Theo tổng hợp từ Trung tâm Nghiên cứu Thị trường và Am hiểu khách hàng One Mount Group, trong quý 1/2026, thị trường căn hộ sơ cấp ghi nhận cải thiện đồng thời ở cả nguồn cung và thanh khoản, cho thấy khả năng hấp thụ vẫn duy trì tích cực dù mặt bằng lãi suất ở mức cao.
Cụ thể, tại Hà Nội, nguồn cung mở bán mới đạt khoảng 8.800 căn, tăng gấp đôi so với cùng kỳ 2025. Lượng giao dịch ghi nhận khoảng 7.300 căn, tương đương mức tăng 122% so với năm trước, phản ánh tỷ lệ hấp thụ cao và nhu cầu ở thực duy trì ổn định.
Tương tự, tại TP.HCM, nguồn cung đạt khoảng 3.700 căn, tăng 86%, trong khi lượng tiêu thụ đạt khoảng 4.800 căn, tăng khoảng 70% so với cùng kỳ.
Đáng chú ý, nguồn cung tiếp tục xu hướng dịch chuyển rõ nét ra các khu vực ngoài trung tâm. Tại Hà Nội, khu vực Văn Giang đóng vai trò dẫn dắt với khoảng 5.500 căn, chiếm 62% tổng nguồn cung, chủ yếu đến từ các đại đô thị quy mô lớn với lợi thế về quỹ đất, hạ tầng và hệ sinh thái tiện ích đồng bộ.
Trong khi đó, khu vực nội đô dù xuất hiện một số dự án cao cấp mới nhưng vẫn chiếm tỷ trọng hạn chế do rào cản về quỹ đất và chi phí phát triển.
Tại TP.HCM, khu vực Bình Dương tiếp tục là động lực chính khi cung cấp gần 2.200 căn, tương đương khoảng 60% nguồn cung mở mới. Dù khu trung tâm ghi nhận sự gia tăng về nguồn cung, nhưng vẫn mang tính cục bộ và phụ thuộc vào số lượng dự án hạn chế.
Diễn biến này cho thấy xu hướng dịch chuyển mang tính cấu trúc của thị trường, trong đó các khu vực vệ tinh ngày càng đóng vai trò “van điều tiết” về nguồn cung và mặt bằng giá, đồng thời đáp ứng hiệu quả nhu cầu ở thực trong bối cảnh khả năng chi trả tại khu vực trung tâm ngày càng thu hẹp.
Trong quý đầu năm, giá bán sơ cấp tại hai thị trường lớn nhìn chung duy trì ổn định so với cuối năm 2025.
Giá trung bình tại trung tâm TP.HCM đạt khoảng 102 triệu đồng/m2, trong khi Hà Nội đạt khoảng 86 triệu đồng/m2. Tuy nhiên, bên trong bức tranh chung là sự phân hóa rõ rệt giữa các khu vực.
Tại Hà Nội, mặt bằng giá khu vực nội đô tiếp tục neo ở mức cao, trung bình khoảng 124 triệu đồng/m2, tăng 14% theo quý. Nguyên nhân chủ yếu đến từ nguồn cung mới thuộc phân khúc cao cấp với mức giá trên 150 triệu đồng/m2.
Ngược lại, các khu vực ngoài trung tâm, đặc biệt là Văn Giang, duy trì mức giá 60 – 70 triệu đồng/m2, tương đương khoảng 50% so với nội đô. Khoảng chênh lệch này giúp khu vực vệ tinh trở thành lựa chọn phù hợp với người mua ở thực.
Tại TP.HCM, Bình Dương nổi lên với mức giá trung bình khoảng 56 triệu đồng/m2, tăng 7% theo quý và 37% so với cùng kỳ. Một số dự án mới đã thiết lập mặt bằng giá trên 70 triệu đồng/m2, phản ánh kỳ vọng tăng trưởng sau sáp nhập và cải thiện hạ tầng.
Báo cáo nghiên cứu thị trường quý 1/2026 của DKRA Consulting cũng cho thấy, ở phân khúc căn hộ mặt bằng giá bán sơ cấp tăng bình quân từ 3 – 5% so với cuối năm 2025 trước áp lực các chi phí đầu vào phát triển dự án. Giá bán trên thị trường thứ cấp không có nhiều biến động so với đầu năm, thanh khoản có phần chững lại do kỳ nghỉ Tết Âm lịch kéo dài và lãi suất duy trì ở mức cao.
