Quy định số 19-QĐ/TW quy định mục đích, yêu cầu, nguyên tắc; nội dung, phương thức; trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên; chế độ kiểm tra, giám sát, khen thưởng và xử lý vi phạm trong công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Quy định này áp dụng đối với các tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên trong Đảng.
Quy định số 19-QĐ/TW nêu rõ mục đích nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực công tác, khả năng xử lý hiệu quả các biến động, tình huống thực tiễn phức tạp; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng; kiên định nền tảng tư tưởng và các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng.
Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; giữ vững định hướng chính trị, tư tưởng trong mọi hoạt động của tổ chức Đảng và của cán bộ, đảng viên.
Đồng thời, nhằm tăng cường xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, để Đảng ta thực sự đạo đức và văn minh, nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện và sức chiến đấu của Đảng trong lãnh đạo, cầm quyền và hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng.
Giữ gìn uy tín, tính tiên phong, gương mẫu, sự trong sạch, đoàn kết, thống nhất trong Đảng.
Củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo động lực, sự đồng thuận, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Xây dựng môi trường chính trị, tư tưởng trong sáng, lành mạnh trong Đảng, hệ thống chính trị và xã hội; bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, xây dựng văn hóa trong Đảng; củng cố sức mạnh nội sinh và uy tín của Đảng; phát huy dân chủ gắn với trách nhiệm cá nhân trong Đảng; đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Về yêu cầu, công tác chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng; phải giữ vững nguyên tắc và không ngừng đổi mới, sáng tạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm vai trò đi trước, mở đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn; tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội và niềm tin của nhân dân nhằm hiện thực hoá khát vọng phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân.
Công tác chính trị phải tạo động lực cho sự đổi mới tư duy chiến lược, nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, đường lối phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; mọi quyết sách và hành động phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân.
Cùng đó, tiến hành thường xuyên, liên tục, khẩn trương, nghiêm túc, thực chất, đúng tiến độ, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại, chuyển đổi số trong công tác chính trị, tư tưởng.
Quy định nêu 4 nguyên tắc trong công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Công tác chính trị, tư tưởng phải lấy mục tiêu kiên trì, bảo vệ và phát huy “4 kiên định” làm định hướng hành động; mọi hoạt động của tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên phải nhất quán tuyệt đối về chính trị, tư tưởng. Quán triệt quan điểm chính trị, tư tưởng và văn hóa tạo ra nội lực tinh thần để Đảng lãnh đạo dân tộc đi xa và đi vững trong kỷ nguyên mới.
Chấp hành nghiêm túc, đầy đủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư; vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và trách nhiệm nêu gương của cấp ủy các cấp, nhất là bí thư cấp uỷ. Thực hành và phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phát ngôn và hành động trong Đảng.
Chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, đánh giá, định hướng dư luận xã hội và dự báo sát diễn biến tình hình quốc tế và trong nước để kịp thời định hướng chính trị, tư tưởng trong Đảng, trong xã hội, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, không để bị động, bất ngờ.
Công tác chính trị, tư tưởng phải gắn chặt, liên thông với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, kiểm tra, giám sát, dân vận và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ chính trị; bảo đảm rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ chế tài, có tiêu chí cụ thể để lượng hoá, kiểm tra, giám sát; lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo cao nhất. Cấp ủy, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu chịu trách nhiệm cao nhất trong đánh giá về chính trị, tư tưởng của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên thuộc quyền quản lý theo phân cấp.
Theo quy định, công tác chính trị gồm các nội dung: Giữ vững bản chất cách mạng, đồng thời vận dụng linh hoạt, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và sự phát triển của thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển nhanh, bền vững đất nước; bảo đảm thống nhất về ý chí, hành động, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng.
Giữ vững định hướng chính trị, kiên định lập trường tư tưởng trong mọi hoạt động; bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Trung ương, cấp ủy các cấp; thực hiện nghiêm túc, kịp thời, hiệu quả chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư.
Gắn công tác chính trị với công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, kiểm tra, giám sát và dân vận, đẩy mạnh công tác định hướng dư luận xã hội; tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội.
