Krystal Zimmerman, 40 tuổi, cựu binh Mỹ từng tham chiến tại Iraq, đang lo ngại về chiến dịch quân sự mới nhất của nước này tại Trung Đông. Dù từng ủng hộ việc tấn công các cơ sở hạt nhân Iran, cô sợ rằng khi xung đột chuyển từ những vụ ném bom sang một lệnh ngừng bắn bấp bênh, Tổng thống Donald Trump đã vô tình sa vào cuộc chiến không hồi kết với Tehran.
“Nó lãng phí nguồn lực, tiền bạc và khiến chúng ta không khác gì những kẻ bắt nạt”, Zimmerman nói sau khi vừa kết thúc buổi trị liệu tại một phòng khám của Bộ Cựu chiến binh ở Colorado Springs, nơi cô đang điều trị chứng trầm cảm và mất ngủ kéo dài từ sau thời gian tham chiến ở Baghdad.
Nhiều người Mỹ đang bày tỏ giận dữ, thất vọng, thậm chí là hoang mang khi cuộc xung đột với Iran đã bước sang tuần thứ 7. Cuối tuần trước, cuộc đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Iran không đi đến đâu và Tổng thống Trump bắt đầu quay lại với những tuyên bố cứng rắn, đồng thời ra lệnh phong tỏa Hormuz nhằm đáp trả việc Iran đóng cửa eo biển này.
Các cuộc thăm dò dư luận của NYTimes hồi đầu tháng 3 cho thấy 59% người Mỹ được hỏi phản đối cuộc chiến chống lại Iran, khác xa với động lực ủng hộ mạnh mẽ của công chúng dành cho chiến dịch can thiệp tại Iraq và Afghanistan đầu những năm 2000 hay cuộc chiến vùng Vịnh những năm 1990.
Một số người nói rằng họ cảm thấy ngỡ ngàng trước một chiến dịch tấn công mà Tổng thống Trump chưa chuẩn bị tâm lý đầy đủ cho người dân và đến nay vẫn chưa được giải thích rõ ràng.
“Tôi không nghĩ ông Trump đang đưa ra quyết định sáng suốt”, Emmelia Lorenzen, 19 tuổi, nói khi đang uống cà phê tại Fayetteville, bang North Carolina.
Nhưng đó chỉ là những ý kiến phản đối thầm lặng, diễn ra trong các cuộc trò chuyện tại quán cà phê hay hội trường cựu chiến binh và chỉ dẫn đến những cuộc biểu tình nhỏ lẻ ở một số nơi.
“Tôi thấy thật khó tin khi không có nhiều người xuống đường, nhưng quả thật, giờ đây thật khó để thấy ngạc nhiên hay sốc trước bất cứ điều gì Tổng thống làm”, Mike Keefe, 64 tuổi, nói trong lúc đứng cùng một nhóm biểu tình thưa thớt ở thành phố Portland, bang Oregon.
Quan điểm của cử tri Mỹ đối với cuộc chiến tại Iran khác biệt theo đảng phái. Theo khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu Pew thực hiện trước lệnh ngừng bắn gần đây, phần lớn cử tri đảng Dân chủ phản đối cuộc chiến này, trong khi đa số cử tri đảng Cộng hòa ủng hộ Tổng thống.
Nhưng trong một dấu hiệu cho thấy rắc rối tiềm tàng đối với ông Trump và đảng Cộng hòa trước cuộc bầu cử giữa kỳ vào cuối năm nay, khảo sát của Pew phát hiện ra rằng các cử tri độc lập có xu hướng ủng hộ đảng Cộng hòa đang bị chia rẽ sít sao, với 52% ý kiến tán thành cách Tổng thống điều hành cuộc chiến và 45% không ủng hộ.
Theo cuộc thăm dò của CNN hồi cuối tháng 3, nội bộ đảng Cộng hòa cũng xuất hiện một số dấu hiệu rạn nứt về cuộc chiến. Những cử tri đảng Cộng hòa không phải “thành viên MAGA” có xu hướng ủng hộ cuộc chiến kém mạnh mẽ hơn so với nhóm thuộc phong trào này.
