hành một nền kinh tế năng động với quy mô nền kinh tế khoảng 514 tỉ USD, đứng thứ 32 thế giới, bằng một chiếc bình nhiên liệu luôn "báo đèn đỏ". Khoảng cách từ 30 ngày lên 90 ngày không chỉ là bài toán về kho bãi, đó là bài toán về năng lực tự chủ chiến lược”, ông Huy băn khoăn.
Đại biểu đoàn Quảng Ngãi cũng đặt câu hỏi cốt lõi: Tại sao chúng ta vẫn chưa có hệ thống kho dự trữ quốc gia độc lập? Theo ông, việc hàng dự trữ quốc gia cất giữ chung trong bể của các doanh nghiệp đầu mối, đi ngược lại với nguyên tắc của luật Dự trữ quốc gia là phải quản lý độc lập về số lượng và chất lượng.
Nhấn mạnh yếu tố không thể chậm trễ trong việc xây kho dự trữ xăng dầu, theo đại biểu Huy, dù xây kho độc lập là tốn kém, nhưng cái giá của việc thiếu dự trữ còn đắt hơn gấp nhiều lần.
Thế giới đang ở giai đoạn bất ổn nhất trong nhiều thập kỷ. Bất kỳ một sự cố nào tại eo biển hay các tuyến hàng hải trọng yếu cũng có thể khiến giá xăng dầu phi mã hoặc đứt hàng ngay lập tức.
“Chúng ta không thể chờ đến khi "khát" mới bắt đầu đào giếng. Xây dựng kho dự trữ chiến lược chính là mua bảo hiểm cho nền kinh tế”, đại biểu Huy nói và kiến nghị Chính phủ quyết liệt bố trí nguồn lực ngân sách và cơ chế đặc thù để khởi công ngay hệ thống kho dự trữ quốc gia độc lập. Phải tách bạch hoàn toàn kho dự trữ chiến lược ra khỏi kho thương mại.
Đồng thời, ban hành lộ trình cụ thể, đến năm 2028 phải đạt 60 ngày, năm 2030 phải đạt 90 ngày. Khẩn trương sửa đổi luật Dự trữ quốc gia và các nghị định liên quan, tạo hành lang pháp lý để huy động nguồn lực xã hội hóa vào hạ tầng kho bãi, nhưng quyền kiểm soát hàng hóa phải tuyệt đối thuộc về Nhà nước.
Từ góc nhìn thực tiễn của doanh nghiệp, đại biểu Lê Hồng Hà, Tổng giám đốc Vietnam Airlines (đoàn Hà Nội), cho hay diễn biến giá nhiên liệu và xăng dầu đang phụ thuộc rất lớn vào tình hình chiến tranh và căng thẳng tại các khu vực như Trung Đông.
Nhấn mạnh thị trường cực kỳ bất định và khó đoán định, theo ông Hà, việc Quốc hội ban hành các nghị quyết về thuế dầu và nhiên liệu bay là "hết sức cần thiết và kịp thời" để tháo gỡ khó khăn và ổn định kinh tế vĩ mô.
Ông đề xuất Quốc hội có một cơ chế ủy quyền hợp lý để Chính phủ chủ động quyết định tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo tính hiệu quả và kịp thời trước các tình huống thực tế, bao gồm quyền kéo dài hiệu lực của nghị quyết dựa trên diễn biến phức tạp của thị trường và căng thẳng khu vực.
Song thuế chỉ là một trong các công cụ điều tiết, do đó, ông đề nghị Chính phủ có những chính sách thực chất và hiệu quả hơn trong việc điều hành giá, đảm bảo nguồn cung nhiên liệu và cung ứng thị trường.
Bên cạnh thế mạnh truyền thống là lĩnh vực trồng, khai thác và chế biến cao su, thì lĩnh vực đầu tư, phát triển khu công nghiệp đang từng bước trở thành một trụ cột tăng trưởng quan trọng, mở ra không gian phát triển mới cho VRG.
