Mục Lục
ToggleNgày 10.4, dinh dưỡng viên Đoàn Thị Lương (Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện đa khoa quốc tế Nam Sài Gòn) cho biết tình trạng trên thường gặp trong mùa nắng nóng và nhiều người dễ nhầm lẫn. Tuy nhiên, nếu quan sát kỹ, say nắng (sốc nhiệt) và ngộ độc thực phẩm có cách khởi phát và biểu hiện khác nhau.
Với say nắng, yếu tố quan trọng nhất là tiếp xúc với môi trường nhiệt độ cao trong thời gian dài. Sau khi đi ngoài trời nắng về, người bệnh thường có biểu hiện đau đầu, choáng váng, mệt lả, da nóng, có thể đỏ, đôi khi khô, nhiệt độ cơ thể tăng cao, trường hợp nặng có thể lú lẫn, thậm chí ngất.
Trong khi đó, ngộ độc thực phẩm lại liên quan rõ hơn đến bữa ăn trước đó, đặc biệt là ăn tại các quán không an toàn vệ sinh thực phẩm. Các dấu hiệu thường gặp là buồn nôn, nôn nhiều, đau bụng quặn, tiêu chảy, có thể kèm sốt nhẹ.
Ngộ độc thực phẩm gần như luôn có triệu chứng tiêu hóa rõ ràng, còn say nắng thì nổi bật ở tình trạng rối loạn thân nhiệt và thần kinh. Tuy nhiên, trên thực tế cũng có những trường hợp 2 tình trạng này xảy ra cùng lúc, ví dụ vừa đi nắng kéo dài vừa ăn thực phẩm không đảm bảo. Khi đó triệu chứng có thể chồng lấp, khiến việc nhận biết khó hơn.
“Vì vậy, nếu sau khi đi nắng về xuất hiện các biểu hiện như nôn nhiều, không ăn uống được, tiêu chảy liên tục, sốt cao hoặc lơ mơ…, thì không nên tự theo dõi tại nhà mà cần đến cơ sở y tế để được đánh giá sớm”, dinh dưỡng viên Đoàn Thị Lương khuyến cáo.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/di-an-ve-thay-met-ngo-doc-thuc-pham-hay-say-nang-185260410143648916.htm
Nắng nóng có thể đẩy huyết áp lên ngưỡng nguy hiểm, bạn có biết?

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nắng nóng kéo dài có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, đặc biệt ở người cao tuổi và người có bệnh nền như tăng huyết áp.
Khi trời nóng, cơ thể giãn mạch để tỏa nhiệt, điều này có thể khiến huyết áp giảm tạm thời. Tuy nhiên, việc mất nước do đổ mồ hôi nhiều lại khiến thể tích máu giảm và tim phải làm việc nhiều hơn.
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ, mất nước trong thời tiết nắng nóng có thể gây tụt huyết áp, chóng mặt, thậm chí ngất xỉu. Ở một số người, đặc biệt là người có bệnh nền, huyết áp cũng có thể dao động theo hướng tăng.
Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA), huyết áp được phân loại như sau:
Ngay từ mức 130/80 mmHg, nguy cơ tim mạch đã bắt đầu tăng. Đặc biệt, huyết áp từ 180/120 mmHg trở lên được xem là tình trạng cấp cứu. Mức huyết áp này có thể gây tổn thương nhanh đến các cơ quan như não, tim, thận và mắt nếu không được xử trí kịp thời, theo Mayo Clinic (Mỹ).
Tiến sĩ Nieca Goldberg, bác sĩ tim mạch tại NYU Langone Health (Mỹ), cho biết thời tiết nóng có thể làm rối loạn điều hòa huyết áp, đặc biệt ở những người đang dùng thuốc điều trị.
Một số thuốc như thuốc lợi tiểu có thể làm cơ thể mất nước, khiến huyết áp biến động mạnh hơn trong điều kiện nắng nóng.
Trong thời tiết nóng, người có vấn đề về huyết áp cần chú ý:
Nếu xuất hiện các dấu hiệu này, cần nghỉ ngơi, bổ sung nước và tìm kiếm hỗ trợ y tế khi cần.
Các chuyên gia khuyến nghị:
Nắng nóng có thể khiến huyết áp dao động theo nhiều hướng, từ tụt huyết áp do mất nước đến tăng nguy cơ biến cố tim mạch. Việc hiểu rõ các ngưỡng huyết áp nguy hiểm và chủ động bảo vệ sức khỏe là điều cần thiết, đặc biệt trong thời tiết nắng nóng khắc nghiệt.
Chàng trai 20 năm đi tìm tên bệnh lạ

Từ năm ba tuổi, anh có biểu hiện vàng da, được chẩn đoán viêm gan do nhiễm Cytomegalovirus (CMV) - loại virus thuộc họ Herpes, có khả năng lây nhiễm ở mọi lứa tuổi qua dịch cơ thể như nước bọt, nước tiểu, máu, sữa mẹ. Dù tuân thủ điều trị, tình trạng vàng da chỉ thuyên giảm tạm thời rồi tái diễn. Suốt 12 năm tuổi thơ, anh phải điều trị liên tục cả nội lẫn ngoại trú tại bệnh viện nhi.