Dữ liệu từ chuyên trang giao dịch trực tuyến batdongsan.com.vn phản ánh xu hướng tương tự tại TP.HCM, giá chung cư sơ cấp và thứ cấp tăng khoảng 1,5% theo quý và gần 10% theo năm, trung bình đạt 69 triệu đồng/m2, trong khi nhu cầu tìm mua tăng 36%.
Giá căn hộ tại TPHCM tiếp tục lập mặt bằng mới bất chấp lãi suất cao, phản ánh sự lệch pha cung – cầu và áp lực chi phí ngày càng lớn. Đằng sau đà tăng là quá trình tái cấu trúc sâu của thị trường, nơi dòng tiền trở nên chọn lọc hơn, nhà đầu tư buộc thay đổi chiến lược, trong khi doanh nghiệp phải thích ứng để tồn tại.
Theo một lãnh đạo DKRA Consulting, động lực chính đẩy giá lên đến từ phân khúc cao cấp chiếm ưu thế và tác động tích cực từ hạ tầng. Tổng số căn hộ mở bán mới hơn 4.000 căn, tăng 32% so với cùng kỳ nhưng giảm mạnh so với quý 4/2025. Trong đó, riêng TP.HCM cũ chỉ có khoảng 820 căn, gần 90% thuộc phân khúc cao cấp và hạng sang.
Ông Trần Minh Tiến, Giám đốc One Mount Group nhận định, thị trường đang chịu tác động đáng kể từ biến động lãi suất, tuy nhiên vẫn duy trì được sự ổn định về nguồn cung và thanh khoản. Đây là tín hiệu tích cực trong bối cảnh hiện tại. Tuy vậy, để đánh giá đầy đủ tác động của yếu tố vĩ mô, cần thêm thời gian theo dõi.
Dù vậy, ông Trần Minh Tiến cũng khuyến nghị người mua và nhà đầu tư nên ưu tiên các dự án từ chủ đầu tư uy tín, đồng thời cân đối tài chính phù hợp để hạn chế rủi ro trong bối cảnh lãi suất còn biến động.
Đài Khí tượng thủy văn Nam bộ cho biết, ngày hôm qua (6.4), các tỉnh miền Đông nắng nóng tiếp tục xuất hiện diện rộng, có nơi nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất ghi nhận được tại Phước Long 37,2 độ C, Tây Ninh 37 độ C, Đồng Phú 36,8 độ C, Biên Hòa 36,1 độ C. Độ ẩm tương đối thấp nhất dao động từ 36 - 55%, thấp nhất là Long Khánh 36,4%. Tại TP.HCM nhiệt độ tại trạm Tân Sơn Nhất là 35 độ C, Sở Sao là 36,5 độ C.
Bản đồ nhiệt ở TP.HCM và Nam bộ
NGUỒN: ĐÀI KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN NAM BỘ
Nắng nóng cũng mở rộng sang nhiều khu vực ở miền Tây như Châu Đốc 36,2 độ C; Cao Lãnh 35,5 độ C, Vĩnh Long 35,2 độ C, Càng Long 35,5 độ C.
Dự báo khu vực Nam bộ hôm nay (7.4) tiếp tục có nắng nóng diện rộng, miền Đông có nơi nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất đến 38 độ C.
Tại TP.HCM, nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 - 36 độ C, một số khu vực có thể đạt mức 37 độ C như: Thủ Đức, Gò Vấp, Tân Bình, Hóc Môn, Thuận An, Thủ Dầu Một… Độ ẩm thấp nhất từ 30 - 45%. Đáng chú ý, thời gian nắng nóng trong ngày kéo dài đến 4 giờ chiều và nhiệt độ cảm nhận có thể cao hơn phổ biến từ 2 - 4 độ C so với nhiệt độ khí tượng tùy thuộc và điều kiện bê tông và nhựa đường cụ thể. Do thời gian có nắng và nắng nóng kéo dài trong ngày nên cảm giác nóng bức mở rộng đến tận khoảng 20 - 21 giờ đêm.
Hiện tại đang là giai đoạn đỉnh điểm mùa khô ở Nam bộ, dự báo nắng nóng trên khu vực tiếp tục kéo dài trong nhiều ngày tới. Cấp độ rủi ro thiên tai do nắng nóng trên khu vực ở cấp 1.
Do ảnh hưởng của nắng nóng, độ ẩm không khí thấp nên có nguy cơ xảy ra cháy nổ, hỏa hoạn ở khu vực dân cư và cháy rừng. Ngoài ra, nắng nóng còn có thể gây tình trạng mất nước, kiệt sức, đột quỵ do sốc nhiệt đối với cơ thể người khi tiếp xúc lâu với nhiệt độ cao.