Kết quả thăm dò cho thấy nhóm đảng viên Cộng hòa trẻ tuổi cũng ít có khả năng ủng hộ quyết định thực hiện hành động quân sự của Tổng thống Trump hơn so với những người trên 45 tuổi.
Nhìn chung, những người tự nhận là cử tri độc lập hoàn toàn nghiêng về phía phản đối. Đây là nhóm quan trọng có thể định đoạt cục diện bầu cử tại các bang chiến trường của Mỹ.
Ngay cả những cử tri đảng Cộng hòa ủng hộ cuộc chiến cũng không hẳn cho rằng mọi việc đang diễn ra suôn sẻ. Theo khảo sát của Pew, chỉ khoảng 50% trong số họ nghĩ chiến dịch gây áp lực với Iran đang tiến triển tốt.
Nỗi lo
Trong hàng loạt cuộc phỏng vấn gần đây, các cử tri tại những thành phố có căn cứ quân sự Mỹ như Colorado Springs, San Antonio hay Fayetteville đều bày tỏ lo ngại rằng ông Trump, người từng tranh cử với thông điệp phản đối các “cuộc chiến ngu ngốc” ở nước ngoài, đang đẩy Mỹ vào một Iraq hoặc Afghanistan thứ hai.
Một tháng rưỡi trôi qua, nhiều người cho biết họ vẫn chưa hiểu rõ mục tiêu của Tổng thống tại Iran là gì hay tại sao ông lại cùng Israel tấn công vào thời điểm này. Mọi thứ diễn ra quá nhanh và thất thường, họ nói.
Những tổng thống tiền nhiệm như George W. Bush hay George H.W. Bush đã dành nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng, để thuyết phục dư luận trong nước về việc tấn công Afghanistan, Iraq và chiến dịch đẩy lùi quân đội Iraq khỏi Kuwait năm 1991. Các liên minh đa quốc gia, dù tự nguyện hay không, cũng đã được thiết lập. Những cuộc tranh luận cũng nổi lên khắp các phòng họp của quốc hội Mỹ.
Nhưng ông Trump tuyên bố phát động chiến dịch vào Iran mà không báo trước với quốc hội, không tham vấn các đồng minh, cũng không có động thái nào để thuyết phục dư luận Mỹ.
Và hàng loạt tuyên bố thay đổi liên tục mà ông Trump đưa ra trong các cuộc điện thoại với phóng viên hay những bài đăng đêm muộn trên Truth Social chỉ càng làm tăng thêm nỗi bối rối của công chúng.
Gần 2/3 cử tri và 71% những người không thuộc đảng phái nào tin rằng ông Trump đã không đưa ra lời giải thích rõ ràng trước khi cuộc chiến bắt đầu, theo một cuộc thăm dò của Đại học Quinnipiac vào đầu tháng 3.
Ngược lại, các cuộc thăm dò cho thấy phần lớn công chúng cảm thấy cựu tổng thống Bush đã đưa ra được những lý lẽ thuyết phục trước khi cuộc chiến tại Iraq nổ ra.
Lorenzen, người từng bỏ phiếu cho ông Trump, đặc biệt lo ngại trước lời đe dọa hủy diệt toàn bộ nền văn minh Iran nếu nước này không mở lại eo biển Hormuz, một mối nguy đã được ngăn chặn vào phút chót khi Mỹ và Iran đồng ý ngừng bắn hai tuần.
“Một trong những động lực vận động tranh cử lớn nhất của ông Trump là việc ông tuyên bố không theo đuổi chiến tranh”, Lorenzen nói. “Vậy mà vừa tuyên bố xong, ông ấy lại đẩy đất nước vào các cuộc chiến nhanh đến vậy. Thật sự không hiểu nổi”.
Những hệ lụy từ cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan đã góp phần tạo nên quan điểm của cử tri Mỹ về xung đột hiện nay ở Iran. Trong các cuộc phỏng vấn, họ nhắc lại những tuyên bố sai lệch về vũ khí hủy diệt hàng loạt từng được dùng để giải thích cho chiến dịch tấn công Iraq năm 2003, cũng như cuộc rút quân hỗn loạn khỏi Afghanistan và tự hỏi liệu lịch sử có đang lặp lại hay không.