Về nội dung công tác tư tưởng, quy định nhấn mạnh việc thống nhất nhận thức và hành động về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về tầm nhìn và mục tiêu chiến lược trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Xây dựng văn hoá Đảng, thiết lập chuẩn mực đạo đức cách mạng, sự tiên phong, gương mẫu, liêm chính, kỷ luật của cán bộ, đảng viên; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy giá trị văn hoá Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại để củng cố, xây dựng, hoàn thiện, thực hiện văn hoá lãnh đạo, văn hoá công vụ; bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu đồng bào; khơi dậy tinh thần tự chủ chiến lược, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Cùng đó, đổi mới phương thức công tác tư tưởng theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, xây dựng cơ sở dữ liệu số; nâng cao năng lực truyền thông chính trị hiện đại, chủ động nắm, phân tích, dự báo diễn biến tư tưởng, tâm trạng xã hội; kịp thời định hướng dư luận xã hội, nhất là trong các vấn đề phức tạp, nhạy cảm.
Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng; giữ vững sự thống nhất ý chí và hành động; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Phát biểu tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho hay, sau thành công của Đại hội XIV của Đảng, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 và đợt 1 kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, có thể nói đường lối, hướng đi đã rõ ràng, mạch lạc; cơ cấu, tổ chức, đặc biệt về nhân sự của bộ máy trong toàn hệ thống chính trị đã cơ bản hoàn chỉnh. Nhiệm vụ hiện nay là "làm và làm đúng, làm quyết liệt, hiệu quả".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh 5 vấn đề trọng tâm, xuyên suốt. Trước hết, phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng các quy định của Đảng là thể chế bản lề, bảo đảm Đảng vận hành như một khối thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị.
Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng, hiểu sâu và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, coi đó là trách nhiệm chính trị trực tiếp của mình. Nếu nhận thức không đầy đủ, thực hiện không nghiêm, thì rất dễ dẫn đến tình trạng tùy tiện trong vận dụng, lỏng lẻo trong kỷ luật, thiếu thống nhất trong hành động.
"Không được phép hiểu khác, làm khác, càng không được vận dụng theo hướng thuận lợi cho riêng mình", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói, đồng thời lưu ý việc kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm vi phạm, khuyến khích, biểu dương cách làm hay, sáng tạo theo quy định.
Nội dung tiếp theo là đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, không ít nơi, không ít cấp vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ yếu dựa vào cái sẵn có, lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ cột chính. Đây là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn và tĩnh, thiên về phân chia hơn là tạo lập.
"Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai Nhà nước", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Thực tiễn trên đòi hỏi phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo, dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực. Vốn nhà nước cần được định vị là vốn mồi, vốn kiến tạo nhằm định hình không gian phát triển, giảm thiểu rủi ro ban đầu. Vốn doanh nghiệp (DN), bao gồm khu vực tư nhân và FDI, cần được định hướng vào các ngành sản xuất giá trị gia tăng cao, các dự án đổi mới sáng tạo và các chuỗi giá trị tri thức. Nguồn vốn vay nước ngoài phải được sử dụng theo nguyên tắc chọn lọc chiến lược, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao.
Đặc biệt, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, phải coi trọng việc khơi thông vốn của nhân dân, xem đây là đột phá chiến lược trong giai đoạn mới.
Song song với nguồn lực, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu kiên quyết khắc phục tư duy cục bộ địa giới hành chính, cục bộ ngành, cục bộ nhiệm kỳ trong quy hoạch phát triển. Quy hoạch phát triển tổng thể phải thể hiện được tư duy tích hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Mỗi quy hoạch phát triển địa phương, quy hoạch ngành phải được nhìn trong cấu trúc tổng thể, gắn với liên kết vùng, gắn với tầm nhìn "hướng Đông - tỏa Tây", "trục Bắc - Nam liền dải".
