Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện công tác xây dựng TP học tập toàn cầu UNESCO trên địa bàn năm 2025 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2026, dưới sự chủ trì của ông Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó chủ tịch UBND TP. HCM. Ngoài ra, có sự tham dự của hơn 400 đại biểu là lãnh đạo Bộ Ngoại giao; Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam; các sở, ban, ngành; UBND 168 phường, xã, đặc khu; tổ chức chính trị–xã hội và cơ sở giáo dục trên địa bàn TP.HCM.
Hội nghị còn có sự tham dự của ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng đại diện Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) tại Việt Nam.
Theo báo cáo của UBND TP.HCM, trong năm 2025, công tác quản lý nhà nước về xây dựng TP học tập toàn cầu UNESCO tại TP.HCM được triển khai đồng bộ, thống nhất, bảo đảm chỉ đạo xuyên suốt từ Thành ủy, UBND TP đến các sở, ban, ngành, UBND cấp xã.
Cụ thể, hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được chú trọng đầu tư, từng bước đáp ứng yêu cầu tổ chức dạy học hiệu quả, góp phần duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục, giữ vững kết quả phổ cập giáo dục và xóa mù chữ trên địa bàn. Đầu tư nguồn lực được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các khu vực đông dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất và các địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội còn khó khăn.
Đặc biệt, trong năm 2025, các sở, ban, ngành đã tích cực triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn trực tuyến nhằm nâng cao nhận thức về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, khai thác hiệu quả các nền tảng học tập trực tuyến.
Một trong những ứng dụng nổi bật là “Công dân số” giúp người dân thuận tiện kết nối với chính quyền thành phố thông qua thiết bị điện thoại thông minh. Chỉ tính riêng trong năm 2025, đã có hơn 6,1 triệu người dân tương tác.
Ngoài ra, phong trào “Bình dân học vụ số” được phát động vào ngày 11.10.2025 đã huy động rộng rãi người dân tham gia, tiếp cận và thụ hưởng các thành quả chuyển đổi số một cách thực chất.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Mạnh Cường cho biết trong bối cảnh tổ chức bộ máy mới, lãnh đạo thành phố đặc biệt quan tâm, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát các nhiệm vụ giải pháp xây dựng thành phố học tập, bảo đảm sự thông suốt, đồng bộ và hiệu quả trên toàn địa bàn.
Những nỗ lực trong năm 2025 đã góp phần hình thành nền tảng vững chắc cho việc phát triển xã hội học tập, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần học tập suốt đời đến mọi tầng lớp nhân dân.
Để tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong xây dựng thành phố học tập, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, bảo đảm mọi người dân đều bình đẳng trong học tập, ông Nguyễn Mạnh Cường đề nghị lãnh đạo Sở GD-ĐT cùng các sở, ban, ngành, đoàn thể, UBND phường, xã, đặc khu, thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm gồm:
Tiếp tục các giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức về học tập suốt đời trong hệ thống chính trị cấp ủy chính quyền các cấp, đoàn viên, hội viên các đoàn thể và trong các tầng lớp nhân dân.
Tiếp tục xây dựng các cơ chế, chính sách trong công tác xây dựng TP học tập, tiếp tục rà soát, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ nhóm người yếu thế, khó khăn trong tiếp cận học tập…để đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong hành trình tiếp cận tri thức.
Tăng cường thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là ứng dụng chuyển đổi số trong xây dựng thành phố học tập. Lấy thành quả của chuyển đổi số để thúc đẩy xây dựng thành phố học tập, phát triển thành phố học tập gắn với xây dựng xã hội số…
Chú trọng nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác xây dựng xã hội học tập. Triển khai các giải pháp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, xây dựng đội ngũ quản lý có trình độ, năng lực và tâm huyết để duy trì bền vững mô hình xã hội học tập trên địa bàn thành phố.
Tiếp tục tăng cường trao đổi ý tưởng, tri thức và kinh nghiệm với các TP thành viên trong Mạng lưới TP học tập toàn cầu của UNESCO trên thế giới.