Queta Rodriguez, 55 tuổi, cựu binh thủy quân lục chiến từng đóng tại căn cứ Quantico, bang Virginia, cho biết bà vẫn nhớ cảm giác đau buồn cùng cực và tinh thần đoàn kết trào dâng của người dân Mỹ sau khi vụ khủng bố 11/9/2001 xảy ra gây chấn động đất nước. Bà từng không đồng tình với lý lẽ của cựu tổng thống Bush khi tấn công Iraq, nhưng cảm thấy ít nhất ông cũng đã cố gắng kêu gọi người dân đồng lòng.
Giờ đây, Rodriguez, hiện sống tại San Antonio, cho hay bà rất thất vọng với Tổng thống Trump vì đã đẩy đất nước vào cuộc chiến tại một khu vực mà nhiều binh sĩ đã phải bỏ mạng. Bà cảm thấy bất bình vì quốc hội không kiềm chế Tổng thống và đau lòng khi thấy nhiều người dân dường như đang thờ ơ trước sự việc.
Niềm tin
Dù vậy, những cựu binh khác và thân nhân của họ, nhóm thường có xu hướng ủng hộ đảng Cộng hòa, cho biết vẫn ủng hộ Tổng thống Trump và cuộc chiến. Họ cho rằng Iran đã tài trợ cho những lực lượng vũ trang gieo rắc khủng hoảng khắp Trung Đông và từng tiếp tay sát hại hàng trăm binh sĩ Mỹ.
Nhóm chỉ trích ông Trump cho rằng các cuộc tấn công vào Iran là tùy tiện, nhưng những người ủng hộ ông lại tin việc này lẽ ra phải làm từ lâu.
“Iran là một mối đe dọa cần xử lý”, cựu binh Gary Freese, 58 tuổi, người từng tham chiến tại Iraq, nói, thêm rằng Tổng thống Trump đã cho thấy ông “bản lĩnh như thế nào” khi phát lệnh tấn công Iran.
Nguồn ủng hộ dành cho chiến dịch của ông Trump tại Iran cũng rất mạnh mẽ ở những khu vực như vùng nông thôn phía tây bang Iowa, nơi ông đã giành chiến thắng trong cả ba kỳ bầu cử tổng thống gần đây nhất với cách biệt lớn.
Kelly Garrett, 51 tuổi, là một trong số nhiều nông dân ủng hộ chiến dịch tấn công vào Iran, dù họ không hoàn toàn hiểu rõ lý do. Nhiều cử tri đảng Cộng hòa vẫn dành niềm tin tuyệt đối cho Tổng thống.
Khu vực nông thôn, vốn đã lao đao vì các chính sách thuế quan và thắt chặt nhập cư của ông Trump, nay lại chịu thêm một đòn giáng kinh tế khác khi việc đóng cửa eo biển Hormuz khiến giá phân bón và dầu diesel tăng vọt ngay thời điểm nông dân đang chuẩn bị cho vụ mùa mới.
Dù vậy, nhiều nông dân ủng hộ đảng Cộng hòa tại Iowa lại đổ lỗi cho các tập đoàn trục lợi thay vì Tổng thống Trump về tình trạng giá cả leo thang này.
Wayne Brincks, 72 tuổi, nông dân đã nghỉ hưu, cho rằng cái giá phải trả trong ngắn hạn là xứng đáng nếu việc đó ngăn chặn được Iran phát triển vũ khí hạt nhân.
“Tôi nghĩ Tổng thống tin rằng giờ là lúc phải hành động, nếu không sẽ chẳng còn cơ hội nào nữa. Chúng ta buộc phải làm gì đó thôi”, ông nói.
Nhưng ngay cả ở một nơi ủng hộ đảng Cộng hòa mạnh mẽ như Iowa, những hoài nghi và lo lắng cũng đang bắt đầu được bộc lộ. Mark Nelson, 35 tuổi, nông dân kiêm ủy viên hội đồng hạt Woodbury thuộc đảng Cộng hòa và từng bỏ phiếu cho ông Trump, nói rằng chiến dịch tấn công Iran đã làm suy yếu thông điệp “nước Mỹ trên hết” của Tổng thống.