Từ đầu năm tới nay, giá vàng thế giới biến động trồi sụt rất khó lường. Đầu năm, giá vàng tăng vọt lên mức cao nhất vào ngày 29.1 là gần 5.600 USD/ounce. Đầu tháng 3, giá vàng dao động 5.200 - 5.400 USD/ounce, sau đó có tăng, có giảm, xu hướng giảm là chính.
Giá vàng dần "thủng" các ngưỡng kháng cự quan trọng như 5.000 USD/ounce, 4.500 USD/ounce, thấp nhất ngày 23.3, có thời điểm ghi nhận giá dưới 4.200 USD/ounce.
Từ cú giảm sâu đó tới nay, giá vàng lình xình có lên, có xuống, song không quay lại mức 5.000 USD/ounce, cao nhất khoảng 4.800 USD/oune. Giá vàng đóng cửa tuần này ở 4.676 USD/ounce.
Nhìn lại lịch sử thị trường vàng, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, có thể nhận diện một số chu kỳ điển hình "tăng đỉnh - sập sâu - đi ngang kéo dài".
Đợt thứ nhất là sau đỉnh năm 1980. Vàng khi đó tăng mạnh do lạm phát cao và bất ổn địa chính trị, nhưng bước ngoặt đến khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thực hiện chính sách thắt chặt quyết liệt, đẩy lãi suất lên mức rất cao. Kết quả, vàng sụp đổ mạnh, bước vào giai đoạn "ngủ đông" kéo dài gần 2 thập kỷ, đến đầu những năm 2000 mới thực sự hồi phục.
Đợt thứ hai là chu kỳ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Vàng đạt đỉnh lịch sử năm 2011 nhờ các gói nới lỏng định lượng (QE) và lãi suất thấp kéo dài.
Tuy nhiên, từ năm 2013, khi Fed phát tín hiệu thu hẹp QE, thị trường đảo chiều mạnh, vàng giảm sâu và mất khoảng 30 - 40% giá trị trong vòng vài năm, sau đó đi ngang tích lũy khá dài trước khi bước vào chu kỳ tăng mới.
Đợt thứ ba mang tính ngắn hạn hơn là giai đoạn 2020 - 2022. Sau khi đạt đỉnh trong đại dịch Covid-19 nhờ chính sách tiền tệ siêu nới lỏng, vàng nhanh chóng điều chỉnh khi lạm phát tăng cao buộc các ngân hàng T.Ư quay lại chu kỳ thắt chặt. Dù mức giảm không kéo dài hàng thập kỷ, nhưng vẫn cho thấy rõ tính nhạy cảm của vàng với lãi suất thực.
"Điểm chung của các chu kỳ này là vàng thường đạt đỉnh khi chính sách tiền tệ ở trạng thái nới lỏng cực độ, và sụt giảm khi chu kỳ thắt chặt bắt đầu. Sau cú sốc giảm, thị trường thường bước vào giai đoạn tích lũy dài do thiếu động lực tăng mới", ông Nhân nói.
Các đợt "sập giá" của vàng luôn có một số điểm tương đồng mang tính quy luật, nhưng bối cảnh hiện nay xuất hiện những khác biệt đáng lưu ý.
Vai trò của các ngân hàng T.Ư trong việc mua ròng vàng đang lớn hơn nhiều so với các chu kỳ trước, tạo ra lực đỡ dài hạn.
Cạnh đó, thế giới đang bước vào giai đoạn phân mảnh tài chính và xu hướng giảm phụ thuộc vào USD, khiến vàng tiếp tục được coi là tài sản dự trữ chiến lược, chứ không đơn thuần là công cụ đầu cơ.
Rủi ro địa chính trị hiện nay mang tính kéo dài, khó dự báo hơn, làm cho nhu cầu phòng ngừa rủi ro chưa thể suy giảm hoàn toàn.
"Kịch bản giá vàng sập sâu và đi ngang như sau năm 1980 hoàn toàn có thể lặp lại về mặt ngắn hạn hoặc trung hạn nếu lãi suất duy trì cao lâu hơn dự kiến. Tuy nhiên, xác suất xuất hiện một chu kỳ suy giảm kéo dài hàng thập kỷ thấp hơn, bởi nền tảng cầu của vàng hiện đã đa dạng, bền vững hơn", ông Nhân dự báo.
Về trung và dài hạn, theo ông Nhân, yếu tố chi phối mang tính quyết định tới giá vàng vẫn là chính sách của Fed.