Trong quy hoạch tổng thể phải đặc biệt chú trọng hơn nữa quy hoạch năng lượng. "Không có năng lượng đủ, ổn định, bền vững, giá phù hợp và phân bổ hợp lý thì không thể có công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công, không thể có tăng trưởng cao kéo dài, không thể có những không gian phát triển mới", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng yêu cầu dứt khoát chấm dứt tình trạng đầu tư theo phong trào, theo mong muốn chủ quan, theo cơ chế xin - cho, theo nhiệm kỳ, theo hình thức bề ngoài. Mọi dự án phải chú trọng yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, chuẩn chất lượng quốc gia, yêu cầu đồng bộ, hiện đại, vận hành được lâu dài, phục vụ được mục tiêu phát triển thực sự.
Vẫn theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào của nó khỏe mạnh. Tăng trưởng thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và cả từ dưới lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từ từng hộ gia đình, từng hộ kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng DN.
Do đó, phải kiến tạo môi trường phát triển để hàng triệu người dân nhận thấy cơ hội; để mỗi hộ gia đình, hộ kinh doanh có điều kiện thuận lợi đầu tư, mở rộng sản xuất, gắn bó lâu dài với nền kinh tế; để DN nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững.
Vấn đề cuối cùng là tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh một nguyên lý xuyên suốt: T.Ư mạnh về định hướng chiến lược, thể chế và giám sát; địa phương mạnh về tổ chức thực hiện, trong đó cấp xã đóng vai trò then chốt quyết định chất lượng vận hành của toàn hệ thống.
Để hiện thực hóa tư duy này, cần xây dựng cấp xã mạnh về năng lực ra quyết định mạnh về huy động nguồn lực và mạnh về giám sát và phản hồi.
Tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân có ông Lưu Hải Tinh, Ủy viên T.Ư Đảng, Trưởng ban Liên lạc Đối ngoại T.Ư Đảng Cộng sản Trung Quốc; ông Trần Châu, Phó trưởng ban Liên lạc Đối ngoại T.Ư Đảng Cộng sản Trung Quốc, và Đại sứ Trung Quốc tại VN Hà Vĩ cùng phu nhân.
Tại nhà ga, tiễn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao VN có ông Ân Dũng, Ủy viên T.Ư Đảng, Thị trưởng Bắc Kinh, và đông đảo cán bộ, nhân viên Đại sứ quán VN tại Trung Quốc.
Ngay trên tàu, lãnh đạo doanh nghiệp ngành đường sắt Trung Quốc đã báo cáo nhanh với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về sự phát triển của ngành đường sắt nước này. Tính đến đầu năm 2026, hệ thống đường sắt đang vận hành của Trung Quốc đạt tổng chiều dài 165.000 km. Trong đó, đường sắt cao tốc khoảng 54.000 km, dẫn đầu thế giới và chiếm hơn 70% tổng chiều dài đường sắt cao tốc toàn cầu.
Từ khi ban hành "Quy hoạch mạng lưới đường sắt trung và dài hạn" (năm 2004), chỉ sau 2 thập niên, Trung Quốc đã nhanh chóng xây dựng nên mạng lưới đường sắt kết nối rộng khắp các khu đô thị lớn và hiện đại hàng đầu thế giới, với tỷ lệ kết nối đến các thành phố có 200.000 dân cư trở lên đạt 99%; hơn 130 địa phương cấp huyện trên toàn quốc đã có đường sắt. Tổng chiều dài đường sắt vận hành của Trung Quốc đã tăng từ 68.700 km trong năm 2000 lên 165.000 km hiện nay, tương đương khoảng 2,4 lần.
Về lộ trình xây dựng, phát triển đường sắt từ nay đến năm 2035, cụ thể đến hết năm 2035, Trung Quốc hình thành mạng lưới giao thông hiện đại, chất lượng cao, với tổng chiều dài khoảng 700.000 km. Trong đó, đường sắt đạt tổng chiều dài 200.000 km, đóng vai trò chủ đạo trong tổng thể hệ thống giao thông, qua đó kết nối toàn bộ các đơn vị hành chính cấp huyện trở lên, cửa khẩu biên giới, các khu vực cơ sở hạ tầng quan trọng.