Từ lợi thế quỹ đất đến hệ sinh thái khu công nghiệp quy mô lớn
Trong quá trình tái cơ cấu và phát triển đa ngành, VRG đã tận dụng hiệu quả lợi thế về quỹ đất rộng lớn và vị trí chiến lược tại nhiều địa phương để phát triển lĩnh vực khu công nghiệp. Ông Lê Thanh Hưng, Tổng giám đốc VRG, cho biết: "Tập đoàn hiện đang đầu tư vào 6 lĩnh vực kinh doanh cốt lõi được Chính phủ giao, bao gồm: trồng, khai thác, chế biến và kinh doanh cao su thiên nhiên; chế biến gỗ; sản phẩm công nghiệp cao su; nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và đầu tư, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp".
Trong tổng thể chiến lược phát triển của tập đoàn, lĩnh vực đầu tư, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp được xác định là một trong những trụ cột trọng yếu, vừa góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, vừa tạo động lực tăng trưởng mới, bền vững. Đồng thời, đây cũng là lĩnh vực mũi nhọn để tập đoàn thực hiện vai trò, trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước trong việc tham gia thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần cùng cả hệ thống chính trị thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tới.
Trên tinh thần đó, tập đoàn định hướng phát triển các khu công nghiệp theo mô hình hiện đại - xanh - thông minh - bền vững, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu.
Hiện nay, VRG đang quản lý và khai thác 14 khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 4.200 ha, tập trung tại TP.HCM và các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh và Gia Lai. Các khu công nghiệp này đã thu hút hơn 820 nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo ra khoảng 260.000 việc làm cho người lao động.
Không chỉ đóng vai trò là điểm đến của các dự án sản xuất công nghiệp, các khu công nghiệp của VRG còn góp phần hình thành hệ sinh thái công nghiệp - dịch vụ hiện đại, thúc đẩy phát triển đô thị và nâng cao đời sống người dân tại nhiều địa phương.
Song song đó, tập đoàn đang tiếp tục triển khai thêm 5 khu công nghiệp đã có chủ trương đầu tư, trong đó Khu công nghiệp Hiệp Thạnh (tỉnh Tây Ninh) đã được khởi công vào ngày 19.12.2025; Khu công nghiệp Rạch Bắp mở rộng đang tổ chức triển khai; cùng với các khu công nghiệp Nam Đồng Phú, Bắc Đồng Phú, Minh Hưng 3 dự kiến sẽ sớm được khởi công trong thời gian tới.
Sau khi hoàn thành, hệ thống khu công nghiệp của tập đoàn sẽ nâng lên 19 khu công nghiệp với tổng diện tích gần 6.300 ha, tạo nền tảng quan trọng để tập đoàn phát triển mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực hạ tầng công nghiệp. Bên cạnh đó, tập đoàn còn sở hữu quỹ đất thu hút đầu tư khoảng 1.600 ha đất công nghiệp và 125 ha đất dịch vụ tại các địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp năng động như TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Gia Lai và Hải Phòng.
Quỹ đất này được xem là lợi thế lớn giúp VRG tiếp tục mở rộng lĩnh vực khu công nghiệp trong giai đoạn tới, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư quốc tế.
Năm 2025 vừa qua tiếp tục là một năm thành công của lĩnh vực khu công nghiệp trong hệ sinh thái VRG khi hầu hết các khu công nghiệp đều hoàn thành và vượt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Trong năm, các khu công nghiệp đã cho thuê mới khoảng 128 ha đất công nghiệp, đạt 100% kế hoạch năm và tăng 67,1% so với năm 2024. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy sức hút của các khu công nghiệp thuộc VRG trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng giữa các khu công nghiệp trên cả nước.
Tổng doanh thu từ lĩnh vực khu công nghiệp hơn 2.770 tỉ đồng, bằng 103,5% kế hoạch năm. Lợi nhuận trước thuế đạt khoảng 1.250 tỉ đồng, tương đương 114,6% kế hoạch. Những con số này cho thấy hiệu quả hoạt động ngày càng được nâng cao, đồng thời khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của lĩnh vực khu công nghiệp trong cơ cấu doanh thu của tập đoàn.
Tỷ lệ lấp đầy tại các khu công nghiệp hiện nay đạt hơn 90% trên tổng diện tích thương phẩm. Đây là mức cao, cho thấy sức hấp dẫn của hệ thống khu công nghiệp do VRG phát triển và quản lý. Tuy nhiên, tại một số khu công nghiệp, diện tích đất công nghiệp đã gần như được lấp đầy nên khả năng tăng trưởng cho thuê mới trong ngắn hạn không còn nhiều. Điều này cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc mở rộng và phát triển thêm các khu công nghiệp mới nhằm duy trì đà tăng trưởng trong tương lai.
Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các nhà đầu tư, VRG đang triển khai nhiều dự án mở rộng và đầu tư mới các khu công nghiệp tại nhiều địa phương. Một số dự án tiêu biểu đang được triển khai gồm: Khu công nghiệp Hiệp Thạnh giai đoạn 1; Khu công nghiệp Nam Tân Uyên mở rộng giai đoạn 2; Khu công nghiệp Rạch Bắp mở rộng; Khu công nghiệp Bắc Đồng Phú giai đoạn 2; Khu công nghiệp Nam Đồng Phú; Khu công nghiệp Minh Hưng 3 giai đoạn 2; Khu công nghiệp Nam Pleiku…
Bên cạnh đó, tập đoàn cũng phát triển các cụm công nghiệp như Minh Hưng 1, Minh Hưng 2, Phú Riềng, Thanh Phú, Long Tân… đồng thời nghiên cứu đề xuất chủ trương đầu tư cụm công nghiệp Tân Định 2. Các dự án này được kỳ vọng sẽ tạo thêm quỹ đất công nghiệp quy mô lớn, góp phần thu hút thêm các nhà đầu tư trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ, logistics và công nghệ cao.
Việc mở rộng hệ thống khu công nghiệp không chỉ giúp VRG nâng cao hiệu quả sử dụng đất mà còn tạo thêm động lực phát triển kinh tế cho nhiều địa phương.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế gắn liền với yêu cầu bảo vệ môi trường, VRG đang định hướng chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu theo mô hình khu công nghiệp xanh - thông minh - tuần hoàn. Đây được xem là xu hướng phát triển tất yếu của các khu công nghiệp hiện đại trên thế giới, nhằm tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả vận hành.
VRG đang triển khai nhiều giải pháp nhằm "xanh hóa" các khu công nghiệp, từ việc phát triển hệ thống cây xanh, tối ưu hóa hạ tầng xử lý nước thải, tiết kiệm năng lượng cho đến ứng dụng công nghệ trong quản lý vận hành. Việc hướng tới mô hình khu công nghiệp sinh thái không chỉ giúp nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp mà còn tạo lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút các nhà đầu tư quốc tế, đặc biệt là các doanh nghiệp chú trọng tiêu chuẩn môi trường và phát triển bền vững.
Trong năm 2026, VRG tiếp tục đặt ra nhiều mục tiêu quan trọng đối với lĩnh vực khu công nghiệp nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định. Trước hết, tập đoàn sẽ hoàn thiện các thủ tục pháp lý, đầu tư xây dựng và đưa Khu công nghiệp Hiệp Thạnh giai đoạn 1 vào vận hành. Đồng thời, các thủ tục liên quan đến các khu công nghiệp mở rộng sẽ được hoàn tất để sớm triển khai xây dựng và kinh doanh cho thuê lại đất.
Song song đó, VRG sẽ thúc đẩy tiến độ xây dựng hạ tầng tại các khu công nghiệp đang thi công, đồng thời tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả vận hành hạ tầng tại các khu công nghiệp hiện hữu. Một nhiệm vụ quan trọng khác là thúc đẩy chủ trương đầu tư các khu và cụm công nghiệp mới trên đất cao su, thông qua việc phối hợp chặt chẽ với các địa phương để được chấp thuận chủ trương đầu tư trong quy hoạch phát triển công nghiệp.
Bên cạnh đó, VRG sẽ tiếp tục tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, mở rộng thị trường và thu hút các nhà đầu tư chiến lược, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp xanh và sản xuất bền vững.
Sự phát triển của hệ thống khu công nghiệp do VRG đầu tư không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp mà còn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương. Các khu công nghiệp đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, tạo ra hàng trăm nghìn việc làm cho người lao động, đồng thời thúc đẩy phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, dịch vụ và đô thị.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, các khu công nghiệp của VRG tiếp tục được kỳ vọng sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư quốc tế.