Những lời chỉ trích như vậy cũng đang xuất hiện ngày càng nhiều trong nhóm người có sức ảnh hưởng thuộc phong trào ủng hộ ông Trump, như các nhà hoạt động bảo thủ Tucker Carlson, Alex Jones và Megyn Kelly, từng kêu gọi ủng hộ mạnh mẽ cho Tổng thống.
“Số tiền và nguồn lực đổ vào cuộc chiến này thật quá sức tưởng tượng”, Nelson nói. Ông đặt câu hỏi về việc Israel đã tác động đến mức nào tới quyết định tham chiến của Tổng thống. “Tôi không nghĩ là chúng ta đang phải đối mặt bất kỳ mối đe dọa trực tiếp nào”.
Việc Mỹ phóng thành công tàu Orion thuộc sứ mệnh Artemis 2 mới đây đã chấm dứt hơn nửa thế kỷ vắng bóng con người trên quỹ đạo mặt trăng kể từ sứ mạng Apollo 17 năm 1972. Dù công nghệ máy tính hiện nay mạnh gấp hàng vạn lần, nhưng những rào cản về chính trị, sự đứt gãy tri thức và triết lý an toàn khắt khe đã khiến hành trình trở lại này kéo dài kỷ lục.
Rào cản lớn nhất đối với việc quay lại mặt trăng không xuất phát từ công nghệ mà từ sự thiếu nhất quán trong chính sách quốc gia của Mỹ. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, chương trình Apollo được thúc đẩy bởi ý chí chính trị tuyệt đối với ngân sách đỉnh điểm chiếm tới 4,41% tổng chi tiêu liên bang vào năm 1966. Tuy nhiên, sau khi đạt được mục tiêu đưa người đặt chân lên mặt trăng, sự quan tâm của giới chính trị sụt giảm khiến ngân sách Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) hiện nay chỉ còn chiếm chưa đầy 0,5% chi tiêu chính phủ.
Đáng chú ý trong suốt nửa thế kỷ qua, NASA luôn chịu áp lực trước những thay đổi liên tục giữa các đời tổng thống. Theo đó, dự án của chính quyền này thường bị người kế nhiệm hủy bỏ để thay thế bằng mục tiêu mới, gây lãng phí hàng chục tỉ USD. Điển hình là chương trình Constellation của Tổng thống George W. Bush đã bị người kế nhiệm Barack Obama khai tử vào năm 2010 để chuyển hướng sang các tiểu hành tinh, trước khi mục tiêu mặt trăng được khôi phục lại dưới thời ông Donald Trump và tiếp tục dưới thời ông Joe Biden.
Một nghịch lý trớ trêu là dù người Mỹ vẫn có thể sử dụng lại các tên lửa đã từng đưa người lên mặt trăng thành công năm xưa, nhưng việc chế tạo lại nó trong thế kỷ 21 là điều không hợp thời và tốn kém. Có ước tính cho rằng khoảng 75% các nhà cung cấp linh kiện từ thập niên 1960 đã ngừng hoạt động, khiến hệ sinh thái sản xuất cũ gần như tan rã hoàn toàn. Các vật liệu cũ đã lỗi thời và không còn được sản xuất, trong khi việc thay thế bằng vật liệu hiện đại đòi hỏi quy trình kiểm nghiệm lại từ đầu.
Bên cạnh đó, kỹ nghệ thủ công trong quá trình sản xuất cũng bị mai một theo thời gian. Tên lửa thời Apollo là những kiệt tác được lắp ráp bởi những thợ hàn bậc thầy từ thời Thế chiến 2, những người sở hữu kỹ năng khó có thể mô tả hoàn toàn trong văn bản kỹ thuật. Khi những chuyên gia này nghỉ hưu, các "bí kíp" thực tế đã bị mất đi, buộc các kỹ sư hiện đại phải "nghiên cứu ngược" từ các động cơ trong bảo tàng để tái thiết lập quy trình sản xuất.
Khác với thời đại Apollo là một "cuộc chạy nước rút" đầy mạo hiểm để giành chiến thắng nhất thời, chương trình Artemis hướng tới sự an toàn tuyệt đối. Sau những thảm họa kinh hoàng của các tàu con thoi Challenger và Columbia, NASA không còn chấp nhận những rủi ro cực lớn như trước. Mọi hệ thống hiện nay đều phải trải qua các quy trình kiểm tra gắt gao, ưu tiên tính mạng phi hành gia hơn là áp lực về thời gian hay tốc độ.