Diễn biến gần đây cho thấy, khi lạm phát còn dai dẳng, Fed có xu hướng duy trì lãi suất cao hơn kỳ vọng, làm tăng lợi suất thực và gây áp lực lên vàng. Ngược lại, nếu chu kỳ nới lỏng quay trở lại vào cuối năm 2026, đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp vàng phục hồi. Các yếu tố hỗ trợ vàng dài hạn vẫn hiện hữu.
Đa số tổ chức lớn đang đưa ra vùng dự báo khá rộng cho năm 2026. Kịch bản cơ sở, giá vàng dao động quanh 4.000 - 5.000 USD/ounce; trong khi các kịch bản tích cực hơn có thể hướng tới 5.400 - 6.000 USD nếu xuất hiện chu kỳ giảm lãi suất và rủi ro địa chính trị leo thang. Ngược lại, nếu lãi suất duy trì cao kéo dài, vùng 3.800 - 4.200 USD sẽ đóng vai trò đáy cân bằng.
"Tóm lại, vàng vẫn được hỗ trợ trong dài hạn nhưng biên độ biến động sẽ lớn hơn, phụ thuộc chặt chẽ vào chu kỳ chính sách tiền tệ. Kịch bản lập đỉnh mới trong năm 2026 là khả thi, nhưng không còn mang tính một chiều như giai đoạn 2024 - 2025", ông Nhân nhận định.
TS Đào Lê Trang Anh, giảng viên cao cấp ngành tài chính (Đại học RMIT Việt Nam), cũng cho rằng, về dài hạn, các nền tảng hỗ trợ cho vàng vẫn còn, bao gồm bất ổn địa chính trị, rủi ro nợ công toàn cầu, nhu cầu đa dạng hóa dự trữ của ngân hàng T.Ư và vai trò phòng ngừa rủi ro hệ thống của vàng trong danh mục đầu tư.
"Năm nay, mặt bằng dự báo hiện khá phân hóa. Kịch bản thận trọng đặt vùng giá xoay quanh 4.600 - 5.000 USD/ounce. Trong kịch bản các rủi ro vĩ mô và chính sách tiếp tục hiện hữu, giá vàng hoàn toàn có thể kiểm định các vùng đỉnh mới. Vùng giá tiềm năng được nhiều nhà phân tích nhắc tới quanh 5.500 - 6.200 USD/ounce, dù biến động sẽ còn rất lớn", bà Trang Anh nói.
Cập nhật tình hình nắng nóng ngày 9.4, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho biết: Khu vực từ Nghệ An đến Huế tiếp tục nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt với nhiệt độ lúc 13 giờ phổ biến 37 - 39 độ C, có nơi trên 39 độ C. Đáng chú ý, tâm điểm nắng nóng chuyển từ Nghệ An sang Hà Tĩnh. Mức nhiệt cao nhất một số trạm như: Quỳ Hợp (Nghệ An) 39,6 độ C, Hương Khê (Hà Tĩnh) 40,2 độ C, Tuyên Hóa (Quảng Trị) 39,3 độ C…, độ ẩm tương đối lúc 13 giờ phổ biến 40 - 50%. Mức độ rủi ro thiên tai do nắng nóng ở cấp 2.
Bên cạnh đó, tây Bắc bộ và khu vực từ Đà Nẵng đến phía đông Quảng Ngãi có nắng nóng và nắng nóng gay gắt với nhiệt độ phổ biến 35 - 37 độ C, có nơi trên 37 độ C như: Yên Châu (Sơn La) 37,2 độ C, Mai Châu (Phú Thọ) 37,5 độ C; độ ẩm phổ biến 40 - 50%.
Khu vực phía bắc Tây nguyên Trung Bộ và Nam bộ có nắng nóng với nhiệt phổ biến từ 35 - 36 độ C, có nơi trên 36 độ C như: An Khê (Gia Lai) 36,4 độ C, Ayunpa (Gia Lai) 36,4 độ C.
Dự báo trong ngày 10 - 11.4, khu vực từ Thanh Hóa đến Huế có nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 38 - 40 độ C, có nơi trên 40 độ C.
Khu vực tây Bắc bộ và từ Đà Nẵng đến phía đông tỉnh Đắk Lắk có nắng nóng và nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36 - 38 độ C, có nơi trên 38 độ C, độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 40 - 45%.
Khu vực Đông Bắc Bộ (ngoại trừ Quảng Ninh, Hải Phòng), Tây nguyên và Nam bộ có nắng nóng, có nơi nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 - 37 độ, có nơi trên 37 độ C, độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 45 - 50%.