Bày tỏ ấn tượng về quá trình phát triển mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc không chỉ là hệ thống dài nhất, mà còn được khai thác rộng rãi nhất trên thế giới và trong tương lai gần dự báo sẽ tiếp tục mở rộng mạnh mẽ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong muốn hai nước tiếp tục tăng cường hợp tác kết nối giao thông, bao gồm đường sắt, vì sự phát triển xanh và tăng trưởng quốc gia.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác với Trung Quốc trong lĩnh vực giao thông đường sắt tốc độ cao, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị lãnh đạo ngành đường sắt và các doanh nghiệp Trung Quốc chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ, tham gia cùng VN trong quá trình xây dựng, chuyển giao công nghệ cho các dự án đường sắt quan trọng tại VN.
Mới đây, tại buổi kiểm tra thực tế về tình hình triển khai hợp tác, kết nối đường sắt VN - Trung Quốc tại tỉnh Lạng Sơn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định hợp tác VN - Trung Quốc trong lĩnh vực đường sắt là nhu cầu và là cơ hội. Nếu thực hiện tốt, quản trị đúng, đây sẽ là một trong những không gian hợp tác thiết thực, giúp giảm chi phí logistics, thời gian vận chuyển, thúc đẩy thương mại và phát triển kinh tế biên giới, nâng cao năng lực thông quan, giảm ùn tắc tại cửa khẩu đường bộ, đồng thời kết nối VN với mạng lưới vận tải đường sắt Á - Âu, qua đó đa dạng hóa tuyến vận tải quốc tế, tiếp tục giúp tăng cường liên kết kinh tế vùng, nhất là tại miền Bắc VN; tăng cường kết nối kinh tế khu vực và nâng cao vị thế của VN trong chuỗi cung ứng châu Á.
*Tối cùng ngày, trong chương trình thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc, tại thành phố Nam Ninh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến ông Trần Cương, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây.
Chiều 7.4, với 495/495 đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bầu ông Lê Minh Hưng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, giữ chức Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Trước đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã trình danh sách đề cử để Quốc hội bầu Thủ tướng Chính phủ. Quốc hội tiến hành bầu Thủ tướng Chính phủ bằng hình thức bỏ phiếu kín. Kết quả kiểm phiếu vừa được báo cáo Quốc hội trước khi Quốc hội bấm nút thông qua Nghị quyết bầu Thủ tướng Chính phủ với ông Lê Minh Hưng.
Theo quy định tại Hiến pháp, Thủ tướng Chính phủ sau khi được bầu sẽ thực hiện tuyên thệ trước Quốc hội.
Ông Lê Minh Hưng (56 tuổi), quê H.Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; trình độ thạc sĩ chính sách công. Ông Lê Minh Hưng là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, XIII, XIV; Bí thư T.Ư Đảng khóa XIII, XIV; Đại biểu Quốc hội khóa XV, XVI.
Từ vị trí chuyên viên phòng Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Vụ Quan hệ quốc tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ông Lê Minh Hưng lần lượt nắm giữ nhiều vị trí quan trọng tại Ngân hàng Nhà nước như Phó trưởng phòng rồi Trưởng phòng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Vụ Hợp tác quốc tế; Phó vụ trưởng rồi Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Cán bộ. Tới cuối năm 2011, ông Lê Minh Hưng được bổ nhiệm làm Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tháng 11.2014, ông Lê Minh Hưng được điều động làm Phó chánh Văn phòng Trung ương Đảng. Đến tháng 4.2016, sau khi được bầu vào T.Ư Đảng khóa XII, ông Lê Minh Hưng được bổ nhiệm làm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Sau gần một nhiệm kỳ trên cương vị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tháng 10.2020, ông Lê Minh Hưng được Bộ Chính trị điều động, phân công giữ chức Chánh văn phòng Trung ương Đảng.
Tới tháng 5.2024, tại Hội nghị Trung ương 9 khóa XIII, ông Lê Minh Hưng được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị và được phân công giữ chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương.
Tại Đại hội XIV của Đảng, ông Lê Minh Hưng tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, sau đó tiếp tục được bầu vào Bộ Chính trị khóa XIV. Ông cũng vừa trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.
Theo quy định tại Hiến pháp, Thủ tướng được bầu trong số các đại biểu Quốc hội đương nhiệm. Ứng viên Thủ tướng do Chủ tịch nước đề nghị để Quốc hội bầu.