Cuối cùng, mục tiêu của Artemis tập trung vào việc xây dựng căn cứ bền vững trên mặt trăng và trạm dừng cho các hành trình tiến tới sao Hỏa sau này. Với mục tiêu đó, bước đầu là tìm cách khai thác băng tại cực Nam của mặt trăng để tạo ra khí oxy và nhiên liệu tên lửa. Đây là một bài toán phức tạp hơn gấp bội so với những chuyến viếng thăm ngắn ngủi trong quá khứ. Bởi thế, sự kiện phóng tàu lên quỹ đạo mặt trăng mới đây có thể xem như một bước dạo đầu cho rất nhiều thử thách mà con người phải vượt qua được trong tương lai để thực hiện được giấc mơ làm chủ trong không gian sâu.
Khi các bên trung gian đang nỗ lực thúc đẩy vòng đàm phán thứ hai giữa Mỹ và Iran để chấm dứt xung đột, một vấn đề trọng tâm đang nổi lên như điểm mấu chốt gây tranh cãi là khối tài sản của Tehran bị đóng băng ở nước ngoài.
Hôm 10/4, trước khi vòng đàm phán ngừng bắn đầu tiên diễn ra tại Pakistan, Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf đã viết trên X rằng những tài sản bị phong tỏa của nước này phải được giải phóng trước khi bất kỳ cuộc thương lượng nào diễn ra.
Đến ngày 11/4, tại cuộc đàm phán ngừng bắn ở thủ đô Islamabad, Pakistan, một số thông tin xuất hiện cho rằng Mỹ đã đồng ý giải tỏa ít nhất một phần tài sản của Iran ở nước ngoài. Tuy nhiên, chính phủ Mỹ đã nhanh chóng bác bỏ khẳng định những tài sản đó vẫn bị phong tỏa.
Khối tài sản 100 tỷ USD
Nền kinh tế Iran đã suy yếu nhiều năm qua do loạt lệnh trừng phạt từ Mỹ và các quốc gia khác. Những lệnh trừng phạt này bắt đầu từ năm 1979, đầu tiên là do vụ bắt con tin tại đại sứ quán Mỹ ở Tehran sau cuộc cách mạng Hồi giáo, sau đó gia tăng vì chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo Iran.
Các lệnh trừng phạt này khiến Iran không thể tiếp cận nhiều tài sản của chính mình, như doanh thu bán dầu đang bị đóng băng tại các ngân hàng nước ngoài. Theo thông tin tổng hợp từ phía Iran và giới chuyên gia, ước tính tổng tài sản của nước này đang bị kẹt ở nước ngoài là hơn 100 tỷ USD.
Frederic Schneider, chuyên gia tại Hội đồng các Vấn đề Toàn cầu Trung Đông, cho hay khối tài sản này gấp khoảng 4 lần doanh thu từ dầu khí hàng năm của Iran.
"Đó là khoản tiền rất lớn, đặc biệt đối với một đất nước đã phải chịu các lệnh trừng phạt do Mỹ áp đặt trong nhiều thập kỷ", ông nói.
Tuy nhiên, Schneider lưu ý thêm rằng ngay cả khi đồng ý giải phóng những tài sản này, vẫn chưa rõ liệu Mỹ có đặt ra điều kiện về cách Iran sử dụng chúng hay không.
Jacob Lew, bộ trưởng tài chính dưới thời tổng thống Mỹ Barack Obama, từng phát biểu vào năm 2016 rằng Iran sẽ không thể tiếp cận toàn bộ tài sản bị phong tỏa ở nước ngoài ngay cả khi mọi lệnh trừng phạt được dỡ bỏ. Tại thời điểm đó, Iran vừa đạt được thỏa thuận lịch sử với Mỹ và các cường quốc khác, chấp nhận hạn chế chương trình hạt nhân của mình để đổi lấy việc nới lỏng trừng phạt.
