Mục Lục
ToggleSáng nay (14.4), Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm của VND với USD ở mức 25.106 đồng như hôm qua. Điều này đã giữ giá USD tại các ngân hàng thương mại không thay đổi chiều bán ra. Cụ thể, Ngân hàng Vietcombank tăng 10 đồng khi mua chuyển khoản lên 26.141 đồng nhưng giữ nguyên chiều bán ra 26.361 đồng; Ngân hàng ACB cũng tăng 10 đồng ở chiều mua chuyển khoản, lên 26.160 đồng và bán ra đứng yên 26.361 đồng…
Trong khi đó, một số ngoại tệ khác diễn biến trái chiều USD. Chẳng hạn, giá euro tại Vietcombank tăng 236 đồng khi mua chuyển khoản lên 30.506 đồng, bán ra 31.793 đồng; bảng Anh tăng 328 đồng khi mua chuyển khoản 35.029 đồng, bán ra lên 36.150 đồng; yen Nhật cũng tăng 0,67 đồng khi mua chuyển khoản lên 161,34 đồng và bán ra 169,87 đồng…
Giá USD thế giới quay đầu giảm. Chỉ số USD-Index xuống 98,36 điểm, thấp hơn hôm qua 0,66 điểm. Sự đổ vỡ của các cuộc đàm phán tại Islamabad giữa Mỹ và Iran làm dấy lên lo ngại rằng cuộc chiến Iran sẽ kéo dài hơn dự kiến, dẫn đến giá dầu cao hơn và tiếp tục gây áp lực lên các nền kinh tế toàn cầu. Thế nhưng sau đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết: “Phía bên kia đã liên hệ với chúng tôi”. Tuyên bố của Tổng thống Mỹ đưa ra sau khi ông công bố phong tỏa eo biển Hormuz, trong bối cảnh các cuộc đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Iran vào cuối tuần kết thúc mà không đạt được thỏa thuận. Lệnh phong tỏa toàn bộ hoạt động hàng hải ra vào các cảng của Iran có hiệu lực từ ngày 13.4. Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ cho biết Mỹ sẽ không chặn các tàu sử dụng eo biển để đi đến các cảng không thuộc Iran. Những điều đó đã làm đồng bạc xanh giao dịch hạn chế hơn…
Ngược lại với đồng USD, thị trường chứng khoán Mỹ tăng cao. Đóng cửa phiên giao dịch ngày 13.4 (rạng sáng 14.4 giờ Việt Nam), chỉ số S&P 500 tăng 1,02% lên 6.886,24; Nasdaq Composite tăng 1,23% lên 23.183,74 và Dow Jones tăng 301,68 điểm lên 48.218,25…
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Miễn một số phí, lệ phí hàng không, cảng, tàu thuyền, đường sắt

Thông tư 40 miễn một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực giao thông vận tải. Cụ thể miễn phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không (trừ phí thẩm định cấp giấy phép ra vào khu vực hạn chế tại cảng hàng không, sân bay) quy định tại biểu mức thu phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không ban hành kèm theo Thông tư số 193/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không.
Miễn phí, lệ phí hàng hải đối với tàu thuyền vào, rời khu vực hàng hải quy định tại chương III Thông tư số 261/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về phí, lệ phí hàng hải và biểu mức thu phí, lệ phí hàng hải được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 90/2019 và Thông tư 74/2021.
Miễn phí, lệ phí áp dụng tại cảng, bến thủy nội địa đối với phương tiện thủy nội địa hoạt động giữa các cảng, bến thủy nội địa của Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư 39/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí, lệ phí áp dụng tại cảng, bến thủy nội địa.
Miễn phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia do nhà nước đầu tư quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Thông tư số 11/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt.
Thông tư 40 có hiệu lực thi hành từ ngày 7.4 đến 30.6. Từ ngày 1.7, các khoản phí, lệ phí quy định trên sẽ thực hiện hiện theo quy định tại các thông tư được viện dẫn và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có).
Ngoài ra, không áp dụng mức thu phí thẩm định cấp chứng chỉ, giấy phép, giấy chứng nhận trong hoạt động hàng không dân dụng, phí đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tàu bay, phí trình báo đường thủy nội địa đối với phương tiện thủy nội địa hoạt động giữa các cảng, bến thủy nội địa của Việt Nam tương ứng tại số thứ tự 3 và 10 Điều 1 Thông tư số 64/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, miễn một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành đến hết ngày 30.6.