Sang tuổi trưởng thành, chàng trai tiếp tục đến nhiều bệnh viện đầu ngành có chuyên khoa gan mật tại TP HCM, nhận chẩn đoán "viêm gan tắc mật chưa rõ nguyên nhân". Từ năm 2020, anh liên tục nhập viện vì vàng da, suy gan cấp và thiếu máu nặng đến mức phải truyền máu nhiều lần.
Ngày 8/4, TS.BS Lê Hữu Phước, Phó Khoa Viêm gan, Bệnh viện Chợ Rẫy, cho biết hồ sơ ghi nhận khi điều trị tại bệnh viện nhi, các chuyên gia đã nghi ngờ khả năng bệnh nhân mắc Wilson - căn bệnh di truyền hiếm gặp về rối loạn chuyển hóa đồng. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, tất cả kết quả cận lâm sàng như phân tích gene, xét nghiệm máu đều không đáp ứng đủ tiêu chuẩn chẩn đoán. Rào cản lớn nhất là bệnh nhân không có đột biến gen ATP7B - "tiêu chuẩn vàng" để xác định bệnh, mọi hướng điều trị sau đó rẽ sang ngả khác.
Bước ngoặt đến vào tháng 5/2023, quá trình điều trị tại Khoa Viêm gan, các bác sĩ đặc biệt chú ý đến chi tiết bệnh nhân từng có một người anh và một người chị ruột qua đời năm 6 tuổi và 8 tuổi vì chứng vàng da kéo dài. Dựa trên y văn thế giới ghi nhận vẫn có dưới 1% bệnh nhân Wilson không mang đột biến gene ATP7B, cộng với yếu tố tiền sử gia đình, các bác sĩ mạnh dạn đưa ra nghi ngờ bệnh Wilson thể hiếm và quyết định điều trị thử.
Quá trình theo dõi hai năm cho thấy các bất thường như vàng da hay thiếu máu đều cải thiện rõ. Tái khám ngày 7/4, sức khỏe bệnh nhân đã ổn định, trở lại sinh hoạt bình thường. Vì Wilson là một bệnh lý di truyền nên bệnh nhân vẫn tiếp tục được theo dõi, kiểm soát các triệu chứng và điều trị suốt đời.
BS.CK2 Phạm Thanh Việt, Phó giám đốc phụ trách quản lý điều hành Bệnh viện Chợ Rẫy, nhận định sự kiên trì không nản lòng trước ca khó, liên tục đặt lại vấn đề để xâu chuỗi thông tin toàn diện đã giúp tìm ra "lời giải" cho căn bệnh ẩn nấp suốt nhiều năm. Đây là ca thứ 2 mắc Wilson thể hiếm (không phát hiện đột biến gene ATP7B) được Khoa Viêm gan điều trị thành công, trong tổng số hơn 500 bệnh nhân Wilson mà đơn vị tiếp nhận tron 10 năm qua.
Wilson (phát hiện năm 1912) là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, do đột biến gene ATP7B gây ra rối loạn chuyển hóa đồng. Nếu cả cha và mẹ mang gene bệnh, tỷ lệ con sinh ra mắc bệnh là 25%. Đây là căn bệnh hiếm và khó chẩn đoán, nhưng nếu được phát hiện kịp thời, quá trình điều trị sẽ nhẹ nhàng, ít tốn kém. Ngược lại, nếu bỏ sót, hầu hết bệnh nhân sẽ tử vong ở tuổi đời rất trẻ.
Người dân, đặc biệt là người trẻ tuổi, cần đi khám ngay nếu cơ thể xuất hiện các dấu hiệu bất thường như tăng men gan kéo dài, vàng da không rõ nguyên nhân, thiếu máu hoặc các triệu chứng thần kinh, tâm thần không rõ nguyên nhân.
Lê Phương
Tin Gốc: https://vnexpress.net/chang-trai-20-nam-di-tim-ten-benh-la-5060186.html
Chi 100 triệu làm đầy vùng hông, người phụ nữ bị biến dạng ‘vòng 3’

Chị N. chia sẻ cách đây 3 năm đã tiêm chất làm đầy vào hai bên hông tại một cơ sở thẩm mỹ của người quen. Theo lời tư vấn, đây là loại filler "cao cấp từ Thụy Sĩ", có thể duy trì 7-8 năm, không cần tiêm giặm nhiều lần như các loại thông thường.
"Thấy nhiều người tiêm đẹp, không sao nên tôi cũng làm để hai bên hông nở ra, tạo cảm giác eo nhỏ hơn", chị N. kể lại. Sau đó chị quyết định tiêm mỗi bên khoảng 100cc, tổng chi phí gần 100 triệu đồng.