Đến đầu tháng 4, hầu hết đại học đưa ra phương án tuyển sinh dự kiến năm 2026. Trong đó, 64 trường đã công bố bảng quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, phổ biến là IELTS, sang điểm môn Tiếng Anh. Điểm này thường được kết hợp với điểm thi tốt nghiệp THPT hoặc học bạ hai môn khác trong tổ hợp để xét tuyển.
11 trường quy đổi IELTS từ 4.0. Đây là mức điểm thấp nhất, cũng là mức giúp thí sinh được miễn thi tốt nghiệp môn Tiếng Anh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong đó, Đại học Sài Gòn và Yersin Đà Lạt tính 7,5 điểm với mốc này.
Quy đổi từ mốc 4.5 IELTS là Đại học Điện lực, Mở Hà Nội, Công nghệ Giao thông vận tải, Học viện Hàng không Việt Nam..., phổ biến bằng 7-8 điểm môn tiếng Anh.
Số còn lại hầu hết yêu cầu IELTS từ 5.0. Nếu có IELTS từ 7.0 trở lên, nhiều trường tính cho thí sinh thành 10 điểm Tiếng Anh, như Đại học Bách khoa Hà Nội, Công nghiệp Hà Nội, Thương mại...
Trong khi đó, 6 trường chỉ tính mức tối đa môn Tiếng Anh nếu có IELTS từ 8.0 trở lên, ví dụ Đại học Ngoại thương, Khoa học và Công nghệ Hà Nội, CMC, Khoa học Tự nhiên TP HCM, Bách khoa TP HCM, Nguyễn Tất Thành.
Danh sách đại học quy đổi điểm IELTS năm 2026 tính đến đầu tháng 4 như sau:
Theo quy chế tuyển sinh ban hành giữa tháng 2, bảng quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ phải có tối thiểu 5 mức điểm chênh lệch.
Ngoài quy đổi, nhiều trường cộng điểm khuyến khích cho thí sinh có IELTS như Đại học Kiến trúc Hà Nội, Y tế công cộng, Luật TP HCM, Học viện Kỹ thuật mật mã, Tòa án... Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định thí sinh đã quy đổi điểm chứng chỉ ngoại ngữ thì không được cộng điểm khuyến khích.
Nhìn lại 10 năm xét tuyển IELTS vào đại học
Năm ngoái, hơn 70 đại học quy đổi IELTS thành điểm môn Tiếng Anh để xét kết hợp với điểm thi tốt nghiệp THPT hoặc học bạ, cũng với mức từ 4.0 trở lên.
Có một thực tế đáng suy nghĩ, theo nhiều thống kê và quan sát xã hội, rất ít học sinh THPT tham gia việc nhà thường xuyên.
Chúng tôi thử khảo sát sơ bộ trong gần 150 học sinh THPT (3 lớp học), thì thấy tỷ lệ học sinh không bao giờ biết tự ủi đồ đi học là rất lớn, khoảng từ 30 - 40%. Tỷ lệ tương tự với các việc như gặt đồ, quét nhà, rửa chén bát... Điều đó đặt ra một câu hỏi gia đình đang ở đâu trong việc giáo dục kỹ năng sống ở nhà cho con em?
Không ít phụ huynh quan niệm rằng nhiệm vụ chính của con là học, còn mọi việc khác đã có cha mẹ lo. Từ việc nhỏ như dọn dẹp phòng, rửa chén, đến những việc cần kỹ năng hơn như nấu ăn, quản lý chi tiêu… tất cả đều được người lớn "bao trọn". Sự hy sinh ấy xuất phát từ tình thương, nhưng lại tiềm ẩn một hệ quả lâu dài là con trẻ mất đi cơ hội học cách tự lập.
Trong khi đó theo các chuyên gia tâm lý giáo dục, lứa tuổi THPT là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng trước khi bước vào đời. Việc thiếu kỹ năng sống không chỉ khiến các em gặp khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, mà còn ảnh hưởng đến khả năng thích nghi khi học xa nhà, đi làm hoặc xây dựng cuộc sống riêng sau này. Đáng nói hơn, nhiều em hình thành tâm lý ỷ lại, thụ động. Khi mọi thứ đã có người khác làm thay, các em không còn nhu cầu học hỏi hay chịu trách nhiệm cho chính cuộc sống của mình.