Theo báo cáo kinh tế - xã hội quý 1/2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước (quý 1/2025 tăng 7,07%). Đây cũng là mức tăng GDP quý đầu năm cao nhất trong vòng 10 năm qua. Đáng chú ý, những lĩnh vực vốn được đánh giá sẽ chịu tác động trực tiếp ngay khi chiến sự tại Trung Đông nổ ra vẫn có sự bứt phá ngoạn mục. Trong đó, hoạt động xuất khẩu vẫn tăng cao bất chấp cước phí logistics nhảy vọt. Cụ thể, cước container đi Mỹ và EU tăng gấp 2 - 3 lần so với trước đó nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3 vẫn tăng đến 40,3% so với tháng 2 và tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này đưa xuất khẩu cả nước trong quý đầu năm đạt 122,93 tỉ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tương tự, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có sự đảo chiều ngoạn mục. Nếu như tháng đầu năm, vốn FDI đăng ký chỉ đạt khoảng 2,57 tỉ USD, giảm so với cùng kỳ năm trước và tổng cộng sau 2 tháng chỉ đạt hơn 6 tỉ USD thì bước sang tháng 3, vốn FDI nhảy vọt. Tổng cộng cả quý 1, VN thu hút vốn FDI đạt 15,2 tỉ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đà tăng của tổng số vốn đăng ký, vốn FDI thực hiện trong 3 tháng đầu năm đạt 5,41 tỉ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất của 3 tháng đầu năm trong 5 năm qua, tiếp tục giữ vững mức đỉnh liên tục cao nhất trong 5 năm trở lại đây của vốn giải ngân. Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) nhận định trong bối cảnh bất ổn địa chính trị thế giới gia tăng, nhiều tập đoàn đa quốc gia có xu hướng điều chỉnh chiến lược đầu tư theo hướng thận trọng hơn, ưu tiên tối ưu hóa chuỗi cung ứng hiện hữu và đánh giá lại kế hoạch mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn tiếp tục diễn ra, trong đó VN vẫn được đánh giá là điểm đến có sức hấp dẫn nhờ môi trường chính trị ổn định, mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng và vị trí thuận lợi trong chuỗi sản xuất khu vực.
Một lĩnh vực giữ vững phong độ dù bị tác động trực tiếp là du lịch. Số liệu công bố cho thấy trong tháng 3, VN đón gần 2,1 triệu lượt khách quốc tế, đánh dấu lần đầu tiên 3 tháng liên tiếp VN vượt mốc 2 triệu lượt khách quốc tế. Tổng cả quý 1, VN đón 6,76 triệu lượt khách quốc tế, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là mức cao nhất trong quý 1 từ trước đến nay. Tuy nhiên, nếu chỉ nói về mức tăng số lượng khách nước ngoài là chưa đủ bởi việc duy trì ở mức cao liên tục trong tháng 3 cho thấy trong mắt du khách, VN vẫn là điểm đến an toàn, hấp dẫn. Con số này càng trở nên ý nghĩa khi trong tháng 3, hàng loạt chuyến bay quốc tế bị hoãn, hủy cũng như giá vé máy bay nhảy vọt khiến nhiều người phải thay đổi kế hoạch du lịch. Thế nhưng, khách quốc tế đến VN vẫn tăng trưởng ổn định, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành thương mại và dịch vụ trong những tháng đầu năm...
Chuyên gia kinh tế, đại biểu Quốc hội, PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhận định kết quả tăng trưởng ấn tượng quý 1/2026 của VN không đến một cách tự nhiên mà là kết quả của quá trình cải cách, chuẩn bị trong thời gian vừa qua. Đó là cải cách thể chế, thực hiện chính quyền theo mô hình 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp phân quyền cho địa phương. "Xuất phát từ khát vọng, niềm tin của người dân từ các hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày đất nước thống nhất, kỷ niệm 80 năm thành lập nước, thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và cả dân tộc bước vào kỷ nguyên mới cũng góp phần tạo nên tăng trưởng kinh tế cao. Hơn nữa, kết quả đó cũng thể hiện sự điều hành sát sao, kịp thời của Chính phủ, đặc biệt trong bối cảnh bất ổn địa chính trị thế giới lên cao trong đầu năm nay", ông Trần Hoàng Ngân lý giải.