Thế nhưng chỉ vài ngày sau tiêm, chị thấy đau nhức, uống thuốc giảm đau không đỡ, vùng da ở mông từ đỏ nhạt xong đỏ đậm lên. Chị quyết định đến Bệnh viện Bỏng quốc gia khám và được chẩn đoán bị viêm.
Tuy nhiên, khi đó vì sợ ảnh hưởng đến thẩm mỹ nên chị không hút hết chất làm đầy ra như bác sĩ tư vấn mà chỉ xử lý các điểm bị viêm. Một phần vì thấy nhiều bạn của mình cũng tiêm chất làm đầy tại spa đó mà không gặp vấn đề gì nên nghĩ rằng sẽ không gặp biến chứng thêm.
Ba năm sau, vùng hông của chị N. bất ngờ sưng đau trở lại, xuất hiện tụ dịch và viêm lan rộng. Lúc này chị quay lại Bệnh viện Bỏng quốc gia khi tình trạng đã biến chứng nặng.
Tại bệnh viện, qua thăm khám, xét nghiệm, chụp MRI và siêu âm, bác sĩ phát hiện hai bên đùi, hông xuất hiện nhiều ổ áp xe, viêm đỏ lan rộng, dịch mủ chảy liên tục.
TS.BS Tống Hải, Phó giám đốc Trung tâm Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và Tái tạo, Bệnh viện Bỏng quốc gia (Hà Nội) - trực tiếp điều trị cho chị N., cho biết bệnh nhân nhập viện với biểu hiện đau, toàn bộ vùng đùi hai bên bị viêm, áp xe tụ dịch, sưng đỏ.
Tình trạng bệnh nhân khi nhập viện đã rất nặng, nguy cơ nhiễm khuẩn huyết. "Chúng tôi đã tiến hành loại bỏ số filler được tiêm vào, đặt ống dẫn lưu thoát dịch, sử dụng kháng sinh phổ rộng, phác đồ kháng sinh mạnh nhất", bác sĩ Hải cho hay.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, TS.BS Tống Hải cho biết thêm bệnh nhân phải trải qua 5 lần phẫu thuật để nạo vét, dẫn lưu các ổ áp xe và loại bỏ tối đa chất làm đầy.
"Các loại filler được tiêm trước đó không đồng nhất, có loại tan nhanh, có loại tồn tại lâu như ‘mỡ nhân tạo’, khiến việc xử lý rất khó khăn. Khi viêm nhiễm xảy ra, nguy cơ lan rộng và nhiễm khuẩn huyết rất cao", bác sĩ nói.
Sau hơn ba tuần điều trị tích cực, tình trạng toàn thân dần cải thiện, dịch giảm, vết thương sạch hơn. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn cần theo dõi và chăm sóc kéo dài để tránh tái phát.
Theo bác sĩ Hải, biến chứng nguy hiểm nhất của áp xe do chất làm đầy là nhiễm khuẩn huyết, khi vi khuẩn xâm nhập vào máu, có thể đe dọa tính mạng nếu không điều trị kịp thời.
Ngoài ra, tình trạng viêm lan rộng có thể gây hoại tử da, tạo các ổ loét lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thẩm mỹ và chức năng.
Bác sĩ Hải cho hay biến chứng sau tiêm filler phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có 4 nguyên nhân chính như chất lượng filler không đảm bảo, sử dụng sản phẩm không rõ nguồn gốc, chưa được cấp phép.
Điều kiện vô khuẩn không đảm bảo như tiêm tại cơ sở không đảm bảo vô trùng, người thực hiện không có chuyên môn y tế, đưa vi khuẩn vào cơ thể. Biến chứng có thể do tác động bên ngoài như va chạm mạnh vào vùng đã tiêm.
Ngoài ra, một số người khi sức đề kháng suy giảm, cơ thể yếu, vi khuẩn có thể bùng phát tại vùng tiêm, gây viêm và hình thành áp xe.
"Filler chỉ phù hợp với các vùng nhỏ như mũi, cằm, má, môi… Không nên sử dụng để làm đầy các vùng có diện tích lớn như ngực, mông hay hông do nguy cơ biến chứng cao", bác sĩ Hải khuyến cáo.
Bên cạnh đó, khi sử dụng các dịch vụ thẩm mỹ cần lựa chọn cơ sở y tế được cấp phép, thực hiện bởi bác sĩ có chuyên môn về phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ. Đồng thời, cần biết rõ loại chất làm đầy được sử dụng, ưu tiên các sản phẩm có thể kiểm soát và xử lý khi xảy ra biến chứng.
Khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường như đau, sưng, đỏ, tụ dịch sau tiêm, cần đến ngay cơ sở y tế uy tín để được xử trí kịp thời, tránh nguy cơ hoại tử, nhiễm trùng máu, thậm chí tử vong.