Nhiều phụ huynh nghĩ rằng làm việc nhà sẽ ảnh hưởng đến việc học. Tuy nhiên, theo quan điểm người viết bài thì ngược lại. Học sinh biết chia sẻ việc nhà thường có ý thức trách nhiệm cao hơn, kỹ năng quản lý thời gian tốt hơn và tinh thần tự lập rõ rệt hơn.
Giúp việc nhà, nếu được phân bổ hợp lý, không hề lấy đi thời gian học tập mà còn giúp học sinh hiểu giá trị của lao động, rèn luyện tính kỷ luật và kiên trì, hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề trong đời sống thực tế. Một học sinh biết tự nấu ăn, tự giặt giũ, tự sắp xếp không gian sống… cũng chính là một người đang học cách làm chủ bản thân. Đó là những bài học không có trong sách giáo khoa, nhưng lại theo các em suốt đời.
Nhà trường dạy kiến thức, xã hội có thể tạo môi trường, nhưng chính gia đình mới là nơi đặt nền móng cho thói quen và kỹ năng sống. Trẻ em không tự nhiên biết làm việc nhà, mà các em học bằng cách quan sát và được hướng dẫn. Nếu cha mẹ luôn làm thay, hoặc không giao việc cụ thể, trẻ sẽ không hình thành được ý thức trách nhiệm. Ngược lại, những gia đình biết cách giáo dục con thông qua việc nhà sẽ giao việc phù hợp với độ tuổi (rửa chén, quét nhà, nấu ăn đơn giản…); không làm thay khi con có thể tự làm; kiên nhẫn hướng dẫn thay vì trách mắng khi con làm chưa tốt; xem việc nhà là trách nhiệm chung, không phải "giúp đỡ" cha mẹ. Và chính trong không gian gia đình, những kỹ năng tưởng chừng nhỏ bé ấy dần tích lũy thành năng lực sống bền vững.
Đừng đợi đến khi con rời nhà mới dạy con tự lập. Nếu gia đình không chuẩn bị từ sớm, con trẻ sẽ phải học những bài học cơ bản nhất trong hoàn cảnh bị động và áp lực hơn rất nhiều. Ngược lại, nếu ngay từ khi còn ở nhà, các em đã được rèn luyện từng chút một, thì khi bước ra đời, các em sẽ tự tin, chủ động và thích nghi nhanh hơn.
Thực ra không thiếu những bài học từ sách vở, nhà trường (cả sách chương trình cũ và mới) đã dạy học sinh những kỹ năng sống. Từ thời nhỏ các em đã biết đến các bài thơ giản dị như về việc đánh răng; việc "Quạt cho bà ngủ" (tên bài thơ của Thạch Quý) là hành động nhỏ nhưng đầy tình cảm, dạy trẻ biết chăm sóc người thân, biết quan tâm.
Sách giáo khoa cũng dạy bé biết phụ giúp việc nhỏ trong nhà trong bài Tí Xíu (Ngô Văn Phú); giúp trẻ quan sát lao động để hiểu giá trị lao động chân chính trong bài tập đọc Bố làm thợ mộc (Ngô Quân Miện); hoặc văn bản tập đọc Đẹp mà không đẹp dạy trẻ biết giữ gìn không gian công cộng sạch đẹp...
Những bài học nói trên không chỉ dạy chữ mà còn dạy cách sống bằng những hình ảnh giản dị, gần gũi.
Chỉ tiếc rằng giữa sách vở, lý thuyết nhà trường và ứng dụng thực tế còn khoảng cách khá xa. Để lấp đầy khoảng cách này cần sự sẵn sàng hợp sức của cha mẹ học sinh.
Bước ra khỏi điểm thi Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM, các thí sinh được hỏi cho biết hoàn thành bài thi đánh giá năng lực ở mức độ khác nhau. Tuy nhiên, một nhận định chung của nhiều thí sinh là đề thi không quá khó nhưng khá dài, không dễ dàng để xử lý tốt trong thời gian quy định.
Quốc Việt (học sinh Trường Thực hành Sài Gòn, TP.HCM), cho biết đề thi không quá khó nhưng khá dài, một số câu làm trong tâm thế không chắc chắn do thời gian còn lại không nhiều. Đặc biệt ở phần thi sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, thí sinh này cho biết gặp khó bởi từ "niêm" .