Đáng chú ý, trong bối cảnh nhiều quốc gia Đông Nam Á lao đao vì cú sốc năng lượng khi chiến sự tại Trung Đông bùng nổ từ cuối tháng 2, VN nổi lên như một điểm sáng hiếm hoi giữa cơn khủng hoảng được đánh giá là nghiêm trọng nhất trong nhiều thập niên khi giữ ổn định thị trường xăng dầu, duy trì nguồn cung năng lượng cho các hoạt động kinh tế - xã hội…
Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, từ đầu tháng 3 đến nay, tình hình thế giới bắt đầu có những biến động lớn. Căng thẳng tại khu vực Trung Đông, đặc biệt là xung đột giữa Iran và Mỹ - Israel đã tạo ra nguy cơ khủng hoảng năng lượng. Giá dầu thô tăng cực mạnh, chi phí logistics, phí bảo hiểm hàng hóa và chi phí vận chuyển đều tăng vọt. Nhờ Chính phủ có những chính sách kịp thời như giảm thuế, phí liên quan đến xăng dầu, sử dụng Quỹ bình ổn để bình ổn giá nhiên liệu, kịp thời cắt đứt tâm lý kỳ vọng lạm phát và tình trạng đầu cơ, tích trữ. "Chính sách phản ứng linh hoạt, đồng bộ đã giúp kinh tế trong nước vượt qua cú sốc lớn từ thế giới. Đồng thời, việc tiếp tục triển khai tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, các dự án tồn đọng hay giải ngân đầu tư công đã mang lại kết quả rõ nét. Cùng với sự điều hành linh hoạt của Chính phủ và sự đồng lòng của các địa phương, nhất là những đầu tàu kinh tế như TP.HCM, Hà Nội… chúng ta đã đạt được kết quả tích cực. Nếu không có cú sốc từ chiến sự ở khu vực Trung Đông, tăng trưởng kinh tế VN trong quý đầu năm nay có thể còn tăng cao hơn, vượt 8%", PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh.
PGS-TS Nguyễn Thường Lạng (Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, ĐH Kinh tế quốc dân) cũng đánh giá rất cao quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Bộ Chính trị. Bởi VN đã trải qua 40 năm đổi mới với nhiều thành tựu quan trọng nhưng vẫn thiếu những đột phá mang tính bước ngoặt, khiến nền kinh tế chưa thể vượt khỏi bẫy thu nhập trung bình. Nếu tiếp tục duy trì tốc độ phát triển như hiện nay, phải cần thêm hàng chục năm để hình thành nền công nghiệp hiện đại. Chưa kể, các yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" đang hội tụ, nếu không kịp nắm bắt, cơ hội này sẽ khó lặp lại.
Với tinh thần đó, Chính phủ đã có ứng biến rất nhanh, rất linh hoạt trước cơn bão giá nhiên liệu bất ngờ ập tới. Mặc dù đã tích lũy được sức mạnh nội sinh vững chắc, song, với đặc thù phụ thuộc một phần vào năng lượng nhập khẩu, VN khó tránh khỏi những tác động lan tỏa từ thị trường quốc tế. Trong bối cảnh đó, nguồn cung xăng dầu trong nước vẫn cơ bản được bảo đảm, chuỗi cung ứng duy trì thông suốt, góp phần giảm áp lực lên sản xuất, kinh doanh và chi phí sinh hoạt của người dân. Một loạt quyết sách thuế mang tính "phòng thủ" và "trợ lực" rất mạnh mẽ, thậm chí hiếm thấy, như rút ngắn chu kỳ điều hành giá xăng dầu, đã được ban hành thần tốc, không chỉ giúp bình ổn tâm lý thị trường mà còn trực tiếp kiềm chế lạm phát trong bối cảnh áp lực chi phí đầu vào tăng cao. Đặc biệt, Chỉ thị 09 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển giao thông điện được PGS-TS Nguyễn Thường Lạng ví như "cơn mưa đúng lúc", giúp định hướng rõ ràng cho các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong việc ứng phó thách thức trước mắt, đồng thời chuẩn bị cho chiến lược dài hạn.