Lew đã phát biểu trước quốc hội Mỹ rằng trên thực tế, Iran cùng lắm cũng chỉ có thể tiếp cận khoảng một nửa số tài sản bị phong tỏa, bởi phần còn lại đã bị ràng buộc vào các cam kết đầu tư từ trước hoặc để thanh toán các khoản vay.
Hiện tại, yêu cầu then chốt của Tehran trong các cuộc đàm phán ngừng bắn là Mỹ phải giải phóng ít nhất 6 tỷ USD tài sản bị phong tỏa, coi đây như một cách xây dựng lòng tin.
Tài sản bị đóng băng là gì?
Khi tiền bạc, của cải hoặc số dư chứng khoán của các cá nhân, doanh nghiệp hoặc ngân hàng trung ương một quốc gia bị nhà chức trách nước khác hoặc tổ chức quốc tế tạm giữ, đó chính là phong tỏa tài sản.
Khả năng bán tài sản của chủ sở hữu sẽ bị hạn chế do các lệnh trừng phạt, phán quyết từ tòa án hoặc những lý do pháp lý khác.
Tài sản có thể bị đóng băng bởi tòa án, một quốc gia khác, tổ chức quốc tế hoặc một định chế ngân hàng. Các quốc gia thường tuyên bố phong tỏa tài sản của quốc gia hay công ty khác dựa trên những cáo buộc về hoạt động tội phạm, rửa tiền hoặc vi phạm luật pháp quốc tế.
Nhưng những người chỉ trích biện pháp phong tỏa tài sản cho rằng cách làm này đang được sử dụng để nhắm vào những đối thủ của phương Tây thay vì với mục đích răn đe. Phần lớn các nước đang chịu lệnh trừng phạt và bị phong tỏa tài sản là các quốc gia bị phương Tây coi là "không thân thiện", như Iran, Nga, Triều Tiên, Libya hay Venezuela.
Vì sao Iran bị đóng băng tài sản?
Theo hồ sơ lưu trữ của chính phủ Mỹ, đợt phong tỏa tài sản đầu tiên diễn ra vào tháng 11/1979, khi tổng thống Jimmy Carter lúc bấy giờ tuyên bố Iran "đã tạo ra mối đe dọa bất thường và đặc biệt đối với an ninh quốc gia, chính sách đối ngoại cũng như nền kinh tế Mỹ".
Vào thời điểm đó, các sinh viên Iran đang bắt 66 công dân Mỹ làm con tin tại đại sứ quán Mỹ ở Tehran.
Ông William Miller, bộ trưởng tài chính Mỹ khi ấy, cho biết tài sản dễ thanh khoản của Iran có giá trị chưa tới 6 tỷ USD, trong đó khoản lớn nhất là 1,3 tỷ USD trái phiếu kho bạc do Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York nắm giữ. Năm 1981, Hiệp định Algiers do Algeria làm trung gian giữa Mỹ và Iran đã dẫn đến việc Mỹ giải tỏa một phần đáng kể các tài sản này để đổi lấy việc Iran trả tự do cho 52 con tin Mỹ vẫn bị giam tại Tehran.
Tuy nhiên, trong những năm sau đó, quan hệ giữa Mỹ và Iran tiếp tục xấu đi do Washington lo ngại về chương trình hạt nhân của Tehran.
Iran luôn khẳng định chương trình làm giàu uranium của mình chỉ phục vụ mục đích năng lượng dân sự, mặc dù họ đã làm giàu uranium vượt xa ngưỡng cần thiết cho mục tiêu đó.
Israel và Mỹ đã liên tục cáo buộc Iran làm giàu uranium để phát triển vũ khí hạt nhân. Mỹ cùng các đồng minh, đặc biệt là châu Âu, đã áp đặt nhiều đợt trừng phạt lên quốc gia này.
Năm 2015, dưới thời tổng thống Obama, Mỹ đã dẫn dắt các cuộc đàm phán để Iran đạt được thỏa thuận với các cường quốc thế giới mang tên Kế hoạch Hành động Chung Toàn diện (JCPOA). Theo thỏa thuận, Tehran đồng ý thu hẹp chương trình hạt nhân và nhờ đó được tiếp cận lại phần lớn tài sản ở nước ngoài của mình.