Thí sinh này nói: "Em gần như chưa có khái niệm nào về từ "niêm' nhưng vẫn dựa vào đề bài, yêu cầu của đề để phân tích suy luận và chọn đáp án. Theo các đáp án đưa ra, em tự phiên nghĩa từ 'niêm' trong trường hợp này tương đương với các từ như: 'nối với' 'ứng với'…". Với cách xử lý này, Quốc Việt cho biết đã xử lý cơ bản bài thi và mong chờ đạt được 850 điểm để tự tin hơn khi xét tuyển ngành điện-điện tử Trường ĐH Bách khoa TP.HCM.
Không chỉ Quốc Việt, từ 'niêm' còn làm khó nhiều thí sinh khác. M.T (học sinh Trường THPT Hùng Vương, TP.HCM), cũng cho hay: "Đề thi có những câu hỏi kiến thức lớp 10, 11 hoặc kiến thức bậc THCS. Có những câu hỏi rất lạ, ví dụ từ "niêm" trong phần tiếng Việt. Em cũng chưa từng nghe chưa từng sử dụng từ "niêm" trong đời sống nên làm bài theo sự phân tích, suy luận của cá nhân…".
Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2005) thì "niêm" là danh từ, chỉ "quy tắc tương ứng về bằng trắc trong thơ, phú cổ Đường luật". Một từ khác có liên quan được tìm thấy trong từ điển này là "niêm luật" chỉ "quy tắc tương ứng về bằng trắc và các quy tắc khác trong thơ, phú cổ theo Đường luật".
Rút kinh nghiệm từ bài thi này, thí sinh Quốc Việt nhận định: "Đề thi không quá hóc búa, không kiểm tra kiến thức khó và yêu cầu vận dụng cao. Nhưng cái khó là yêu cầu xử lý tốc độ nhanh, 120 câu nhưng chỉ làm trong 150 phút. Do đó, vấn đề quản lý tốt thời gian trong khi làm bài rất quan trọng".
Tham dự kỳ thi, thí sinh làm một bài thi trong thời gian 150 phút gồm 120 câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, được tổ chức theo hình thức thi trên giấy. Mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quan có 4 lựa chọn (A, B, C, D). Thí sinh lựa chọn một đáp án đúng cho mỗi câu hỏi và điền câu trả lời vào phiếu trả lời trắc nghiệm do ĐH Quốc gia TP.HCM quy định.
Nội dung thi được xây dựng dựa trên cơ sở kiến thức THPT nhằm đánh giá năng lực cơ bản cần thiết cho việc học ĐH của thí sinh, bao gồm: sử dụng ngôn ngữ, toán học, tư duy khoa học. Theo đó, cấu trúc bài thi gồm 3 phần: sử dụng ngôn ngữ gồm 60 câu hỏi (30 câu tiếng Việt và 30 câu tiếng Anh); toán học gồm 30 câu hỏi; tư duy khoa học gồm 30 câu hỏi. Điểm thi được quy đổi theo từng phần. Điểm số tối đa của bài thi là 1.200, trong đó điểm tối đa từng thành phần của bài thi được thể hiện trên phiếu điểm gồm: tiếng Việt là 300 điểm, tiếng Anh là 300 điểm; toán học là 300 điểm và tư duy khoa học là 300 điểm.
Độ khó của các câu hỏi trong đề thi được phân thành 3 mức độ và được phân bố theo tỷ lệ: mức độ 1 chiếm 30%, mức độ 2 chiếm 40%, mức độ 3 chiếm 30%. Tiến sĩ Nguyễn Quốc Chính, Giám đốc Trung tâm Khảo thí và đánh giá chất lượng đào tạo ĐH Quốc gia TP.HCM, cho biết kết quả thi đánh giá năng lực được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm hiện đại theo lý thuyết ứng đáp câu hỏi, điểm của từng câu hỏi có trọng số khác nhau tùy thuộc vào độ khó của câu hỏi. Điểm thi đợt 1 dự kiến sẽ được công bố vào ngày 17.4 tới.