"Việc tăng cường tiết kiệm năng lượng được xem là giải pháp "hai trong một" khi vừa giúp giảm áp lực lên nguồn cung, vừa trực tiếp cắt giảm chi phí cho nền kinh tế. Có thể thấy, từ các biện pháp ngắn hạn đến định hướng dài hạn về cung ứng, dự trữ nguyên, nhiên liệu, các quyết định đều được đưa ra rất nhanh, linh hoạt, bám sát thực tiễn. Các quyết sách không chỉ hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô trong biến động ngắn hạn của thị trường năng lượng mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của những người lãnh đạo đất nước tiến tới một mô hình tăng trưởng bền vững hơn trong tương lai", PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhận xét.
Kết quả tăng trưởng quý 1 khả quan nhưng các chuyên gia kinh tế cũng cho rằng trong quý 2/2026, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động từ các biến động địa chính trị thế giới, dịch bệnh, thiên tai khó dự báo. Với sự kiên định từ Đảng và Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên thì nhiệm vụ của các quý còn lại trong năm rất nặng nề. PGS-TS Nguyễn Thường Lạng lưu ý trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, chính sách tài khóa và tiền tệ cần phải phối hợp nhịp nhàng, vừa định hướng, vừa khuyến khích phát triển, phù hợp chiến lược tăng trưởng của đất nước. Cách triển khai cũng phải linh hoạt, nới lỏng có kiểm soát để vừa thúc đẩy sản xuất và đầu tư, vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Cụ thể, cần tập trung thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học - công nghệ và chuyển đổi số. Các công cụ như thuế, chi tiêu công, đặc biệt là đầu tư công, phải được sử dụng hiệu quả, có trọng tâm, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ chiến lược, thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm và hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn.
Quan trọng hơn, cần nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, nhất là về công nghệ; nếu phụ thuộc vào bên ngoài sẽ khó đạt tốc độ phát triển nhanh và bền vững. Chính sách tài khóa, tiền tệ cần hướng tới xây dựng năng lực nội sinh vững mạnh, từ công nghệ, mô hình phát triển đến nguồn lực và phương thức tổ chức. Nhà nước cần nhanh chóng đầu tư mạnh mẽ vào khoa học, công nghệ, tập trung giải quyết những vấn đề then chốt, đặc biệt là 11 công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ trọng điểm. Sau đó, ứng dụng rộng rãi trong sản xuất, dịch vụ và đời sống. Đây là nền tảng để nâng cao năng suất, hiệu quả và xây dựng mô hình phát triển thông minh, bền vững. Bên cạnh đó, cần tập trung vào "đại dự án", "đại tập đoàn" và "đại vùng kinh tế" có sức lan tỏa lớn, khả năng kết nối mạng lưới rộng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và cập nhật xu hướng công nghệ, phát triển toàn cầu. Những dự án trọng điểm sẽ trở thành hạt nhân dẫn dắt, tạo mô hình phát triển thông minh, sáng tạo và nâng cao chất lượng tăng trưởng. PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh: "Đây sẽ là những "động lực của động lực", dẫn dắt VN bước vào kỷ nguyên tăng trưởng mới với tốc độ và hiệu quả chưa từng có".
Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân cho rằng để đảm bảo đạt mục tiêu tăng trưởng cao đã đề ra, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác phân cấp phân quyền cho các địa phương. Chính phủ phải có niềm tin và để địa phương quyết, địa phương làm và địa phương tự chịu trách nhiệm. Việc này song hành với hoàn thiện thể chế sẽ tháo gỡ được các điểm nghẽn lâu nay của nền kinh tế. Từ đó giúp các bộ ngành hay tỉnh, thành tránh được tình trạng có tiền nhưng không tiêu được, các dự án đầu tư công sẽ được triển khai kịp thời, đúng tiến độ. Đặc biệt, Chính phủ cần triển khai kịp thời 3 đột phá chiến lược đã đề ra tại Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Đó là đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, đột phá về nguồn nhân lực và đột phá về hạ tầng. Đồng thời, phát triển khoa học - công nghệ, chuyển đổi số vẫn là chiến lược xuyên suốt để tạo động lực cho các ngành kinh tế tăng tốc đi lên. Song song đó, Chính phủ cũng cần bám sát các nghị quyết của Bộ Chính trị ban hành trong điều hành kinh tế - xã hội. Tất cả những hoạt động cần phải được thực hiện nhanh hơn, thực chất hơn để tạo ra sự đồng lòng của cả nước. Từ đó có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng cao, thực chất và bền vững mà Đảng đã đề ra.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/kinh-te-viet-nam-kien-cuong-vuot-bao-to-185260405224630168.htm

Theo EVN, tổng số công tơ điện phục vụ mua bán, giao nhận điện có áp dụng biểu giá điên theo thời gian sử dụng khoảng 1,25 triệu công tơ. Đây là khối lượng rất lớn, liên quan trực tiếp đến công tác đo đếm, tính toán hóa đơn và thanh toán điện năng trên toàn hệ thống.