Tuy nhiên, vào năm 2018, trong nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng thống Donald Trump đã đơn phương rút Mỹ khỏi JCPOA, gọi đây là một thỏa thuận "phiến diện" và tái áp đặt các lệnh trừng phạt lên Iran, một lần nữa phong tỏa số tài sản ở nước ngoài của Tehran.
Năm 2023, Mỹ và Iran thống nhất một thỏa thuận trao đổi tù nhân, theo đó Iran trả tự do cho 5 công dân Mỹ gốc Iran để đổi lấy việc Mỹ thả một số người Iran, đồng thời cho phép Tehran tiếp cận hàng tỷ USD tiền bị phong tỏa. Khoản tiền này là 6 tỷ USD doanh thu từ dầu mỏ bị phong tỏa tại Hàn Quốc.
Theo kế hoạch trên, số tiền được chuyển đến Qatar để giám sát. Tuy nhiên, một năm sau, tổng thống Mỹ Joe Biden đã áp đặt các lệnh trừng phạt mới nhằm đáp trả cuộc tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái (UAV) của Iran vào Israel, khiến họ một lần nữa mất quyền tiếp cận số tiền đang được đóng băng tại Doha.
Ngoài Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) cũng phong tỏa một phần tài sản của ngân hàng trung ương Iran với lý do nước này bị cáo buộc vi phạm nhân quyền, không tuân thủ các quy định về hạt nhân...
Tài sản bị đóng băng của Iran hiện do nhiều quốc gia nắm giữ. Số tiền chính xác tại mỗi quốc gia chưa rõ ràng, nhưng truyền thông Iran trước đây đưa tin Nhật Bản, một khách hàng dầu mỏ quan trọng, đang nắm giữ khoảng 1,5 tỷ USD, Iraq giữ khoảng 6 tỷ USD, Ấn Độ giữ 7 tỷ USD.
Mỹ cũng nắm giữ khoảng 2 tỷ USD tài sản bị phong tỏa của Iran, trong khi các quốc gia EU như Luxembourg giữ khoảng 1,6 tỷ USD. Qatar hiện giữ khoảng 6 tỷ USD, số tiền đã được chuyển từ Hàn Quốc để thanh toán cho Iran, nhưng sau đó bị Mỹ chặn lại.
Hy vọng cho nền kinh tế Iran
Nền kinh tế Iran đang lâm vào khủng hoảng khi các lệnh trừng phạt kéo dài nhiều thập kỷ đã hạn chế xuất khẩu dầu mỏ, đồng thời làm tê liệt khả năng thu hút đầu tư và hiện đại hóa công nghiệp cũng như công nghệ của nước này.
Lạm phát tăng cao và đồng nội tệ mất giá đã dẫn đến các cuộc biểu tình quy mô lớn hồi đầu năm nay. Cuộc xung đột với Mỹ - Israel bùng phát từ ngày 28/2 đã khiến cơ sở hạ tầng của Iran bị tàn phá nặng nề.
Fatemeh Mohajerani, người phát ngôn chính phủ Iran, ngày 14/4 cho biết thiệt hại mà nước này hứng chịu trong 6 tuần chiến sự là khoảng 270 tỷ USD, yêu cầu Mỹ, Israel và các nước vùng Vịnh bồi thường.
Trong bối cảnh này, tài sản bị đóng băng nếu được giải phóng sẽ là nguồn tiền mà Iran có thể sử dụng ngay lập tức. 100 tỷ USD tương đương gần 1/4 GDP của Iran.
Roxane Farmanfarmaian, giảng viên chính trị quốc tế chuyên về Iran tại Đại học Cambridge, Anh, cho rằng việc tài sản được phá băng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Iran.
"Điều này đồng nghĩa với việc Iran có thể đưa các khoản tiền thu được bằng ngoại tệ mạnh từ việc bán dầu mỏ trở lại nền kinh tế trong nước. Nó cũng giúp họ kiểm soát biến động tỷ giá, từ đó hạn chế những tổn thương trước tình trạng trồi sụt của đồng nội tệ", Farmanfarmaian giải thích.