Ông Nguyễn Văn Hưởng, Trưởng phòng Dự báo thời tiết (Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia), cho biết từ ngày 3/4 Tây Bắc Bộ xuất hiện nắng nóng, cao nhất ngày từ 35 độ C trở lên, đến ngày 6/4 thì mở rộng ra hầu khắp miền Bắc.
Miền Trung cũng nắng nóng từ 3/4 và nhanh chóng gia tăng cường độ, đến ngày 4/4 bắt đầu gay gắt với nhiệt độ cao nhất từ 37 độ C trở lên. Trong khi đó, Tây Nguyên và Nam Bộ ghi nhận nắng nóng diện rộng từ ngày 5/4.
Dự báo, nắng nóng ở miền Bắc có khả năng duy trì đến ngày 12-13/4, sau đó giảm dần, nhiệt độ cao nhất 34-37 độ C, riêng Tây Bắc có thể lên 39-40 độ.
Tại miền Trung, nắng nóng kéo dài đến ngày 13-14/4, nhiệt độ phổ biến 36-39 độ C, có nơi trên 40 độ. Riêng Nam Bộ và Tây Nguyên nắng nóng có thể duy trì đến cuối tháng 4 và đầu tháng 5, nhiệt độ cao nhất 34-37 độ C, một vài ngày nắng giảm nhưng sau đó tiếp tục gia tăng trở lại.
Lý giải nguyên nhân, ông Hưởng cho biết nắng nóng tại miền Bắc và Trung chủ yếu do ảnh hưởng của hoàn lưu vùng thấp nóng phía tây kết hợp với hiệu ứng gió phơn khiến không khí khô, nhiệt độ tăng nhanh trong ngày. Cao nhất ngày tại khu vực này phổ biến 36-39 độ, riêng miền Trung có nơi trên 40 độ C.
Trong khi đó, Tây Nguyên và Nam Bộ do chịu tác động của khối không khí ổn định bao trùm, làm hạn chế sự hình thành mây, khiến trời ít mây, nắng kéo dài từ sáng đến chiều, làm nhiệt độ tăng cao.
Do nguyên nhân khác nhau nên mức độ nắng nóng giữa các miền cũng khác biệt. Nắng nóng ở Tây Bắc Bộ và Trung Bộ mang tính khô, gay gắt, còn ở Nam Bộ thì kéo dài, nhưng nhiệt độ cao nhất chỉ dao động 35-37 độ C.
So sánh với trung bình nhiều năm, ông Hưởng cho biết Tây Bắc Bộ và các tỉnh từ Nghệ An đến Đà Nẵng nắng nóng xuất hiện từ ngày 30-31/3, sớm hơn khoảng một tuần so với quy luật thông thường rơi vào tuần thứ hai của tháng 4.
Đông Bắc Bộ, nơi trung bình nhiều năm nắng nóng diện rộng thường đến vào nửa cuối tháng 5, năm nay ngay từ đầu tháng 4, sớm hơn khoảng 15-20 ngày.
Tại Đông Nam Bộ, đợt nắng nóng đầu tiên trong năm xuất hiện từ ngày 16-19/2, sớm hơn khoảng 10 ngày so với trung bình nhiều năm (thường từ 28/2 đến 8/3).
Theo nhận định của cơ quan khí tượng, trong tháng 4/2026, mức độ nắng nóng sẽ gay gắt hơn so với cùng kỳ nhiều năm, tập trung tại Tây Bắc Bộ, các tỉnh thành từ Thanh Hóa đến Huế và Nam Bộ. Nhiệt độ trung bình trong tháng 4 tại Bắc Bộ và Thanh Hóa - Huế dự báo cao hơn 1,5-2,5 độ so với trung bình nhiều năm; các khu vực khác cao hơn 0,5-1,5 độ C.
Từ khoảng tháng 5, nắng nóng có xu hướng xuất hiện nhiều hơn và gia tăng về cường độ tại Bắc Bộ và Trung Bộ, kéo dài đến khoảng tháng 8/2026, trước khi giảm dần từ tháng 9.
"Tổng thể, nắng nóng trong năm 2026 có khả năng xảy ra nhiều hơn và gay gắt hơn so với cùng kỳ năm 2025", ông Hưởng nhận định.