Hơn nữa, chỉ một phần công tơ có khả năng hỗ trợ cấu hình linh hoạt nhiều biểu giá theo thời gian hoặc theo mùa, còn phần lớn công tơ hiện nay được cài đặt theo khung giờ cố định. Do đó, khi thay đổi khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường sẽ phải thực hiện cấu hình lại công tơ, thông qua hai hình thức: cài đặt từ xa qua hệ thống và cài đặt trực tiếp tại hiện trường.
Theo tính toán sơ bộ, thời gian triển khai cài đặt lại công tơ theo khung giờ mới tại một số đơn vị có quy mô lớn có thể kéo dài đến khoảng 90 ngày.
Trường hợp khung giờ cao điểm, thấp điểm được điều chỉnh theo mùa (2 lần/năm), khối lượng công việc phát sinh sẽ rất lớn. Bởi sẽ phải cập nhật cấu hình cho số lượng lớn công tơ khách hàng; đồng bộ dữ liệu giữa công tơ với hệ thống thu thập dữ liệu đo đếm từ xa, hệ thống quản lý khách hàng và tính hóa đơn (CMIS) và các hệ thống liên quan.
EVN cho rằng, khối lượng công việc phát sinh sẽ rất lớn gồm cập nhật cấu hình, đồng bộ dữ liệu, tính hóa đơn... tiềm ẩn rủi ro sai sót và phát sinh khiếu nại. Do vậy, EVN đề nghị chưa áp dụng điều chỉnh khung giờ theo mùa, hạn chế tối đa việc thay đổi nhiều lần trong năm để giảm chi phí, khối lượng công việc và rủi ro trong triển khai.
Theo đó, các khung giờ được EVN đề xuất cụ thể, giờ bình thường, từ thứ hai đến thứ bảy sẽ từ 6 - 17 giờ 30 và từ 22 giờ 30 - 24 giờ; ngày chủ nhật từ 6 - 24 giờ.
Giờ cao điểm tính từ thứ hai đến thứ bảy, khung giờ từ 17 giờ 30 - 22 giờ 30 (5 giờ); ngày chủ nhật không có giờ cao điểm.
Giờ thấp điểm tất cả các ngày trong tuần, thời gian từ 0 - 6 giờ.
Quy định về khung giờ đề áp giá điện được áp dụng cho khách hàng sử dụng điện cho mục đích sản xuất, kinh doanh, hoặc có sản lượng điện sử dụng trung bình 3 tháng liên tục từ 2.000 kWh trở lên; áp dụng cho các đơn vị bán lẻ điện tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp; các đơn vị mua điện để bán lẻ điện ngoài mục đích sinh hoạt tại các tổ hợp thương mại, dịch vụ.
EVN cũng đánh giá việc điều chỉnh khung giờ cao điểm mang lại tác động tích cực khi tạo tín hiệu giá điện rõ ràng, khuyến khích khách hàng dịch chuyển nhu cầu sử dụng sang giờ thấp điểm và giờ bình thường. Từ đó giảm chi phí chung hệ thống điện, giúp an toàn hệ thống, giảm giá thành sản xuất điện và đặc biệt giảm nguy cơ thiếu điện vào các giờ cao điểm chiều.
Trước đó, tại dự thảo quyết định về việc quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia, Bộ Công thương đề xuất khung giờ cao điểm thay đổi theo từng mùa trong năm. Cụ thể, từ tháng 1 - 4 và từ tháng 9 - 12, khung giờ cao điểm từ 14 - 19 giờ trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy (5 giờ).
Tháng 5 - 8, giờ cao điểm gồm hai khung 14 giờ 30 - 16 giờ 30 và 19 giờ 30 - 22 giờ 30 trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy (5 giờ); ngày chủ nhật không có giờ cao điểm.
Khung giờ bình thường áp dụng cho các khung giờ còn lại trong ngày. Giờ thấp điểm tất cả các ngày trong tuần, thời gian từ 0 - 6 giờ.
Tin Gốc: Thanh Niên