Bà lưu ý rằng những cơ sở công nghiệp chủ chốt, trong đó có các mỏ dầu, hay hệ thống nước, mạng lưới điện đang xuống cấp của Iran sẽ được nâng cấp nếu họ có quyền tiếp cận với tài sản bị đóng băng của mình. Với nguồn tiền đó, Iran có thể chi trả cho các công ty nước ngoài và cấp vốn cho những ngành công nghiệp trong nước để bắt đầu cải thiện tình hình kinh tế.
"Rõ ràng, Iran cũng sẽ phải tái thiết sau xung đột và các tài sản được giải phóng sẽ ngay lập tức giúp quá trình đó diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn", Farmanfarmaian nói thêm. "Ngoài ra, việc tiếp cận các khoản tiền bị phong tỏa còn tạo đà tăng trưởng kinh tế, cải thiện mối quan hệ giữa chính phủ với người dân".
Quyết định của Mỹ về việc có giải tỏa tài sản của Iran hay không cũng sẽ là một thông điệp ngoại giao quan trọng, Chris Featherstone, chuyên gia chính trị tại Đại học York, bình luận.
"Về mặt quốc tế, việc giải tỏa các tài sản có thể là tín hiệu cho thấy Mỹ đang giảm bớt áp lực lên nền kinh tế Iran", Featherstone cho biết, song lưu ý rằng với cách tiếp cận khó đoán của chính quyền Trump, ít ai có thể dự đoán được ông sẽ làm gì sau đó.
Tốc độ trên đồng nghĩa chỉ mất khoảng 6 phút để di chuyển từ Los Angeles tới New York, theo Đài CBS News đưa tin về chuyến trở về của phi hành đoàn Artemis 2.
Chỉ trong vài giây, nhiệt độ trên toàn bộ tấm chắn nhiệt đường kính khoảng 5 m sẽ tăng vọt lên khoảng 2.760 độ C.
Bốn nhà du hành vũ trụ trên tàu, gồm ba người Mỹ là chỉ huy Reid Wiseman, Victor Glover, Christina Koch và phi hành gia người Canada Jeremy Hansen, hoàn toàn phải dựa vào tấm chắn nhiệt để bảo vệ họ vượt qua giai đoạn nhiệt độ tăng đến cực đại trước khi có thể đáp xuống Thái Bình Dương ngoài khơi California nhờ hệ thống dù.
"Chúng tôi rất tự tin vào hệ thống, vào tấm chắn nhiệt, dù và các hệ thống thu hồi tàu", CBS News dẫn lời Phó giám đốc NASA Amit Kshatriya cho biết. Ông nói thêm rằng vào ngày 10.4 (giờ Mỹ), phi hành đoàn sẽ đặt cược sinh mạng của mình vào niềm tin đó.
Phía NASA cũng cho biết phi hành đoàn cũng tỏ ra hết sức tự tin, bất chấp tấm chắn nhiệt trong chuyến bay thử nghiệm không người lái Artemis 1 năm 2022 từng gặp sự cố nghiêm trọng.
Cụ thể là vật liệu đặc biệt tạo ra tấm chắn đã xuất hiện những vết nứt bên dưới bề mặt và các túi khí, khiến phần bảo vệ bên ngoài bị thổi bay.
Sau gần 2 năm thử nghiệm và phân tích, các kỹ sư bất ngờ khi phát hiện tấm chắn nhiệt bị hư hại nhiều khả năng là do vật liệu và cần được thay thế.
Phía lãnh đạo NASA đưa ra quyết định là phải thiết kế một tấm chắn nhiệt mới cho các sứ mệnh Artemis tiếp theo. Tuy nhiên, tấm chắn của Artemis 2, hoàn toàn giống với Artemis 1, đã được lắp vào con tàu. Việc thay thế tấm chắn này có thể khiến sứ mệnh bị trì hoãn thêm ít nhất 18 tháng.
Vì thế, NASA vẫn quyết định phóng Artemis 2 bằng tàu Orion với tấm chắn nhiệt cũ, dựa trên dữ liệu thử nghiệm và phân tích toàn diện cho thấy tấm chắn vẫn hoạt động an toàn nếu điều chỉnh quỹ đạo quay lại khí quyển theo hướng loại bỏ các biến động nhiệt và áp suất từng gây ra hư hại trước đó.